ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ TIẾN CÔNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA
HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÂY MÂY NẾP
(CALAMUS TETRADACTYLUS HANCE)
TẠI HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ TIẾN CÔNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA
HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÂY MÂY NẾP
(CALAMUS TETRADACTYLUS HANCE)
TẠI HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Thái
CHỮ KÝ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Hà Tiến Công
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và không sao chép. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc
thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Hà Tiến Công
iii
MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TĂT ............................................................................ v
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC HÌNH .........................................................................................vii
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................................ 2
2.1. Mục tiêu chung .....................................................................................................2
2.1. Mục tiêu cụ thể .....................................................................................................2
3.1.1. Thực trạng tài nguyên rừng và đất rừng khu vực nghiên cứu .........................41
3.1.2. Thực trạng gây trồng mây nếp tại khu vực nghiên cứu ..................................42
3.1.3. Thực trạng các biện pháp kỹ thuật gây trồng cây mây nếp tại khu vực nghiên
cứu .............................................................................................................................44
3.1.4. Đánh giá thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức phát triển cây mây nếp tại
khu vực nghiên cứu ...................................................................................................45
3.2. Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây mây nếp tại khu
vực nghiên cứu .......................................................................................................... 49
3.2.1. Sinh trưởng của cây mây nếp tại khu vực nghiên cứu ....................................49
3.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây mây nếp tại khu vực nghiên
cứu .............................................................................................................................66
3.3. Đề xuất giải pháp kỹ thuật phát triển bền vững và hiệu quả cây mây nếp tại khu
vực nghiên cứu .......................................................................................................... 71
3.3.1. Quy hoạch vùng phát triển LSNG...................................................................71
3.3.2. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh Mây nếp .......................73
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................... 79
1. Kết luận ................................................................................................................. 79
2. Tồn tại ................................................................................................................... 80
3. Khuyến nghị .......................................................................................................... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 81
i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm – Trường Đại học
Thái Nguyên theo chương trình Đào tạo Thạc sĩ Lâm nghiệp khóa học 2013 - 2015.
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ của Bộ phận quản lý Sau đại học cũng như của các thầy giáo, cô
giáo Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Trường Đại học Thái Nguyên,
Bảng 3.4. Tổng hợp các biện pháp kỹ thuật gây trồng Mây nếp tại khu vực nghiên
cứu .............................................................................................................................44
Bảng 3.5: Phân tích SWOT về tiềm năng phát triển Mây nếp tại khu vực nghiên cứu
...................................................................................................................................46
Bảng 3.6. Sinh trưởng đường kính thân cây Mây nếp ở các độ tuổi khác nhau .......49
Bảng 3.7. Sinh trưởng chiều dài thân cây Mây nếp ở các độ tuổi khác nhau ...........53
Bảng 3.8: Phương trình tương quan giữa đường kính và chiều dài thân cây Mây nếp
...................................................................................................................................56
Bảng 3.9. Sinh trưởng chiều dài lóng trung bình của cây Mây nếp ..........................58
Bảng 3.10. Chất lượng sinh trưởng cây Mây nếp ở các độ tuổi khác nhau tại khu
vực nghiên cứu ..........................................................................................................59
Bảng 3.11. Một số tính chất hóa tính đất tại khu vực nghiên cứu ............................62
Bảng 3.12. Một số nhân tố địa hình tại khu vực nghiên cứu ....................................67
Bảng 3.13. Tương quan giữa chiều dài thân cây Mây nếp với yếu tố độ dốc...........68
Bảng 3.14. Quan hệ giữa đường kính lóng cây mây nếp với các tính chất đất.........69
Bảng 3.15. Quan hệ giữa chiều dài thân cây mây nếp với các tính chất đất.............70
Bảng 3.16. Các điều kiện gây trồng Mây nếp ...........................................................75
Bảng 3.17. Xác định tiến độ trồng Mây nếp trong năm ............................................78
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Sinh trưởng đường kính thân của cây Mây nếp tại các điểm điều tra ......51
Hình 3.2. Sinh trưởng đường kính thân cây Mây nếp ở tuổi 1 và tuổi 2,5 ...............52
Hình 3.3. Sinh trưởng chiều dài thân cây mây nếp tại các điểm điều tra .................54
Hình 3.4. Sinh trưởng chiều dài thân cây Mây nếp ở các điểm trồng khác nhau .....55
Hình 3.5. Tương quan giữa đường kính và chiều dài thân cây mây nếp ..................56
Hình 3.6. Tương quan giữa đường kính và chiều dài thân cây Mây nếp tuổi 1 .......57
Mây nếp là một trong những loài có tiềm năng phát triển lớn và đã được
nhận thức là một loài có triển vọng trong kinh doanh rừng theo hướng tạo thu nhập
sớm và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Điều này được thể hiện rõ trong chiến lược
phát triển kinh tế ngành và chương trình trồng mới năm triệu hecta rừng, đến năm
2010 xây dựng được 450.000ha rừng cung cấp LSNG, trong đó song mây chiếm tỷ
phần từ 10 – 20% (Bộ NN&PTNT, 2006).
Ở Việt Nam nghiên cứu gây trồng mây nếp đã và đang được Chính phủ và
người dân rất quan tâm, nhất là từ khi thực hiện chính sách giao đất khoán rừng tới hộ
gia đình. Hiện nay, mây nếp được gây trồng khá phổ biến theo 2 phương thức cơ bản
là: i) Trồng trong vườn hộ; và ii) dưới tán rừng. Tuy vậy, kỹ thuật trồng mây nếp ở
các địa phương rất khác nhau từ khâu lựa chọn lập địa trồng, thu hái và xử lý hạt
giống, v.v… cho đến kỹ thuật trồng, thu hoạch, sơ chế bảo quản và tiêu thụ sản phẩm,
v.v… Vì vậy mức độ thành công cũng rất khác nhau. Điểm đáng chú ý là một số địa
phương đã có kinh nghiệm gây trồng mây có hiệu quả và đã phát triển thành làng
nghề truyền thống, song rất tiếc là những kinh nghiệm này chưa được đúc rút về mặt
2
kỹ thuật để phát triển mở rộng. Hơn nữa, do thiếu thông tin thị trường nên người sản
xuất luôn bị các tư thương ép giá làm giảm giá trị, thu nhập của người dân.
Vấn đề đặt ra là cần phải tổng kết và đánh giá một cách toàn diện các mô
hình trồng mây nếp dưới tán rừng, để đưa ra các biện phát kỹ thuật gây trồng, phát
triển, phân tích kênh tiêu thụ sản phẩm mây nếp và đề xuất được các mô hình điểm
để nhân rộng, phát triển qua đó giảm thiểu các tác động có ảnh hưởng lâu dài đến
các sản phẩm từ rừng hoặc các sản phẩm từ những khu rừng nghèo kiệt đã được
giao khoán là hoạt động hướng người dân đến với các mô hình phát triển kinh tế đồi
rừng bền vững nhằm giúp người dân sống trong khu rừng được giao có thêm thu
nhập sản phẩm từ rừng, góp phần nâng cao hiệu quả, tăng thu nhập kinh tế hộ gia
đình, xóa đói giảm nghèo và tính bền vững của việc gây trồng, phát triển mây nếp,
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Đề tài thực hiện góp phần bổ sung cơ sở khoa học kỹ thuật gây trồng và
phát triển cây mây nếp tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đề tài là tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho các nghiên cứu tiếp theo về cây
mây nếp tại huyện Lục Yên nói riêng và các huyện khác của tỉnh Yên Bái có cùng
điều kiện sinh thái như huyện Lục Yên
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Lượng hóa được thực trạng gây trồng, phát triển cây mây nếp tại huyện Lục
Yên tỉnh Yên Bái.
- Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng
phát triển cây mây nếp, qua đó đề tài đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật chủ
yếu trong gây trồng và phát triển cây mây nếp tại địa phương.
- Ứng dụng các biện pháp ký thuật đã đề xuất vào việc nhân rộng mô hình
gây trồng cây mây nếp tại các vùng lân cận huyện Lục Yên.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những nghiên cứu về cây mây nếp
1.1.1. Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đã được FAO quan tâm thống kê cũng như đầu tư
phát triển ở một số các quốc gia. FAO cũng là cơ quan đầu tiên đưa ra khái niệm và phân
loại LSNG trên phạm vi toàn cầu: “LSNG là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh
vật không kể gỗ, cũng như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng” (FAO, 1995) [1].
Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không phải là gỗ,
được thu hoạch từ rừng, đất rừng và các cây đơn lẻ ngoài rừng (FAO, 1999) [1].
"Thực vật rừng gồm tất cả các loài cây, loài cỏ, dây leo bậc cao và bậc thấp
thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Hà Tiến Công
7
với 133 loài. Vùng tập trung là: Indonêsia, Malaixia, Philippine, Thái Lan, Đông
Bắc Ấn Độ, Đông Dương và New Guinea; nước sản xuất nhiều mây nhất là
Indonesia chiếm 80% tổng sản lượng song mây trên thế giới, tiếp sau là Malaixia
chiếm 10%, 10% còn lại thuộc các nước Philippine, Thái Lan, ba nước Đông Dương.
Giá trị hàng mây xuất khẩu của Indonesia đạt tới 83 triệu USD mỗi năm, Philippine
30 triệu USD, Thái Lan 7 triệu USD.
Trước đây nhiều nước Đông Nam Á xuất khẩu hàng song mây qua chế biến và
cả dạng thô chưa qua chế biến, nhưng từ thập kỷ 70 trở lại đây việc xuất khẩu mây
thô đã bị đình chỉ ở hầu hết các nước. Đến nay nguồn song mây vẫn khai thác chủ
yếu trong rừng tự nhiên; khoảng 50 loài mây có giá trị kinh tế và được sử dụng nhiều
ở các nước. Nghề trồng mây ở Đông Nam Á mới bắt đầu khoảng 100 năm về trước ở
Indonesia và Malaixia, số lượng mây trồng còn quá ít.
Ở Indonesia trồng 3 loài mây: Calamus caesius, C. trachycoleus ( qui mô
lớn) và C. manan (qui mô nhỏ). Malaixia trồng 2 loài: C. caesius và C. manan.
Philippin trồng 1 loài: C. merrllii.
Trung Quốc đang trồng thử loài C. tetradactylus ở đảo Hải Nam và Quảng
Đông; Các loài trên hầu hết có đường kính thân nhỏ trên dưới 1cm, chỉ có 2 loài C.
manan và C. merrillii có đường kính thân trên 3cm.
Mây là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, là nguồn
và thân rễ (Manokaran, 1985) [26]. Vào đầu mùa mưa, tiến hành cắt thân khí sinh
thành từng đoạn và được xử lý hoocmon kích thích rễ trước khi giâm
(Seethalakshmi, 1989). Theo Haridisan đã tiến hành thành công đối với loài C.
zollingeri cho kết quả tới 61% (Zhu Zhaohua, 2001) [29].
Tại Ấn Độ, nhân giống sinh dưỡng được thực hiện theo 3 cách: (i) Giâm hom
thân như với chi Kothalsia với chồi nách phát triển lớn lên như một cá thể cây hoàn
chỉnh (Biswas and Dayal, 1995) [24]; (ii) Nhân giống bằng chồi bên mọc trên thân
ngầm còn nguyên vẹn là vật liệt tốt để tạo cây con mới đối với loài song mây mọc
cụm. Chúng được tách và cấy trong túi bầu và sau đó được chăm sóc trong vườn
ươm. Các loài bản địa như C. travacoricus, C. thuaitesii và C. gamblei cho kết quả
cao theo phương pháp này (Biswas and Dayal, 1995) [24]; và (iii) Nhân giống bằng
nuôi cấy mô – kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô đã mang lại giá
trị thương mại rất cao đối với các loại cây ngoại lai. Tuy nhiên, việc áp dụng trên
một số loài song mây ở Ấn Độ vẫn chưa thực hiện được (Padmanaban, D and
Illangovan, R. , 1994) [27].
9
1.1.2.3. Những nghiên cứu về kỹ thuật trồng thâm canh và phát triển song mây
Trên thế giới song mây đã được trồng trọt ở 3 qui mô chính như: (i) Qui mô
nông trường với mục đích thương mại; (ii) Qui mô làng xóm để dùng làm hàng rào
hoặc dùng trong gia đình; và (iii) Những thử nghiệm tại các cơ sở bán sản xuất nhỏ.
Nguồn mây song vấn khai thác chủ yếu trong rừng tự nhiên. Có khoảng 50 loài mây
có giá trị kinh tế và được sử dụng nhiều ở các nước. Nghề trồng mây được bắt đầu
khoảng 100 năm về trước nhưng số loài mây trồng còn ít. Việc lựa chọn các loài
được đưa vào phạm vi phân bố, giá trị kinh tế, mức độ thuần dưỡng, khí hậu và sinh
thái, tài nguyên di truyền (Williams and Rao, 1994). Canh tác song mây thành rừng
xuất hiện ở Kalimantan vào năm 1850, sau đó được mở rộng ra rừng thứ sinh nghèo
và rừng trồng cao su ở Malaysia và Indonesia (Aminuddin, 1995) [22].
theo Vũ Văn Dũng, 1990) [4].
Ở Trung Quốc, song mật có mặt ở rừng mưa nhiệt đới, ở độ cao 700-800m
so với mực nước biển. Những nơi có nhiệt độ 17-210C, lượng mưa hàng năm trên
1300mm, độ chiếu sáng 50%, đất sâu ẩm, nhiều mùn và pH từ 5,0 đến 6,0 thích hợp
với song mật. Song mật được trồng từ cây con 12-18 tháng tuổi, có 7-8 lá. Sinh
trưởng trung bình về chiều cao từ 1,5-2,5m/năm, cho đến khoảng 7 đến 8 tuổi chiều
cao cây có thể đạt 12-15m (dẫn theo Vũ Văn Dũng, 1990) [4].
Ở Quảng Đông và đảo Hải Nam, mây nếp phát triển tốt với mật độ 100
khóm/ha, thích hợp ở những nơi có lượng mưa 1000mm, độ chiếu sáng 50%, nơi đất
ẩm, pH từ 5,5-6,4 và nhiệt độ trung bình 21-250C. Từ tuổi 1 đến tuổi 3, mây nếp sinh
trưởng rất chậm, chiều cao trung bình dưới 0,3m/năm; đến tuổi 3 chiều cao chỉ đạt
0,5m/năm; khi được 4 tuổi trở lên chiều cao có thể đạt 1m/năm (Zhu Zhaohua, 2001) [29].
Theo Dransfield. J và Manokaran. N (1998), thì ở Trung Quốc mây nếp được
trồng phổ biến theo phương thức nông lâm kết hợp, trồng dưới tán cây ăn quả hoặc
cây quanh khu vườn. Trồng mây nếp trong vườn đem lại thu nhập ổn định cho
người dân. Trên quy mô lớn thì mây nếp được trồng xen trong các khu rừng phục
hồi và rừng trồng. Nơi trồng mây nếp đảm bảo độ chiếu sáng từ 40-50%, cần bón
thêm phân hữu cơ. Mây nếp đã được trồng thử nghiệm theo các cự ly 1x3m, 2x3m
và 1x4m. Cây con được trồng đơn độc hoặc 2 cây/cụm. Tại tỉnh Quảng Đông, mây
nếp được trồng thử nghiệm ở các sườn đồi, đợt đầu thu hoạch vào năm thứ 7 với
năng suất khoảng 1,2 tấn/ha. Năng suất chung cho một chu kỳ sinh trưởng 25 năm
có thể đạt 6 tấn/ha. Đây là loài cây được khuyến cáo trồng rộng rãi ở miền nam
Trung Quốc [3].
iii
MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
12
hoạch và vận tải. Nghề chế biến mây có hiệu quả kinh tế rất lớn, giá trị sản phẩm
mây qua chế biến tăng lên đến 3 lần (Lapis A. B. et. al. 2005) [25].
Trong lịch sử Singapo là nước xuất khẩu hàng mây quan trọng của Đông
Nam Á và ven bờ Tây Thái Bình Dương. Năm 1922 – 1927, lượng xuất khẩu
16.000 – 27.500 tấn, sợi mây xuất khẩu sang Singapo lại tiếp tục xuất đi các nước
khác. Trước những năm 70 của thế kỷ XX, Indonesia là nước xuất khẩu lớn về mây
nguyên liệu, chiếm trên 90% nhu cầu nguyên liệu trên toàn thế giới. Nhiều năm trở
lại đây buôn bán sản phẩm mây tăng nhanh, chỉ riêng Indonesia trong vòng 17 năm
kim ngạch tăng 250 lần, Philipin trong vòng 15 năm tăng 75 lần, Thái Lan trong 9
năm tăng 23 lần, Malaysia trong vòng 8 năm tăng 12 lần. Vào thập kỷ 80 của thế kỷ
XX, 4 nước trên đây đã đạt kim ngạch xuất khẩu mặt hàng mây là 400 triệu USD,
trong đó Indonesia là 200 triệu USD. Năm 1990 kim ngạch buôn bán các mặt hàng
này là 1 tỷ USD, đến cuối thế kỷ XX kim ngạch đạt khoảng 1,5 – 2 tỷ USD.
Lược sơ bộ tình hình buôn bán mây trên thế giới mà tập trung chủ yếu là ở
các nước Đông Nam Á, có thể thấy sản phẩm mây được buôn bán ngày càng nhiều,
giá trị xuất khẩu mây của các nước ĐNA ngày càng lớn, chứng tỏ tiềm năng phát
triển các sản phẩm mây của các nước trong khu vực rất lớn. Việt Nam đang chú
trọng phát huy những giá trị từ nguồn lâm sản ngoài gỗ này, đưa giá trị xuất khẩu
của các mặt hàng song mây ngày càng cao hơn.
Thị trường buôn bán song mây đã được xác lập, mặt hàng song mây xuất
khẩu trên thế giới hàng năm đạt 600 triệu USD. Toàn bộ sản phẩm này đều có
nguồn gốc từ các nước Châu Á, Thái Bình Dương; trong đó Malaysia 19,5%,
Indonêsia 15,9%, Việt Nam 14% và Trung Quốc 12,4%, còn lại là các nước
khác [1].
Năm 2000, IPGRI đã tổng hợp một số nghiên cứu về song mây ở Trung Quốc
cho biết mây nếp là một trong những loài cây có giá trị thương mại cao và được gây
trồng nhiều ở đảo Hải Nam - Trung Quốc. Hàng năm, hòn đảo này cung cấp 3.0006.500 tấn song mây (trong đó có mây nếp) cho nhu cầu thị trường (Zhu Zhaohua,
sẽ ngừng sinh trưởng, khi đó mây ròn và chất lượng kém.
Trồng 5-6 năm thì Mây nếp bắt đầu ra hoa kết quả. Hoa nở tháng 5-6, quả
chín từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 5 năm sau.
Nơi đất ẩm, ven suối, khe không quá rậm rạp Mây nếp sinh trưởng tốt. Mây
nếp có khả năng chịu được hạn nhưng sinh trưởng kém, chất lượng sợi mây không
cao. Mây nếp tăng trưởng khá mạnh, một năm thân dài ra được 3-4m.. Khi bẹ lá ở
gốc rụng đi là lúc sợi mây đã già và khai thác được.
14
* Phân bố cây mây nếp
Tới nay, có rất ít sách viết riêng về vấn đề song mây của nước ta. Các tài
liệu đã xuất bản chỉ dừng ở một số bài báo về kinh nghiệm gieo trồng song mây
ở các địa phương. Chúng ta cũng chưa có quy trình gieo trồng và chế biến mây
song được Bộ ban hành.
Song mây ở Việt Nam rất đa dạng: Theo tài liệu được công bố trong cuốn
“Thực vật chí tổng quát của Đông Dương” (1937), Đông Dương có 5 chi, 32 loài
song mây, riêng Việt Nam có 5 chi và 20 loài mây. Trong cuốn “Tên cây rừng Việt
Nam” (Vụ khoa học và công nghệ, Bộ NN&PTNT, 2001) và cuốn “Danh lục các
loài thực vật Việt Nam” (Đại học quốc gia Hà Nội, 2005) xác định 20 loài mây
thuộc 2 chi là Calamus (17 loài) và Daemonorops (3 loài). Phạm Hoàng Hộ trong
cuốn “Cây cỏ Việt Nam” đã xác định 30 loài mây thuộc 6 chi là Korthalsia (1 loài),
Calamus (21 loài), Deamonorops (3 loài), Plectocomia (2 loài), Mirialepis (1 loài),
Metroxylon (1loài).
Ở Việt Nam, mây được sử dụng chủ yếu làm hàng thủ công mỹ nghệ (12 loài),
vật liệu xây dựng (16 loài), làm thuốc (10 loài), tinh dầu (4 loài). Hiện nay, mây nếp
được trồng ở chủ yếu ở các Thành phố phía Bắc như : Thái Bình, Hải Dương, Hưng
Yên, Vĩnh Phúc, v.v… và một số Thành phố ở miền trung như : Nghệ An (trước đây
mây khá phát triển ở đây), Hà Tĩnh (vùng đang có những nghiên cứu phát triển trồng
độ bền, dẻo và chịu lực kéo tốt, cấu tạo đồng đều, mặt ngoài có màu trắng ngà, bóng rất
đẹp, lại dễ uốn; lại có thể kết hợp tốt với kim loại và vật liệu khác như gỗ, da, nhựa để
làm bàn ghế, đồ dùng mỹ nghệ cao cấp. Sợi mây cũng dễ chẻ thành thanh nhỏ, nên
mây nếp là một trong những loài mây được dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ, đan lát,
tạo mặt bàn ghế cao cấp có giá trị ở thị trường trong nước và xuất khẩu [14].
Độ dài lóng của sợi mây thay đổi từ 10 – 30cm. Khối lượng riêng 0,432; lực căng
kéo là 38,0N/mm2; hàm lượng lignin 18,7%. Chất lượng sợi mây phụ thuộc vào tuổi cây,
độ ẩm trong sợi, điều kiện môi trường sống, độ dài và đường kính của lóng, v.v... [14].
Cây mây mọc thành bụi kín, có nhiều gai, nên mây nếp thường được trồng
làm hàng rào quanh nhà, quanh vườn, quanh chuồng trại để bảo vệ gia súc.
1.1.3.2. Những nghiên cứu về kỹ thuật gieo ươm, nhân giống song mây
Ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu xử lý hạt giống của 2 loài
mây: C.tetradactylus và C. platyacanthus, điển hình là công trình nghiên cứu của Vũ
Văn Dũng (1990) [4], Nguyễn Quang Khải (1999) [13], kết quả đã tìm ra một số
phương pháp xử lý hạt cho tỷ lệ nảy mầm cao. Trong đó sử dụng phương pháp hoá
học, dùng H2SO4 với nồng độ 3 - 5% trong khoảng thời gian 3-5 phút cho tỷ lệ nảy
mầm từ 83% - 97%, thời gian bắt đầu nảy mầm là 16 ngày. Đặc biệt, phương pháp
16
dùng nước ở nhiệt độ 450C ngâm trong 12 giờ cũng cho tỷ lệ nảy mầm tới 95%. Tuy
nhiên thời gian bắt đầu nảy mầm kéo dài tới 25 ngày.
Khi dùng NaOH nồng độ từ 5-10% tỷ lệ nảy mầm đạt từ 80-86% trong phạm vi
20-22 ngày. Ngoài ra, một số tác giả khác cũng đã sử dụng phương pháp cạy rốn hạt
trước khi xử lý chỉ sau 4 ngày cũng đã bắt đầu nảy mầm (Nguyễn Quang Khải
(1999) [13].
Nghiên cứu xử lý nảy mầm hạt giống mới được áp dụng cho 2 loài C.
tetradactylus và C. platyacanthus. Để rút ngắn thời gian tạo giống 2 loài cây này các
tác giả Vũ Văn Dũng và Lê Huy Cường (1996), Lê Ngọc Hạnh (1996) và Nguyễn