tiểu luận triết học
đề bài:
Anh (chị) hãy vận dụng những kiến thức đã học trong các chuyên đề lý luận
của triết học Mác Lênin, từ đó vạch ra những bài học phơng pháp luận có thể vận
dụng đợc vào trong quá trình hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn?
Bài làm:
Triết học đã ra đời từ rất sớm, dù ở phơng Đông hay phơng Tây đều coi triết
học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, đi sâu nắm bắt đợc
chân lý, đợc quy luật, đợc bản chất của sự vật.
Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau về triết học.
Trong các quan điểm khác nhau đó vẫn có các điểm chung. Đó là, tất cả các hệ thống
triết học đều là hệ thống tri thức có tính khái quát, xem xét thế giới trong tính chỉnh
thể của nó, tìm ra các quy luật chi phối trong chỉnh thể đó, trong tự nhiên, xã hội và
bản thân con ngời. Khái quát lại, có thể cho rằng: triết học là một hệ thống tri thức lý
luận chung nhất của con ngời về thế giới, về bản thân con ngời và vị trí của con ngời
trong thế giới đó.
Quá trình phát triển lâu dài của triết học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển
và gồm nhiều trờng phái triết học khác nhau. Trong đó, tiến bộ và toàn diện nhất
1
chính là triết học Mác Lênin. Triết học Mác Lênin giải quyết vấn đề mối quan
hệ giữa vật chất với ý thức trên lập trờng duy vật, nghiên cứu những quy luật chung
nhất của tự nhiên xã hội và t duy, từ đó định hớng cho hoạt động nhận thức, hoạt
động thực tiễn của con ngời nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội theo con đờng tiến
bộ. Triết học Mác Lênin đã xây dung nên phơng pháp luận biện chứng duy vật, đó
là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc
xác định phơng pháp cũng nh trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng phơng
pháp hợp lý có hiệu quả tối đa. Phép biện chứng duy vật phản ánh các mối liên hệ,
tố vật chất thành lực lợng vật chất để thực hiện mục đích, đờng lối, chủ trơng của
mình hay không.
Thời kì chiến tranh, chúng ta đã rất thành công trong việc huy động, tổ chức
sức mạnh của mỗi ngời, mỗi vùng và sức mạnh của cả nớc; sức mạnh trong và ngoài
nớc; sức mạnh của quá khứ, hiện tại, tơng lai tạo nên một lực lợng vật chất khổng lồ
của chiến tranh nhân dân, đánh bại những thế lực hơn chúng ta nhiêu lần về tiềm lực
kinh tế và quân sự để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Ngày nay, với
qwuan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng , chúng ta xác định: Động lực
chủ yếu để phát triển đất nớc là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công
nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân,
tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và mọi nguồn lực của các thành phần kinh
tế và của toàn xã hội cũng chính là tạo lực lợng vật chất để thực hiện nhiệm vụ cách
mạng trong giai đoạn mới.
Bài học thứ hai: Phát huy tính năng động chủ quan của con ngời. Phát huy tính
năng động chủ quan là phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và phát
huy vai trò nhân tố con ngời trong việc vật chất hóa những tính chất ấy. Phát huy tính
năng động chủ quan biểu hiện rất đa dạng và phong phú. Phát huy tính năng động
chủ quan là phải tôn trọng tri thức khoa học. Tri thức khoa học là tri thức trân thực về
thế giới, đợc khái quát từ thực tiễn và đợc thực tiễn kiểm nghiệm. Tri thức khoa học
giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của cón ngời vì nó là một trong những
2
động lực phát triển xã hội. Mọi bớc tiến trong lịch sử nhân loại đều gắn liền với
những thành tựu mới của tri thức khoa học. Trí thức khoa học thể hện trong các khoa
học khác nhau phản ánh những lĩnh vực khác nhau của thề giới, song bản thân các
lĩnh vực khác nhau này không tồn tại cô lập, tách rời nhau nên tri thức khoa học phản
ánh chúng cũng không cô lập, tách rời nhau. Việc phân chia thành khoa học tự
nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội, khoa học nhân văn hay khoa học cơ
bản, khoa học ứng dụng, chỉ có tính tơng đối. Vì vậy, tôn trọng trí thức khoa học
xã hội và liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống. ở nớc ta hiện nay, việc khơi
dậy trong nhân dân lòng yêu nớc, ý chí quật cờng, phát huy tài năng của ngời Việt
Nam, quyết tâm đa nớc nhà thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, việc đầu từ có trọng
điểm trong hệ thống giáo dục và nghiên cứu khoa học; việc chủ trơng xã hội hóa giáo
dục để cả nớc trở thành một xã hội học tập, chủ trơng sử dụng tối u những phơng
tiện thông tin đại chúng cũng nh đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền; việc động
viên các nhà khoa học bám sát cơ sở sản xuất, hớng dẫn nhân dân nắm bắt và làm
chủ những tri thức mới về khoa học và công nghệ mà Đảng, Nhà nớc và toàn dân
đang tiến hành là những hoạt động sống động về việc phát huy tính năng động chủ
quan phù hợp với yêu cầu và điều kiện của xã hội hiện đại.
Tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan vừa là những ý nghĩa
phơng pháp luận cơ bản, vừa là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong hoạt động
thực tiễn. Những yêu cầu này khác nhau nhng thống nhất và quan hệ hữu cơ với nhau
nên hoạt động của con ngời chỉ đạt hiệu quả tối u khi thực hiện chúng đồng bộ và
chống lại những quan điểm, những biểu hiện đối lập với chúng.
Bài học thứ ba: Cần phải toàn diện trong nhận thức và thực tiễn. Ton diện
trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là một trong những nguyên tắc phơng pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chứng duy vật. Cơ sở lý luận của
nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Nguyên tắc toàn diện đòi
hỏi, muốn nhận thức đợc bản chất của sự vật, hiện tợng chúng ta phải xem xét sự tồn
tại của nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc tính khác nhau
3
trong tính chỉnh thể của sự vật, hiện tợng khác; tránh xem xét phiến diện một chiều.
Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét, đánh giá từ mặt, từng mối liên hệ và phải
nắm đợc đâu là mối liên hệ chủ yếu, bản chất quy định sự vận động, phát triển của sự
vật, hiện tợng; tránh chủ nghĩa chiết trung, kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ;
tránh sai lầm của thuật ngụy biện, coi cái cơ bản thành cái không cơ bản, không bản
chất thành bản chất hoặc ngợc lại, dẫn đến sự nhận thức sai lệch, xuyên tạc bản chất
sự vật, hiện tợng. Trong nhận thức, nguyên tắc toàn diện là yêu cầu tất yếu của phơng
đều mà có trọng tâm, trọng điểm, phải tìm ra vị trí từng mặt, từng yếu tố, từng mối
liên hệ ấy trong tổng thể của chúng, phải từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ
của sự vật, hiện tợng để khái quát, rút ra mối liên hệ chủ yếu nhất, bản chất nhất,
quan trọng nhất chi phối sự tồn tại và phát triển của chúng.
Nguyên tắc toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện, một chiều; đối lập với
chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện. Chủ nghĩa chiết trung cũng chú ý đến nhiều
mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật, hiện tợng nhng không rút ra đợc bản chất, mối liên
hệ cơ bản của sự vật, hiện tợng, mà xem bình quân, kết hợp vô nguyên tắc các mối
liên hệ khác nhau, tạo thành một mớ hỗn tạp các sự kiện, cuối cùng sẽ lúng tong, mất
phơng hớng và bất lực trớc chúng. Thuật ngụy biện đa cái không cơ bản thành cái cơ
bản, cái không bản chất thành cái bản chất. Cả chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy
biện đều là những biểu hiện của phơng pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự
vật, hiện tợng. Sự khác nhau giữa chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện với phép
biện chứng duy vật nằm ở chỗ, nếu thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung áp dụng
chủ quan tính linh hoạt toàn diện, phổ biến của các khái niệm thì phép biện chứng
duy vật phản ánh sự vận động, phát triển trong tính toàn diện của quá trình vật chất
và sự thống nhất của quá trình đó. Từ đó ta thấy, logíc của quá trình hình thành quan
điểm toàn diện trong nhận thức, xem xét sự vật, hiện tợng sẽ phải trải qua nhiều giai
đoạn, cơ bản là đi từ quan niệm ban đầu về cái toàn thể đến nhận thức mỗi mặt, mối
liên hệ cụ thể của sự vật, hiện tợng rồi đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ
4
của sự vật, hiện tợng đó và cuối cùng đi tới khái quát những tri thức phong phú đó để
rút ra tri thức về bản chất của sự vật, hiện tợng.
Từ quan điểm toàn diện trong nhận thức, chúng ta rút ra cách nhìn đồng bộ
trong hoạt động thực tiễn. Theo đó, muốn cải tạo sự vật, hiện tợng phải áp dụng đồng
bộ một hệ thống các biện pháp, các phơng tiện khác nhau để tác động làm thay đổi
các mặt, các mối liên hệ tơng ứng của sự vật, hiện tợng. Song trong từng bớc, từng
giai đoạn phải nắm đúng khâu trọng tâm, then chốt để tập trung lực lợng giải quyết.
tại và vận động của sự vật, hiện tợng cùng cùng chức năng của nó ngày càng hoàn
thiện hơn. Do vậy, để nhận thức đợc sự tự vận động, phát triển của sự vật, hiện tợng
chúng ta phải thấy đợc sự thống nhất giữa sự biến đổi về lợng với sự biến đổi về chất
trong quá trình phát triển; phải chỉ ra đợc nguồn gốc và động lực bên trong, nghĩa là
tìm ra và biết cách giải quyết mâu thuẫn; phải xác định xu hớng phát triển của sự vật,
hiện tợng do sọ phủ định biện chứng quy định; coi phủ định là tiền đề cho sự ra đời
của sự vật, hiện tợng mới; sự vật, hiện tợng mới ra đời phù hợp với quy luật vận động
và phát triển, bởi vậy phải ủng hộ cải mới, cái tiến bộ.
Nguyên tắc phát triển yêu cầu khi xem xét sự vật, hiện tợng, phải đặt nó trong
trạng thái vận động, biến đổi, chuyển hóa để không chỉ nhận thức sự vật, hiện tợng
trong trạng thái hiện tại, mà còn phải thấy đợc khuynh hớng phát triển của nó trong tơng lai, nghĩa là phải phân tích để làm rõ những biến đổi của sự vật, hiện tợng, khái
quát những hình thức biểu hiện của sự biến đổi đó để tìm ra khuynh hớng biến đổi
chính của nó. Để xem xét sự vật, hiện tợng trong sự vận động và phát triển; để phát
hiện ra các quy luật quy định sự chuyển hóa về chất của nó; để xem xét sự vật, hiện tợng trong giai đoạn phát triển này sang giai đoạn phát triển khác, cần chỉ ra nguồn
gốc, động lực của sự phát triển là mâu thuẫn. Điều quan trọng là phải xem xét sự vật,
hiện tợng trong sự thống nhất giữa các mặt đối lập; phát hiện những khuynh hớng
mâu thuẫn bên trong, vốn có và sự đấu tranh giữa các khuynh hớng ấy. Điều kiện
của một sự nhận thức về tất cả các quá trình của thế giới trong sự tự vận động của
5
chúng, trong sự phát triển tự phát của chúng, trong đời sống sinh động của chúng là
sự nhận thức chúng với tính cách là sự thống nhất của các mặt đối lập.
Cách xem xét sự vật, hiện tợng trong sự thống nhất giữa các mặt đối lập; phát
hiện những khuynh hớng mâu thuẫn bên trong, vốn có và sự đấu tranh giữa những
khuynh hớng ấy có vai trò quan trọng không những trong nhận thức sự vật, hiện tợng
với tính cách là đối tợng nhận thức đang vận động, phát triển, mà còn có vai trò quan
trọng trong việc giải thích toàn bộ sự đa dạng của các thuộc tính khác và đối lập nhau
vốn có trong các trạng thái khác nhau về chất của chúng; có va trò quan trọng để chỉ
ra những chuyển hóa từ trạng thái về chất này sang trang thái về chất khác và sang
cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và độ ngũ trí thức do Đảng ta lãnh đạo; là
kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; phát huy mọi tiềm năng và các
tiềm lực của các thành phần kinh tế. Về ngoại lực, là sức mạnh của thời đại, sức
mạnh đoàn kết quốc tế. Trong đó nội lực quyết định, ngoại lực là quan trọng, gắn kết
với nhau thành sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nớc.
Bài học thứ năm: cần thực hiện nguyên tắc lịch sử cụ thể trong nhận thức và
thực tiễn. Nguyên tắc lịch sử cụ thể trong nhận thức và thực tiễn cũng là một trong
những nguyên tắc phơng pháp luận cơ bản, quan trọng trong hoạt động nhận thức và
hoạt động thực tiễn. Đặc trng cơ bản của nguyên tắc này là xem xét sự hình thành,
tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tợng trong điều kiện, môi trờng cụ thể, hoàn
cảnh lịch sử cụ thể. Điểm xuất phát của nguyên tắc lịch sử cụ thể trong nhận thức
và thực tiễn là sự tồn tại, vận động, phát triển của các sự vật, hiện tợng diễn ra trong
không gian, thời gian cụ thể. Không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể khác
nhau thì các mối liên hệ, hình thức phát triển của sự vật, hiện tợng cũng khác nhau,
bởi vậy không chỉ nghiên cứu chúng trong xuốt quá trình, mà còn nghiên cứu chúng
trong các không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau đó.
Theo triết học Mác-Lênin, lịch sử phản ánh tính biến đổi về mặt lịch sử của thế
giới khách quan trong quá trình lịch sử cụ thể của từng sự phát sinh, phát triển,
chuyển hoá của sự vật, hiện tợng; biểu hiện tính lịch sử - cụ thể của sự phát sinh và
6
các giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tợng. Mỗi sự vật, hiện tợng đều có quá trình
phát sinh, phát triển và diệt vong của mình và quá trình đó thể hiện trong tính cụ thể,
bao gồm mọi sự thay đổi và sự phát triển diễn ra trong những điều kiện, hoàn cảnh
khác nhau, trong không gian và theo thời gian khác nhau. Bởi vậy, nguyên tắc lịch sử
- cụ thể đòi hỏi để nhận thức đầy đủ đợc sự vật, hiện tợng, chúng ta phải xem xét sự
vật, hiện tợng trong quá trình phát sinh, phát triển, chuyển hoá trong các hình thức
biểu hiện, với những bớc quanh co, với những ngẫu nhiên gây tác động lên quá trình
tồn tại của sự vật, hiện tợng trong không gian và thời gian cụ thể; găn với điều kiện,
hiện tợng mới thông qua sự phủ định, chỉ ra đợc rằng, thông qua phủ định của phủ
định, sự vật, hiện tợng mới là sự kế tục sự vật, hiện tợng cũ; là sự bảo tồn sự vật, hiện
tợng cũ trong dạng đã đợc lọc bỏ, cải tạo cho phù hợp với sự vật, hiện tợng mới. Nh
vậy, chỉ khi đã tìm đợc mối liên hệ khách quan tất yếu giữa các trạng thái chất lợng,
tạo nên lịch sử hình thành và phát triển các sự vật, hiện tợng đang nghiên cứu; tạo
nên các quy luật quy định sự tồn tại và chuyển hoá của nó, quy định giai đoạn phát
triển này sang giai đoạn phát triển khác cho tới trạng thái chín muồi và chuyển hoá
thành trạng thái khác hay thành các mặt đối lập của nó, thì mới có thể giải thích các
đặc trng chất lợng và số lợng đặc thù của nó, nhận thức đợc bản chất của nó.
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể còn đòi hỏi phải xem xét các sự vật, hiện tợng
trong các mối liên hệ cụ thể của chúng. Việc xem xét các mặt, các mối liên hệ cụ thể
của sự vật, hiện tợng trong quá trình hình thành và phát triển cũng nh diệt vong của
chúng cho phép nhận thức đúng đắn bản chất các sự vật, hiện tợng và từ đó mới có
định hớng đúng cho hoạt động thực tiễn của con ngời. Đối với việc nghiên cứu quá
trình nhận thức, nguyên tắc lịch sử - cụ thể cũng đòi hỏi phải tính đến sự phục thuộc
của quá trình đó vào sự phát triển của xã hội, trình độ phát triển của sản xuất và
thành tựu khoa học trớc đó.
Sự kiện tuy có vai trò quan trọng đối với nguyên tắc lịch sử cụ thể nói riêng
và các nguyên tắc khác nói chung, nhng nguyên tắc lịch sử cụ thể không kết hợp
các sự kện rêng lẻ, mô tả các sự kiện mà tái hiện sự kiện, chỉ ra mối liên hệ nhân quả
7
giữa các sự kiện với nhau, khám phá quy luật và phân tích ý nghĩa, vai trò của chúng
để tạo nên bức tranh khoa học về quá trình lịch sử.
Nhận thức sự vật, hiện tợng theo nguyên tắc lịch sử cụ thể là cần thấy các
mối liên hệ, sự biến đổi của chúng theo thời gian, cũng nh trong các không gian tồn
tại khác nhau của mỗi mặt, mỗi thuộc tính, đặc trng của sự vật, hiện tợng; tránh
khuynh hớng giáo điều, chung chung, trừu tợng không cụ thể. Mặt khác, cũng cần đề
phòng khunh hớng tuyệt đối hoá tính cụ thể, không thấy sự vật, hiện tợng trong cả
Con ngời luôn luôn tác động tích cực vào thế giới khách quan tự nhiên và xã hội,
cải biến thế giới khách quan và thực tiễn. Trong quá trình đó, sự phát triển nhận thức
của con ngời và sự biến đổi thế giới khách quan là hai mặt thống nhất. Điều đó quy
định sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động sinh tồn của cá nhân và
cộng đồng. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận; lý
luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Thực tiễn phải đợc chỉ đạo bởi lý luận; ngợc lại lý luận phải đợc vận dụng vào thực
tiễn, tiếp tục bổ xung và phát triển trong thực tiễn. Lý luận phải luôn luôn bám sát
thực tiễn, phản ánh đợc yêu cầu của thực tiễn, khái quát đợc những kinh nghiệm của
thực tiễn. Hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận. Hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận
chỉ đạo, khi vận dụng lý luận phải phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể. Lý luận đợc hình thành không chỉ là sự tổng kết thực tiễn mà còn là mục địch cho hoạt động
thực tiễn tiếp theo. Sự phát triển của thực tiễn trong lịch sử luôn đợc lý luận khái
quát. Chín vì lý luận phản ánh thực tiễn dới dạng quy luật mà lý luận có khả năng trở
thành phơng pháp luận cho thực tiễn. Từ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn, ta cần phải khắc phục bệnh kinh nghiệm và giáo điều, bệnh kinh nghiệm và
bệnh giáo điều là những biểu hiện khác nhau của sự vi phạm nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn. Bệnh kinh nghiệm là sự tuyệt đối hoá những kinh nghiệm
thực tiễn trớc đây và áp dụng một cách máy móc vào hiện tại khi điều kiện đã thay
đổi. Để khắc phục bệnh kinh nghiệm có hiệu quả, một mặt phải quán triệt sâu sắc
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tức là bám sát thực tiễn, tăng cờng
học tập nâng cao trình độ lý luận, bổ xung vận dụng lý luận phù hợp thực tiễn. Trái
8
với bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều lại tuyệt đối hoá lý luận, tuyệt đối hoá kiến
thức đã có trong sách vở, coi nhẹ kinh nghiệm thực tiễn, vận dụng lý luận một cách
máy móc, không tính toán đến điều kiện lịch sử cụ thể mỗi nơi mỗi lúc. Để khắc
phục bệnh giáo điều, chúng ta phải quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn. Lý luận phải luôn gắn liền với thực tiễn, phải khái quát từ thực tiễn,
vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, kiểm tra trong thực tiễn và không ngừng phát triển