Tăng cường thu hút FDI Hàn Quốc vào ngành Công nghiệp Phụ trợ Việt Nam - Pdf 34

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn
Bùi Thị Hiền


MỤC LỤC
Trang bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ cái viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI (FDI) VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ
VIỆT NAM
1.1. Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1 Khái niệm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.2 Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.1.2.1Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
1.1.2.2.Doanh nghiệp liên doanh (JVC)
1.1.2.3.Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài


1.1.2.4.Đầu tư theo hợp đông BOT
1.1.3.Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với nước nhận đầu tư

2.2.3. Về cơ cấu vốn đầu tư
2.2.4. Theo hình thức đầu tư
2.2.5. Theo địa phương
2.3.Thực trạng thu hút FDI Hàn Quốc vào ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam giai
đoạn từ 1988-2014
2.3.1 Theo quy mô vốn
2.3.2. Theo hình thức đầu tư
2.3.3. Theo địa phương
2.3.4. Theo ngành
2.4. Đánh giá thực trạng thu hút FDI của Hàn Quốc vào ngành công nghiệp phụ trợ
Việt Nam
2.4.1. Thành tựu
2.4.1.1. Về môi trường đầu tư
2.4.1.2.Về kết quả thu hút
2.4.2. Tồn tại
2.4.3. Nguyên nhân của sự tồn tại


CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THU HÚT FDI CỦA HÀN QUỐC VÀO NGÀNH
CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ VIỆT NAM
3.1. Cơ hội và thách thức trong việc thu hút FDI của Hàn Quốc vào ngành công
nghiệp phụ trợ Việt Nam
3.1.1. Cơ hội
3.1.2 Thách thức
3.2. Định hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành công nghiệp
phụ trợ Việt Nam
3.2.1. Quan điểm thu hút FDI vào ngành Công nghiệp Phụ trợ Việt Nam
3.2.2. Định hướng thu hút FDI vào ngành CNPT Việt Nam
3.3. Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Hàn Quốc vào ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam.


DN

Doanh nghiệp

DNNVV

Doanh nghiệp nhỏ và vừa

ĐTNN

Đầu tư nước ngoài

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

KCN

Khu công nghiệp

KCN&KCX

Khu công nghiệp và khu chế xuất

KHCN

Khoa học công nghệ

VĐK


THU HÚT FDI HÀN QUỐC VÀO CNPT Ở MỘT SỐ ĐỊA
PHƯƠNG
(Giai đoạn 1988-2014)
2.5

BẢNG 2.5 VỐN FDI HÀN QUỐC THU HÚT VÀO MỘT SỐ
NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ
(Giai đoạn 1988-2014)

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình Tên hình
Trang
2.1
CƠ CẤU FDI THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ CỦA HÀN QUỐC
VÀO VIỆT NAM 2014 - TỶ TRỌNG THEO VỐN ĐẦU TƯ
2.2

CƠ CẤU FDI THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ CỦA HÀN QUỐC
VÀO VIỆT NAM NĂM 2011 - TỶ TRỌNG THEO SỐ DỰ ÁN

2.3
2.4
2.5

KIM NGẠCH NHẬP KHẨU CƠ KHÍ QUA CÁC NĂM
NHẬP KHẨU SẢN PHẨM HỖ TRỢ NĂM 2014
KIM NGẠCH NHẬP KHẨU SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP PHỤ
TRỢ NĂM 2013-2014


Á năm 1997 tới nay, Hàn Quốc đã “thay da đổi thịt”, trở thành một nền kinh tế công
nghiệp mới. Hai nước Việt Nam – Hàn Quốc đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao từ
những năm 1992. Từ lâu Chính phủ Việt Nam đã xác định Hàn Quốc là một trong
những đối tác quan trọng. Đầu tư Hàn Quốc vào Việt Nam, đặc biệt là đầu tư trực
tiếp luôn được Chính phủ Việt Nam đánh giá cao và nỗ lực xúc tiến,Các nhà đầu tư
Hàn Quốc rất quan tâm đến thị trường đầy tiềm năng của Việt Nam, đã đầu tư vào
Việt Nam từ năm 1988, ngay sau khi Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam
có hiệu lực. Tính đến hết năm 2014, Hàn Quốc dẫn đầu về vốn FDI vào Việt Nam.
Tuy nhiên vốn FDI chủ yếu đổ vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo, trong khi
đó vốn FDI vào ngành CNPT đã có sự gia tăng, tuy nhiên sự gia tăng này chưa
xứng với tiềm năng phát triển của ngành CNPT.
Nhận thức được tầm quan trọng của FDI Hàn Quốc đối với ngành CNPT Việt
Nam em xin chọn đề tài “ Tăng cường thu hút FDI Hàn Quốc vào ngành Công
nghiệp Phụ trợ Việt Nam”
2. Đối tượng, mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề thu hút FDI Hàn Quốc vào ngành CNPT Việt Nam
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài của Hàn Quốc vào ngành CNPT Việt Nam, luận văn đề xuất
các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc thu hút vốn FDI của Hàn Quốc vào
ngành CNPT Việt Nam trong thời gian tới.


3. Phạm vi nghiên cứu
Thu hút FDI của Hàn Quốc vào ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam từ năm 1992
đến năm 2014.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu, phân
tích số liệu, tổng hợp và so sánh. Từ đó, đưa ra ý kiến nhằm hoàn thiện vấn đề
nghiên cứu.
5. Kết cấu của khóa luận

và xuất phát từ nhiều nguồn vốn khác nhau, một trong số hình thức đầu tư quan
trọng là đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.1.1.1. Khái niệm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) hay còn gọi là
đầu tư quốc tế trực tiếp: Đó là việc nhà đầu tư ( tổ chức hoặc cá nhân) đưa tiền và
các nguồn lực cần thiết từ một quốc gia sang quốc gia khác và chuyển hóa chúng
thành vốn để tổ chức hoạt động kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận tối
đa.
Trong đầu tư quốc tế trực tiếp nhà đầu tư trực tiếp tham gia vào tổ chức điều
hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư. Nói chung, các hoạt động đầu tư này chủ yêu
được diễn ra trong các lĩnh vực kinh doanh của nền kinh tế, bao gồm cả sản xuất,


thương mại và dịch vụ. Đầu tư quốc tế trực tiếp được thực hiện phổ biến giữa mọi
loại quốc gia, với nhiều hình thức thực hiện, trong đó hình thức thực hiện thông qua
các dự án FDI là phổ biến hơn cả.
1.1.1.2. Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài
• Nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc tự mình quản lý, điều hành đối
tượng bỏ vốn. Đặc điểm này giúp phân biệt FDI và FII (Đầu tư gián tiếp
nước ngoài), cụ thể là: Đối với FII thì nhà đầu tư không trực tiếp tham gia
quản lý doanh nghiệp, mà chỉ góp vốn theo một tỷ lệ nhất định theo quy định
của pháp luật.
• Các bên tham gia dự án FDI có quốc tịch khác nhau, văn hóa khác nhau,
đồng thời sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Do đó, trong các doanh nghiệp
FDI thường xảy ra các mâu thuẫn, xung đột do những mâu thuẫn nói trên
giữa các nhà đầu tư, lao động nước ngoài với nhà đầu tư và lao động nước sở
tại.
• Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu sự chi phối của đồng thời nhiều
hệ thống pháp luật, bao gồm luật pháp của các quốc gia xuất thân của các
Bên và luật pháp quốc tế. Quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế

hiện phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên.
Đặc điểm là các bên ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, trong quá trình
kinh doanh có thể thành lập ban điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp
đồng hợp tác kinh doanh, phân chia kết quả kinh doanh. Hình thức hợp doanh
không phân phối lợi nhuận và chia sẽ rủi ro mà phân chia kết quả kinh doanh theo
tỷ lệ góp vốn hoặc theo thỏa thuận giữa các bên.


Các bên hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nước sở tại một cách
riêng rẽ. Pháp lý hợp doanh là một thực thể kinh doanh hoạt động theo luật pháp
nước sở tại chịu sự điều chỉnh của nước sở tại, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên
hợp tác được ghi trong hợp đồng hợp tác kinh doanh.
1.1.2.2. Doanh nghiệp liên doanh (JVC)
Doanh nghiệp liên doanh là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư
trực tiếp nước ngoài trên thế giới từ trước đến nay. Nó là công cụ để thâm nhập vào
thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hợp đồng hợp
tác.
Khái niệm liên doanh là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất quốc
tế, hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý, hệ thống tài
chính, luật pháp và bản sắc văn hóa; hoạt động trên cơ sở sự đóng góp của các bên
về vốn, quản lý lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro có
thể xảy ra; hoạt động của liên doanh rất rộng, gồm cả hoạt động sản xuất kinh
doanh, cung ứng dịch vụ, hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai.
1.1.2.3. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài nhưng ít phổ biến hơn hình thức liên doanh trong hoạt động
đầu tư quốc tế.
Khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh có
tư cách pháp nhân, được thành lập trên các mục đích của chủ đầu tư và nước sở tại.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành quản lý của

áp dụng cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, được hưởng các ưu đãi đầu tư cao
hơn so với các hình thức đầu tư khác và điểm đặc biệt là khi hết hạn hợp đồng, phải
chuyển giao không bồi hoàn công trình cơ sở hạ tầng đã được xây dựng và khai thác
cho nước sở tại.
1.1.3. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với nước nhận đầu

Nước nhận đầu tư có thể là nước phát triển hoặc các nước đang phát triển, trong
phạm vi nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp này, em chỉ đề cập tới vai trò của FDI tới
nước nhận đầu tư là nước đang phát triển.
Thư nhất, FDI giúp bổ sung nguồn vốn trong nước:
Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi
một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn
trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn
FDI. Nguồn vốn FDI giải quyết trình trạng thiếu vốn cho nước nhận đầu tư. Việc
thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể giải quyết khả năng tích lũy
vốn thấp và bù đắp các khoản thiếu hụt ngoại tệ trong cán cân thanh toán.
Thứ hai, FDI giúp nước nhận đầu tư tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản
lý kinh doanh:
FDI có ưu điểm hơn các hình thức huy động vốn nước ngoài khác, phù hợp
với các nước đang phát triển. Các doanh nghiệp nước ngoài sẽ xây dựng các dây
chuyền sản xuất tại nước sở tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Thu hút FDI từ các
công ty này sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh
doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những
khoản chi phí lớn. Điều này sẽ cho phép các nước đang phát triển tiếp cận công


nghệ tiên tiến, kỹ năng quản lý hiện đại. Tuy nhiên, việc có tiếp cận được các công
nghệ hiện đại hay chỉ là các công nghệ thải loại của các nước phát triển lại tùy
thuộc vào nước tiếp nhận đầu tư trong việc chủ động hoàn thiện môi trường đầu tư
hay không.

vực kinh tế - xã hội ở các địa phương hay trên cả nước. Hoạt động thu hút FDI khá
đa dạng và phức tạp, yêu cầu nỗ lực chung của nhà nước sở tại và các ngành liên
quan, đặc biệt là sự nỗ lực từ các ngành công nghiệp. Trong những nỗ lực nhằm thu
hút FDI, nhà nước đóng vai trò đưa ra những chính sách, quy định về đầu tư trực
tiếp nước ngoài, bao gồm rào cản và các biện pháp kích thích đầu tư. Vì thế, nhà
nước cần có những chính sách đúng đắn để thu hút FDI một cách hiệu quả, hợp lý,
tránh trình trạng thu hút tràn lan gây ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh tế xã hội
trong nước.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút FDI
• Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Khi quyết định đầu tư vào một quốc gia nào đó thì vị trí địa lý là một trong
những yếu tố quan trọng. Một nước có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu vận
chuyển… mới có thể trở thành bàn đạp để những nước đi đầu thực hiện mục đích
của mình. Vì vậy nó có ý nghĩa như một lợi thế so sánh nhằm thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài. Cũng như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của nước nhận đầu tư
cũng trở thành một lợi thế so sánh nhằm thu hút đầu tư nước ngoài. Điều kiện tự
nhiên có thể là các điều kiện về khoáng sản, đất, rừng, khí hậu hay không gian của


nước nhận đầu tư. Điều kiện tự nhiên không những ảnh hưởng đến các yếu tố đầu
vào mà còn quyết định yếu tố đầu ra.
• Môi trường chính trị - kinh tế - xã hội nước tiếp nhận đầu tư
Sự ổn định chính trị - xã hội có ý nghĩa quyết định đến việc huy động và sử
dụng có hiệu quả vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài. Tình hình chính trị
không ổn định, đặc biệt là thể chế chính trị (đi liền với nó là sự thay đổi luật pháp)
thì mục tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu cũng thay đổi. Hậu quả là lợi ích
của các nhà ĐTNN bị giảm (họ phải gánh chịu một phần hay toàn bộ các thiệt hại
đó) nên lòng tin của các nhà đầu tư bị giảm sút. Mặc khác, khi tình hình chính trị xã hội không ổn định, Nhà nước không đủ khả năng kiểm soát hoạt động của các
nhà ĐTNN, hậu quả là các nhà đầu tư hoạt động theo mục đích riêng, không theo
định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước nhận đầu tư. Do đó hiệu

chính sách tài chính tiền tệ như lãi suất, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các
công cụ thị trường mở đồng thời phải kiểm soát được mức thâm hụt ngân sách hoặc
giữ cho ngân sách cân bằng.
• Hệ thống pháp luật đồng bộ và hoàn thiện, bộ máy quản lý nhà nước có hiệu
quả.
Môi trường pháp luật là bộ phận không thể thiếu đối với hoạt động FDI. Một hệ thống pháp luật đồng
bộ, hoàn thiện và vận hành hữu hiệu là một trong những yếu tố tạo nên môi trường kinh doanh thuận lợi, định
hướng và hỗ trrợ chocác nhà ĐTNN. Vấn đề mà các nhà ĐTNN quan tâm là:
- Môi trường cạnh tranh lành mạnh, quyền sở hữu tài sản tư nhân được pháp luật bảo đảm.
- Quy chế pháp lý của việc phân chia lợi nhuận, quyền hồi hương lợi nhuận đối với các hình thức vận
động cụ thể của vốn nước ngoài.
- Quy định về thuế, giá, thời hạn thuê đất...Bởi yếu tố này tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm và
tỷ suất lợi nhuận. Nếu các quy định pháp lý bảo đảm an toàn về vốn của nhà đầu tư không bị quốc hữu hoá khi
hoạt động đầu tư không phương hại đến an ninh quốc gia, bảo đảm mức lợi nhuận cao và việc di chuyển lợi
nhuận về nước thuận tiện thì khả năng thu hút FDI càng cao.
Do vậy, hệ thống pháp luật phải thể hiện được nội dung cơ bản của nguyên tắc: Tôn trọng độc lập chủ
quyền, bình đẳng, cùng có lợi và theo thông lệ quốc tế. Đồng thời phải thiết lập và hoàn thiện định chế pháp lý
tạo niềm tin cho các nhà ĐTNN.
Bên cạnh hệ thống văn bản pháp luật thì nhân tố quyết định pháp luật có hiệu lực là bộ máy quản lý nhà
nước. Nhà nước phải mạnh với bộ máy quản lý gọn nhẹ, cán bộ quản lý có năng lực, năng động, có phẩm chất
đạo đức. Việc quản lý các dự án FDI phải chặt chẽ theo hướng tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư song không ảnh
hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế và xã hội.

• Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật là cơ sở để thu hút FDI và cũng là nhân tố thúc đẩy hoạt động FDI diễn ra
nhanh chóng, có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đây là mối quan tâm hàng đầu của
các nhà đầu tư trước khi ra quyết định. Quốc gia có hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông, năng
lượng, hệ thống cấp thoát nước, các cơ sở dịch vụ tài chính ngân hàng... tạo điều kiện cho các dự án FDI phát




Tình hình này tác động đến không chỉ các nhà đầu tư đang tìm kiếm đối tác,
mà còn tới cả các dự án đang triển khai. Khi môi trường kinh tế chính trị trong khu
vực và thế giới ổn định, không có sự biến động khủng hoảng thì các nhà dầu tư sẽ
tập trung nguồn lực để đầu tư ra bên ngoài và các nước tiếp nhận đầu tư có thể thu
hút được nhiều vốn FDI. Ngược lại, khi có biến động thì các nguồn đầu vào và đầu
ra của các dự án thường thay đổi, các nhà đầu tư gặp khó khăn rất nhiều về kinh tế
nên ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả FDI. Sự thay đổi về các chính sách của nước
chủ nhà để phù hợp với tình hình thực tế, đòi hỏi các nhà ĐTNN phải có thời gian
tìm hiểu và thích nghi với sự thay đổi đó. Hơn nữa, tình hình của nước đầu tư cũng
bị ảnh hưởng nên họ phải tìm hướng đầu tư mới dẫn đến thay đổi chiến lược ĐTNN
của họ. Chẳng hạn, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á trong thời gian qua
đã làm giảm tốc độ đầu tư FDI vào khu vực này. Hàng loạt các nhà đầu tư rút vốn
hoặc không đầu tư nữa vì sợ rủi ro.

1.2.3.Nhu cầu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với ngành công nghiệp
phụ trợ Việt Nam
Trước khi FDI vào trong nước đã có những công ty sản xuất sản phẩm công
nghiệp hỗ trợ cung cấp cho các công ty lắp ráp, sản xuất sản phẩm chính cho thị
trường nội địa. Khi có FDI, một bộ phận những công ty sản xuất công nghiệp hỗ trợ
sẽ phát triển mạnh hơn nếu được tham gia vào mạng lưới chuyển giao công nghệ
của các doanh nghiệp FDI. Sự liên kết này hình thành do các công ty công nghiệp
hỗ trợ phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá
thành cạnh tranh được với hàng nhập khẩu. Tiềm năng đó sẽ thành hiện thực nhờ
chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI.
Với sự gia tăng của FDI, nhiều doanh nghiệp bản xứ ra đời trong các ngành
công nghiệp hỗ trợ chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI.
Những doanh nghiệp sớm hình thành sự liên kết với doanh nghiệp FDI sẽ được
chuyển giao công nghệ và sẽ phát triển nhanh, từ đó mở rộng thị trường cho ngành
công nghiệp hỗ trợ.

Lan
Ở Thái Lan từ lâu người ta đã nhận ra là cần phải khuyến khích sự phát triển
của CNPT và nhu cầu cấp bách này ngày càng trở nên rõ ràng hơn khi Thái Lan
theo đuổi chiến lược hướng ra xuất khẩu. Thái Lan đã tận dụng lợi thế việc các
công ty Nhật Bản ồ ạt đầu tư sang các nước ASEAN để phát triển CNPT trong
nước. Với chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có chọn lọc, Thái Lan
đã đưa ra nhiều ưu đãi về thuế, thành lập các khu tự do thương mại cho các dự án
đầu tư vào phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm.
Bên cạnh các chính sách ưu đãi cho phát triển CNPT, Thái Lan còn thành lập
các Ủy ban hỗ trợ về vấn đề này và các tổ chức chuyên lo phát triển xây dựng và
hình thành mối liên kết công nghiệp trong và ngoài nước. Ngoài ra Thái Lan còn có
chính sách buộc các nhà đầu tư nước ngoài đã ổn định trong sản xuất kinh doanh
phải thay đổi theo chiến lược để tuân thủ tỷ lệ nội địa hóa. Điều này kéo theo những
dự án đầu tư mở rộng nhà xưởng sản xuất tại chỗ đồng thời kéo theo các công ty,
tập đoàn lớn từ chính nước họ sang đầu tư ở Thái Lan để mở thêm các cơ sở CNPT.
Hiện nay Thái Lan đã đứng đầu các nước ASEAN về phát triển CNPT.
1.3.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia có nền công nghiệp phát triển nhất khu vực Đông Á.
Các tập đoàn lớn của Nhật Bản như: Mitsubishi, Honda, Toshiba,… đang khẳng
định vị thế trên thị trường thế giới. Để có thành quả như ngày hiện nay một phần là
nhờ vào chính phủ Nhật Bản đã đưa ra chiến lược phát triển công nghiệp phù hợp,
đặc biệt là việc quan tâm phát triển ngành CNPT giúp đưa đất nước Nhật Bản từ
chỗ phụ thuộc vào nước ngoài, công nghiệp yếu kém trở thành quốc gia tự chủ về
kinh tế với trình độ công nghệ hiện đại nhất thế giới. Để phục vụ nhà máy lắp ráp,


Nhât Bản có hàng nghìn các doanh nghiệp vệ tinh khác sản xuất các linh kiện phụ
tùng hỗ trợ cho doanh nghiệp đó. Hiện ở Nhật Bản có nhiều tên tuổi tầm cỡ thế giới
nhưng các công ty này chỉ chiếm 1% mà thôi và công việc chủ yếu vẫn là lắp ráp,
sản xuất cuối cùng, còn 90% doanh nghiệp cấp thấp hơn sản xuất các linh kiện cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status