Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành khoá luận em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
của các thầy cô giáo trong Học viện Hành chính, của gia đình và bạn bè.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành, lòng biết ơn vô hạn đến các thầy cô giáo
trong khoa Hành chính học cũng như toàn thể các thầy cô giáo trong Học viện đã
giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt bốn năm học.
Qua đây em cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người luôn ở bên động
viên và chia sẻ với em trong học tập cũng như trong cuộc sống.
Đặc biệt em xin gửi lời tri ân sâu sắc tới cô giáo, ThS. Lương Ban Mai đã tận
tình quan tâm, chỉ dạy và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khoá luận
tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn.
SINH VIÊN
BÙI THỊ HÒA
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................1
MỤC LỤC.................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................................1
b. Chế độ tuyển chọn quan lại.................................................................................23
c. Chế độ bổ dụng....................................................................................................26
d. Chế độ đãi ngộ.....................................................................................................27
2.4. Chính sách quản lý kinh tế - xã hội..................................................................28
2.4.1. Chính sách về kinh tế - tài chính...................................................................28
2.4.2. Chính sách xây dựng quân đội......................................................................29
2.4.3. Chính sách đối ngoại.....................................................................................32
2.5. Một số bộ phận, cơ quan khác..........................................................................32
2.5.1. Các cơ quan giám sát.....................................................................................32
2.5.2. Quá trình cải biến, hoàn thiện hệ thống pháp luật.........................................34
CHƯƠNG III. TỔNG QUAN CHUNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ KHI NGHIÊN
CỨU CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NƯỚC TA DƯỚI
THỜI VUA LÊ – CHÚA TRỊNH...........................................................................36
3.1. Tổng quan đánh giá chung...............................................................................36
3.1.1. Những mặt tích cực đạt được........................................................................37
3.1.2. Những hạn chế, tồn tại...................................................................................43
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
3.1.3. Nguyên nhân của những hạn chế...................................................................49
a. Nguyên nhân lịch sử............................................................................................49
b. Nguyên nhân chính trị (tư tưởng chính danh Nho giáo).....................................49
c. Nguyên nhân xuất phát từ tương quan lực lượng giữa các phe phái phong kiến 50
3.2. Bài học lịch sử..................................................................................................51
3.2.1. Phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng, cơ chế phối hợp linh
hoạt, khoa học trong thực thi công việc..................................................................51
3.2.2. Chức vụ và trách nhiệm nghiêm minh, quyền lợi và nghĩa vụ tương xứng. .52
nước Việt Nam.
Mặc dù nằm trong một thời kỳ phát triển của kiểu nhà nước phong kiến,
nhưng cơ chế hoạt động của nhà nước thời kỳ vua Lê - chúa Trịnh với những đặc
điểm riêng có của mình, cho đến ngày nay, cũng để lại nhiều bài học lịch sử đáng
phải suy ngẫm.
Trong tiến trình chung của công cuộc cải cách hành chính cũng như vấn đề
xây dựng một bộ máy hành chính nhà nước nói chung sao cho đạt hiệu quả, hiệu
lực luôn luôn cần sự nỗ lực của nhiều ban ngành, sự phối hợp của nhiều kế sách và
phương pháp hữu hiệu. Đồng thời, cũng như những bộ phận khác trong ngành khoa
học xã hội, hành chính luôn mang tính kế thừa rõ nét. Do vậy, vấn đề nghiên cứu,
tìm tòi và đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ máy hành
chính nhà nước trong các tiến trình khác nhau của lịch sử dân tộc trở thành một yêu
cầu hết sức cần thiết và thiết thực. Điều này còn có ý nghĩa quan trọng trong việc
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
1
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
tránh được phần nào những sai sót, hạn chế đã từng mắc phải trong quá trình tổ
chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước trong lịch sử nước ta, đồng
thời tận dụng thêm nhiều mặt tích cực như là nền tảng để phát triển nền hành chính
nhà nước theo hướng hợp lý và hiệu quả.
Xuất phát từ lý do trên, em xin chọn đề tài: “Phân tích và đánh giá cơ cấu
tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính ở nước ta dưới thời vua Lê –
chúa Trịnh (1599 – 1786)” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình với hy
vọng giới thiệu một số nét cơ bản về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước của một
trong những mốc lịch sử quan trọng trong thời kỳ lịch sử phong kiến ở nước ta và
phần nào đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho công cuộc cải cách hành
luận bao gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát về bối cảnh lịch sử thời vua Lê – chúa Trịnh. Đôi nét về
các triều vua – những dòng chúa và giới thiệu một số vị vua – chúa tiêu biểu.
Chương II: Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính ở
nước ta dưới thời vua Lê – chúa Trịnh.
Chương III: Tổng quan về cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy
hành chính ở nước ta dưới thời vua Lê – chúa Trịnh. Những bài học lịch sử và một
số ý kiến nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính
nhà nước ở nước ta hiện nay.
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
3
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ THỜI KỲ VUA LÊ – CHÚA TRỊNH
1.1. Khái quát về bối cảnh lịch sử thời vua Lê – chúa Trịnh và sự xuất hiện của
thiết chế “lưỡng đầu”
Quốc gia Đại Việt đã trải qua hơn 500 năm thống nhất, với một nhà nước
phong kiến trung ương tập quyền ngày càng được củng cố. Nhưng đến đầu thế kỷ
XVI, các Hoàng đế Lê Sơ mất dần thực quyền, bắt đầu phải nhờ cậy đến các thế lực
võ quan để duy trì và phục hồi địa vị, quyền lợi thống trị của mình. Hậu quả là
không lâu sau đó, võ tướng Mạc Đăng Dung đã lật đổ nhà Lê, lập ra triều Mạc
(1527).
Sau khi nhà Lê bị họ Mạc cướp ngôi, phất ngọn cờ “phù Lê diệt Mạc”, một
võ tướng khác là Hữu vệ Điện tiền tướng quân, tước An Thành hầu Nguyễn Kim
đứng ra tập hợp lực lượng ở Sầm Châu (Ai Lao), dựng Lê Duy Ninh lên ngôi
Hoàng Đế (1533). Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Kim, đội quân phù Lê đã tiến đánh
áp dụng một định chế mà ở đó ngôi vị của vua Lê vẫn được bảo tồn, đồng thời họ
Trịnh vẫn duy trì được địa vị thống trị của mình và đảm bảo thực thi quyền lực. Cơ
chế liên kết này phải luôn đảm bảo tính ổn định, bền vững để không thể bị phá vỡ
dẫn đến tình trạng phong kiến phân quyền. Đó là cơ sở thiết lập nên một thiết chế
hết sức đặc biệt trong lịch sử phong kiến Việt Nam – thiết chế “lưỡng đầu” vua Lê
- chúa Trịnh.
1.2. Đôi nét về các triều vua – chúa và một số vị vua – chúa tiêu biểu
- Triều Lê trung hưng của các vua Lê (1533 – 1789) kéo dài 256 năm, trong
đó tồn tại song song với triều Mạc từ 1533 – 1592, có 17 đời vua nối tiếp nhau.
- Các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài (1545 – 1787) và các chúa Nguyễn ở Đàng
Trong.
1.2.1. Trịnh Kiểm (1503 – 1570)
Trịnh Kiểm là người mở đầu sự nghiệp nắm quyền của họ Trịnh. Đương thời
khi cầm quyền ông không xưng là chúa nhưng được đời sau truy tôn là Minh
Khang Thái Vương. Ông là người nắm quyền chỉ huy quân đội trong triều các vua
Lê thời Nam - Bắc triều từ năm 1545 tới khi mất. Thời kỳ này ông không thể hiện
về vai trò quản lý kinh tế hay vai trò người đứng đầu cơ quan hành pháp, do các
vấn đề quân sự khi đó đã lấn át tất cả, nhưng có một số tư liệu cho thấy vai trò quản
lý nhà nước về kinh tế của ông trong việc sai các viên quan đi đo đạc đất đai để thu
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
5
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
thuế hay đắp đê, làm đường. Ngoài ra, Trịnh Kiểm còn là người biết trọng dụng
nhân tài, hội tụ hào kiệt bốn phương.
1.2.2. Trịnh Tùng (1550 – 1623)
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
nhường và giữ đúng lễ nghĩa vua tôi, điều này thể hiện qua vấn đề lễ nghi, triều
phục… Với những việc làm có phần giữ lễ như vậy, ông được người đời rất tin
phục.
Thời kỳ ở ngôi chúa, Trịnh Cương đã cho thi hành nhiều chính sách tích cực
nhằm ổn định nền chính trị - xã hội ở Đàng Ngoài và tiến hành được một số cải
tiến, đổi mới như cải tiến quản lý kinh tế tài chính (đặc biệt là cải cách thuế), cải
tiến bộ máy quản lý hành chính, đổi mới chế độ giáo dục thi cử và nâng cao chất
lượng tuyển chọn nhân tài, tiềm lực quốc phòng được tăng cường và góp phần quan
trọng trong việc giữ gìn lãnh thổ và bảo vệ chủ quyền đất nước. Do vậy, thời Trịnh
Cương nắm quyền thiên hạ được giữ yên, thần dân được chăm lo, đất nước thịnh
vượng.
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
7
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
CHƯƠNG II. CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA BỘ MÁY
HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA DƯỚI THỜI VUA LÊ – CHÚA TRỊNH
2.1. Khái quát chung về vai trò, vị trí, quyền hạn của vua Lê – chúa Trịnh
Chính quyền Lê - Trịnh là “lưỡng đầu” chế điển hình trong lịch sử chế độ
phong kiến Việt Nam, điển hình về độ dài của thời gian tồn tại (suốt hai thế kỷ),
điển hình cả về độ sâu của các yếu tố cấu thành một thể chế “lưỡng đầu”. Đây là
chính quyền của hai dòng họ - hai thế lực phong kiến lớn, vừa phải dựa vào nhau
để trị nước quản dân, vừa mâu thuẫn với nhau về quyền lực và quyền lợi.
- Nhà vua kế thừa sự nghiệp của tổ tông, bước lên ngôi báu để tiếp tục giữ
gìn tông miếu, xã tắc, phát huy đức độ, thừa hưởng và bảo tồn uy phúc của tổ tiên.
cương vị người đứng đầu nền lập pháp, tư pháp và hành pháp quốc gia.
Về lập pháp, vua chỉ có quyền ban hành những văn bản luật pháp có tính
chất phổ quát, đưa ra những nguyên tắc cốt yếu dưới dạng dụ hay sắc dụ (nếu quan
trọng) hoặc chỉ chuẩn, chiếu hay sắc chiếu (nếu ít quan trọng). Đối với những văn
bản lập pháp ở dạng này, hầu như không thấy sự can thiệp của chúa Trịnh. Những
khi ban hành chiếu hay dụ, nhà vua thường cho tổ chức rất trọng thể tại chính điện
Kính thiên, đích thân làm chủ tọa, với sự hiện diện của chúa và đông đủ văn võ bá
quan.
Về tư pháp, vua Lê vẫn là vị thẩm phán cao nhất về phương diện biểu kiến,
duy nhất có quyền ban bố chiếu đại xá, giảm miễn tội cho các phạm nhân.
Đối với nền hành pháp, vua là người trực tiếp có quyền gia phong, thăng
giáng, bãi miễn đối với các chức quan từ hàm tam phẩm trở lên, kể cả ngôi chúa dù
trong thực tế có thể nhà chúa đã dùng những biện pháp khéo léo nhằm gây áp lực
đối với các quyết định của nhà vua. Với những chức quan ngoại nhiệm và từ hàm
tứ phẩm trở xuống, mặc dù theo quy định chúa Trịnh trực tiếp có quyền bổ nhiệm
nhưng để hợp lễ chúa vẫn phải chuyển hồ sơ sang triều đình để vua ban sắc chiếu
và làm chủ tọa trong những buổi lễ khâm ban. Đối với những mệnh lệnh có tính
chất quan trọng, chúa Trịnh cũng không thể tự quyết định mà phải đệ lên vua phê
duyệt và đứng chủ tọa trong lễ ban chiếu. Trên lĩnh vực quân sự, vua Lê chủ trì
những buổi lễ ban bố mệnh lệnh liên quan đến chính sách quốc phòng, những buổi
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
9
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
lễ xuất chinh, hay ban sắc phong chức cho những tướng lĩnh cao cấp trong quân
đội. Trong quan hệ bang giao, vua là người đại diện hợp pháp duy nhất quốc gia.
Hoàng đế Trung Hoa chỉ thừa nhận vua Lê là “An Nam Quốc vương”, có quyền
Về tư pháp, chúa Trịnh là vị quan tòa cao nhất, có quyền chung thẩm các vụ
án, quyết định các hình thức xử phạt hoặc miễn giảm, ân xá cho các phạm nhân, dù
rằng, để cho hợp thức phải thông qua các sắc, chiếu của vua Lê.
Về hành pháp, chúa Trịnh là người đứng đầu nền hành chính quốc gia. Với
chức Tổng quốc chính do vua Lê phong, chúa Trịnh có toàn quyền trong việc tuyển
bổ, thăng giáng, bãi miễn các chức quan và ban hành lệnh dụ, chỉ truyền đối với
các quan ngoại nhiệm, quan hàm từ tam phẩm trở xuống, mà trên thực tế họ mới
chính là những người thực sự điều hành nền nội chính. Chúa Trịnh cũng có quyền
ban hành những mệnh lệnh có tính lập quy, những quyết định hành chính liên quan
đến việc điều động mọi chức quan lại trong ngoài. Với chức Đại nguyên súy, chúa
Trịnh cũng chính là vị tổng chỉ huy quân đội cả nước, toàn quyền điều động, tuyển
bổ binh lính, thăng giáng tướng lĩnh, quyết định những chính sách quốc phòng và
nắm quyền cao nhất về việc đảm bảo an ninh quốc gia. Chúa Trịnh còn là người
kiểm soát toàn bộ nền kinh tế, tài chính trong nước. Trên phương diện bang giao,
chúa Trịnh nắm thực quyền trong việc quyết định đường lối ngoại giao, đón tiếp
các sứ thần ngoại quốc và cử người đi sứ nước ngoài…
Nhìn chung, chúa Trịnh nắm hầu hết quyền hành cai trị đất nước, còn vua Lê
chỉ tồn tại trên danh nghĩa, rất ít quyền lực. Địa vị, chức tước và quyền lực của
chúa được cha truyền con nối, cũng như sự thế tập ngôi báu hư vị của vua. Điều đó
trở thành tập quán chính trị bền vững của cơ chế lưỡng đầu Lê – Trịnh và chi phối
toàn bộ cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, mối quan hệ của các cơ quan phụ tá cho vua ở
triều đình và phụ tá cho chúa ở Phủ liêu.
2.2. Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính thời vua Lê –
VUA
CHÚA
chúa Trịnh
TRIỀU ĐÌNH
PHỦ ĐƯỜNG
2.2.1. Tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính trung ương
Phủ
liêu
Ngũ
phủ
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy hành chính trung ương thời Lê – Trịnh
Về hình thức, triều đình vua Lê vẫn được tổ chức theo mô hình thời Lê sơ
bao gồm các quan đại thần, Lục Bộ, Lục Khoa, Lục Tự và các cơ quan khác. Các
cơ quan này, về cơ bản, vẫn có cơ cấu tổ chức và chức năng như trước đây nhưng
quyền hạn ngày càng bị hạn chế bởi các cơ quan bên phủ chúa.
Chỉ với danh nghĩa thần tử chúa Trịnh đã thâu tóm mọi quyền hành của vua
Lê. Song, để đảm bảo địa vị của mình, chúa Trịnh còn lập ra Phủ đường (Phủ liêu)
trong thế đối sánh với Triều đình nhà Lê. Nếu Triều đình có các văn thư phòng
giúp việc Hoàng đế, có Lục bộ để điều hành các việc chuyên môn; thì Phủ chúa
cũng lập ra các cơ quan riêng để quản lý mọi hoạt động của đất nước. Tuy cùng
thực hiện chung một nhiệm vụ, nhưng các cơ quan bên cung vua và bên phủ chúa
lại không hề có sự chồng chéo; mà ngược lại chúng luôn có sự phân công rõ ràng,
phối hợp nhịp nhàng khi triển khai công việc.
a. Triều đình và Phủ đường
* Triều đình (hay triều đường) vốn là nơi dự bàn quốc sự của đại thần văn
võ bá quan. Tuy nhiên, dưới thời Trung hưng vai trò họp bàn chính sự của triều Lê
không còn. Đây trở thành nơi hội tụ của quần thần chủ yếu để thăm viếng, chúc
tụng vua Lê theo nghi lễ định kỳ hàng tháng hoặc những ngày đại lễ khánh hạ hay
khi vua ban hành các sắc dụ, chiếu chỉ.
các quan cũng phải có mặt đông đủ để chúc mừng. Trong những buổi mở Phủ
đường, những người dự họp gồm quan Ngũ phủ Phủ liêu và các quan viên khác có
mặt tại kinh đô. Khi có việc khó hoặc hệ trọng cần giải quyết, chúa thường ban
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
13
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
lệnh dự họp chính phủ tại Nghị sự đường để bàn định. Trong buổi họp này, chúa
không dự mà thành phần chỉ có các quan chính phủ, gồm: Tham tụng, Bồi tụng và
sáu viên Tri phiên.
Tóm lại, Phủ đường có chức năng như một triều đình thứ hai nhưng quan
trọng hơn. Với cơ quan thường trực tối cao riêng có, Ngũ phủ Phủ liêu trực tiếp
đảm trách việc điều hành toàn bộ guồng máy hành chính quốc gia và nắm thực
quyền cai trị đất nước. Những quan chức làm việc tại Phủ đường là những đại thần
cao cấp nhất, trụ cột của triều Lê – Trịnh. Họ đồng thời cũng nắm giữ những trọng
trách bên triều đình, nhờ vậy mà phủ chúa thâu tóm mọi hoạt động của vua Lê.
b. Các văn thư phòng
Để giúp triển khai các công việc của Triều đình và Phủ đường, chính quyền
Lê – Trịnh cùng lúc duy trì ba loại cơ quan văn phòng ở trung ương: các văn thư
phòng giúp việc Hoàng đế, các văn thư phòng giúp việc nhà chúa và các văn thư
phòng giúp việc chung cho cả vua và chúa.
* Các văn thư phòng giúp việc Hoàng đế
- Thông chính ty là cơ quan giữ nhiệm vụ liên lạc, chuyển đạt công văn,
mệnh lệnh của vua tới quan lại và dân chúng cùng các tấu chương của quan, các
đơn từ, khiếu nại của dân tới nhà vua. Đứng đầu Thông chính ty là một viên Thông
chính sứ và một viên Thông chính phó giúp việc.
- Bí thư giám trông coi về thư viện của Triều đình, đồng thời có nhiệm vụ
cơ quan khác.
- Đông các được lập ra dưới triều Hồng Đức (1470 – 1479) và tiếp tục được
duy trì trong suốt thời Lê – Trịnh. Đây là cơ quan chuyên việc sửa chữa các bài chế
cáo, thơ, ca, văn thư của vua và chúa. Đồng thời, Đông các còn có nhiệm vụ khác
là trông coi việc bảo cử ở triều đình, sẵn sàng tâu trình lên vua hoặc khải với chúa
về những chức vị xét thấy chưa hợp lý.
- Trung thư giám thời Trung hưng vẫn giữ nguyên cơ cấu tổ chức và nhiệm
vụ như thời Lê sơ từ năm 1471. Theo đó, Trung thư giám là cơ quan phụ trách việc
biên chép các tờ kim tiên, ngân tiên, chế, cáo, sắc và các bài biểu, giản, văn tế ở
điện miếu. Đứng đầu Trung thư giám là viên Trung thư giám Xá nhân, giúp việc có
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
15
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
các chức Trung thư giám Điển thư chuyên khảo về kinh điển và văn thư, Trung thư
giám Chính tự lo việc hiệu đính lại văn bản các bài văn thư.
c. Lục bộ và Lục phiên
Đây là loại cơ quan cơ bản của Triều đình và của Phủ chúa. Thể hiện rõ nhất
sự phân định cơ cấu quyền hạn giữa hai bên. Cạnh Lục bộ của triều đình, theo Đại
việt sử ký tục biên, cuối năm 1718, “bắt đầu đặt Lục phiên. Theo chế độ cũ thì phủ
chúa chỉ có ba phiên binh, hộ, thủy sư, dùng hơn trăm tướng thuộc lại làm việc.
Đến nay mới đặt làm 6 phiên: lại, hộ, lễ, binh, hình, công”.
* Cơ cấu tổ chức của Lục bộ
Cơ cấu tổ chức của Lục bộ được hoàn thiện dưới thời Lê Thánh Tông (1460
– 1497) và tiếp tục được duy trì đến hết thời Lê – Trịnh. Phụ trách mỗi Bộ vẫn là
một ban điều hành gồm một Thượng thư và hai viên Tả hữu thị lang. Thống kê từ
nguồn sử liệu cho thấy các chức trưởng quan Lục bộ được đặt thường xuyên, với số
theo
vi hoạt độngCác
và quyền
hạn
củatheo
Lụcsản
bộ vật
tại những
thời điểm tương ứng.
Cơphiên
quan tiếp nhận thuế
* Cơ cấu tổ chức của Lục
và cấp phát bổng lộc
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
16
Cơ quan chuyên môn
Văn phòng trung ương
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
Sơ đồ 2: Tổ chức Lục phiên thời Lê – Trịnh
Lục phiên là cơ quan thừa hành công vụ quan trọng nhất của Phủ đường thời
Lê – Trịnh, tương ứng với Lục bộ bên triều đình. Mỗi phiên đều được hợp thành
bởi ba hệ thống cơ quan: 1- Hệ thống văn phòng trung ương gồm Công điếm giữ
nhiệm vụ hành chính, chuyên việc thu phát và lưu giữ các công văn, giấy tờ thuộc
Phiên; Loát hiệu chuyên thu nhận những sổ sách về việc thu thuế do các loát quan
luôn có sự biến đổi, hoán đổi theo thời gian. Đó là xu hướng tất yếu khi mà vai trò
của các vua Lê ngày càng bị thu hẹp nhường chỗ cho sự gia tăng quyền lực của
chúa Trịnh.
* Phạm vi quyền hạn và sự phân công nhiệm vụ giữa Lục bộ và Lục phiên
Có thể phân theo bốn giai đoạn sau:
- Giai đoạn trước 1718: Tam phiên khi ấy chưa thực sự đóng vai trò quan
trọng trong bộ máy chính quyền triều Lê mà chỉ là một cơ quan nhỏ phục vụ quyền
lợi riêng cho bên Phủ chúa, nên về cơ bản quyền lực của Lục bộ vẫn được bảo toàn,
bởi vì lúc ấy uy thế của Lê đế còn lớn, nhà chúa chưa dám lộ liễu lấn quyền.
- Giai đoạn 1718 – 1751: Chúa Trịnh cho lập đủ Lục phiên và từ đó quyền
hạn, phạm vi hoạt động của cơ quan này ngày càng gia tăng.
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
18
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
Với quyền quản lý trực tiếp Lục cung, Lục phiên đảm nhận trách nhiệm
trông coi ruộng đất, nhân khẩu và thu tô thuế ở 7115/7727 xã thuộc 11/13 trấn cả
nước. Công việc này trước đây do bộ Hộ đặc trách, nay bộ Hộ chỉ còn quyền thu tô
thuế ở phủ Trung đô và 612 xã còn lại thuộc hai trấn Thuận Hoá và Quảng Nam.
Bộ Hộ cũng không còn nắm quyền quản lý ngân sách quốc gia, mà giới hạn nhiệm
vụ chỉ còn là ấn định các khoản thu chi cho riêng nhà vua, đồng thời quản lý tài
sản, vật dụng hoàng cung. Quyền quản lý việc thu chi cho Phủ chúa và toàn bộ nền
tài chính quốc gia nay thuộc cả về Hộ phiên. Đối với nhiệm vụ cấp phát thóc tiền,
lương bổng cho quan lại trong ngoài và binh sĩ, bộ Hộ nay chỉ còn đóng vai trò
trung gian, tiếp nhận đề nghị từ phía các Bộ, chuyển đạt và nhận tiền từ các Phiên
tương ứng rồi chuyển lại cho Bộ theo yêu cầu.
Những nhiệm vụ trước đây vốn được coi là đặc trách của Lục bộ, thì nay Lục bộ
hoặc phải chia quyền hoặc chỉ còn hoạt động trong phạm vi cung vua mà thôi.
- Giai đoạn 1763 – 1786: Lục phiên được xác lập hoàn toàn quyền về cả
danh nghĩa và thực chất. Lúc này Lục bộ đóng vai trò là những cơ quan cố vấn
danh dự cho Lục phiên, tồn tại bởi hư quyền, trong khi đó mọi quyền hành trước
đây thuộc Lục bộ nay đều do Lục phiên nắm giữ. Cơ cấu quyền lực này kéo dài 14
năm, đến 1787 thì kết thúc cùng với sự sụp đổ của Phủ chúa.
- Giai đoạn 1787 – 1789: chứng kiến sự phục hồi quyền lực của Lục bộ nhà
Lê. Năm 1787, vua Lê Chiêu Thống ban chiếu rằng: “Quốc triều buổi đầu theo đời
xưa đặt quan, đặt ra sáu Bộ, chia việc đốc suất thuộc hạ, giữ liêm giữ phép, cùng
noi theo nhau, mưu lớn về trị bình, để lại làm phép tắc mãi mãi. Từ thời Trung
hưng trở đi, quyền coi việc chia cho sáu Phiên, thể thống rối loạn bởi quan hệ
riêng, tích lâu thành hỏng, nên mới có ngày nay” và hạ lệnh “tham chiếu quan chế
cũ đời Hồng Đức mà định lại”. Tuy nhiên, quyền hạn đó cũng chỉ duy trì trong gần
hai năm thì chấm dứt cùng với sự tiêu vong của triều Lê.
d. Các cơ quan chuyên môn
Để thực hiện các công việc ngoài trách nhiệm của Lục bộ và Lục phiên, triều
Lê – Trịnh tiếp tục duy trì hoạt động của các cơ quan chuyên môn, gồm: Quốc sử
giám, Quốc sử viện, Tư thiên giám, Hà đê sứ và các sở về nông nghiệp… Bên cạnh
đó, noi theo quan chế thời Trần, triều Trung hưng lập Tôn nhân phủ chuyên việc
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
20
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ths. Lương Ban Mai
khảo xét tài năng, phẩm hạnh của những người trong tôn thất để đưa sang bộ Lại
chọn bổ và chuyên việc khám hỏi các vụ kiện trong hoàng gia. Đứng đầu tôn nhân
phủ là một viên Tôn nhân lệnh, giúp việc có hai viên Tả hữu Tôn chánh, một viên
HUYỆN
SVTH: Bùi Thị Hòa – KH8G
TỔNG
XÃ/PHƯỜNG
CHÂU
21
XÃ/SÁCH/
ĐỘNG/NGUỒN