ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ NGỌC HÀ
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CÁC NHÓM XÃ HỘI YẾU THẾ
TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC VÀ GIÁ TRỊ KẾ THỪA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ NGỌC HÀ
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CÁC NHÓM XÃ HỘI YẾU THẾ
TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC VÀ GIÁ TRỊ KẾ THỪA
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TSKH NGUYỄN MINH TUẤN
Hà Nội – 2015
1.2. Hoạt động xây dựng pháp luật thời Lê Sơ; Tư tưởng và sự thể hiện các tư tưởng về
bảo vệ quyền lợi của nhóm xã hội yếu thế trong Bộ luật Hồng Đức ............................... 21
1.2.1. Khái quát hoạt động xây dựng pháp luật thời Lê Sơ .......................................... 21
1.2.2. Ảnh hưởng của pháp luật Trung Quốc đến pháp luật Việt Nam thời Lê sơ và Bộ
luật Hồng Đức................................................................................................................ 24
1.2.3. Quá trình xây dựng và ban hành Bộ luật Hồng Đức........................................... 26
1.2.3.1. Thời điểm ban hành của Bộ luật Hồng Đức .................................................... 26
1.2.4.Tư tưởng và sự thể hiện các tư tưởng về bảo vệ quyền lợi các nhóm xã hội yếu
thế trong Bộ luật Hồng Đức........................................................................................... 28
Chƣơng 2: ............................................................................................................................ 35
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CÁC NHÓM XÃ HỘI YẾU THẾ ............................................. 35
TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC ...................................................................................... 35
2.1. Bảo vệ quyền lợi của các nhóm xã hội yếu thế trong Bộ luật Hồng Đức .............. 35
2.1.1.
Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong Bộ luật Hồng Đức .................................... 37
2.1.1.1. Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong lĩnh vực pháp luật hình sự ......................... 37
2.1.5. Trách nhiệm quan lại trong việc bảo vệ quyền lợi của nhóm xã hội yếu thế ........ 62
2.2. Những giá trị tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức trong việc bảo vệ các nhóm xã hội
yếu thế trong sự so sánh với pháp luật Trung Hoa và pháp luật Tây Âu cùng thời kỳ . 65
2.2.1. Những giá trị tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức trong việc bảo vệ các nhóm xã hội
yếu thế trong sự so sánh với pháp luật Trung Hoa cùng thời kỳ ................................... 66
2.2.2. Những giá trị tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức trong việc bảo vệ các nhóm xã hội
yếu thế trong sự so sánh với pháp luật Tây Âu cùng thời kỳ ........................................ 71
Chƣơng 3: ............................................................................................................................ 75
GIÁ TRỊ KẾ THỪA TỪ QUY ĐỊNH BẢO VỆ QUYỀN LỢI ....................................... 75
CÁC NHÓM XÃ HỘI YẾU THẾ CỦA BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC .................................. 75
3.4.4. Kế thừa những giá trị của Bộ luật Hồng Đức trong quá trình hoàn thiện pháp
luật về bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội, người phạm tội trong giai đoạn hiện
nay................................................................................................................................ 106
3.4.5. Kế thừa những giá trị của Bộ luật Hồng Đức trong quá trình hoàn thiện pháp
luật về bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật trong giai đoạn hiện nay ..................... 112
3.4.6. Kế thừa những giá trị của Bộ luật Hồng Đức trong quá trình hoàn thiện pháp luật
về bảo vệ quyền lợi của người dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay ..................... 115
KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................... 119
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã đạt được
rất nhiều những thành tựu lớn lao cả về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Đất
nước đã bước vào thời kỳ phát triển mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa với nhiều thành tựu đáng kể trên tất cả các lĩnh vực. Không những đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao mà quyền con người, quyền dân
chủ, tự do cũng ngày càng được coi trọng. Trong thời đại ngày nay việc coi trọng và
đảm bảo quyền con người còn được coi là tiêu chí để đánh giá sự văn minh, phát
triển của một quốc gia. Trong xu thế chung của thế giới và thực hiện con đường
cách mạng mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn là đi lên xây dựng chế độ xã hội chủ
nghĩa, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh…nhà nước ta luôn coi trọng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và
pháp luật về quyền con người nói riêng. Ngay từ khi thành lập, Đảng và nhà nước ta
luôn cố gắng hướng đến việc xây dựng một nhà nước mạnh trên nhiều lĩnh vực, tất
cả vì hạnh phúc của con người. Tuy vậy do điều kiện chiến tranh kéo dài và nhiều
khó khăn thời kỳ hậu chiến cũng như việc chậm triển khai đường lối đổi mới toàn
diện nên việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như bảo đảm trên
kế thừa, tiếp thu, phát huy những giá trị và kinh nghiệm đó vào việc xây dựng và
thực thi pháp luật về bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền lợi của
nhóm xã hội yếu thế nói riêng. Góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam và
xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Vì những lý do đó, tôi đã lựa chọn vấn đề: “Bảo vệ quyền lợi của nhóm xã hội
yếu thế trong Bộ luật Hồng Đức và giá trị kế thừa” để làm đề tài luận văn thạc sĩ
luật học của mình. Trong bối cảnh hiện nay việc nghiên cứu này là cần thiết và có
thể thực hiện được.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bộ luật Hồng Đức đã được rất nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước
đề cập đến. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều các công trình tiêu
biểu và có giá trị lớn nghiên cứu về nội dung và giá trị của Bộ luật này. Một số công
trình có giá trị mà các nhà nghiên cứu nước ngoài đã thực hiện có thể kể đến là
Insun Yu với cuốn “Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XII-XIII”, nhà xuất bản Khoa
học xã hội, Hà Nội 1994; Công trình nghiên cứu “Hệ thống pháp luật triều Lý và
Triều Trần của Việt Nam, mối quan hệ giữa Đường luật và Lê Triều Hình Luật” của
tác giả Insun Yu, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số 1/2011; hay cuốn “Các
2
vấn đề về pháp luật và thể chế” của Yamamoto Tatsuro…và nhiều nghiên cứu khác
nữa ở các cấp độ và góc độ khác nhau.
Ở trong nước cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều tác phẩm tiêu
biểu về Bộ luật Hồng Đức như các tác phẩm Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, một
tác phẩm có giá trị trên nhiều lĩnh vực như văn học, địa lý, lịch sử, chính trị và pháp
luật…trong đó có nhiều nội dung nói về tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống pháp
luật thời Lê sơ hay như Bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cũng
đã có nhiều nội dung đề cập đến vấn đề tổ chức chính quyền và pháp luật thời phong
kiến đặc biệt là thời kỳ trước triều Nguyễn. Ngoài hai công trình kể trên, từ sau năm
1945 còn có nhiều công trình nghiên cứu nữa đề cập đến Bộ luật Hồng Đức như tác
Tông đã được đề cập đến trong đó có vai trò của ông trong việc xây dựng, hoàn
thiện Bộ luật Hồng Đức – công trình lập pháp tiêu biểu của dân tộc Việt Nam
Năm 2004, Công trình chuyên khảo: “Quốc triều hình luật, lịch sử hình
thành, nội dung và giá trị” do Tiến sĩ Lê Thị Sơn chủ trì thực hiện với 16 bài nghiên
cứu của nhiều tác giả đã được công bố. Công trình này đã đề cập đến nhiều vấn đề
về nội dung, hình thức và những giá trị lịch sử của Bộ luật Hồng Đức trong hệ thống
pháp luật Việt Nam phong kiến và lịch sử lập pháp Việt Nam.
Năm 2007, Hội thảo quốc gia tại Thanh Hóa do Bộ tư pháp chủ trì với chủ đề
“Quốc triều hình luật – những giá trị lịch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà
nước pháp quyền ở Việt Nam” đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà sử học, các luật
gia và nhân dân. Những báo cáo khoa học được trình bày tại hội thảo đã được tổng
hợp thành một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về Lê Thánh Tông và Bộ
luật Hồng Đức. Đây là công trình đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến nội dung,
hình thức, giá trị lập pháp và nhiều giá trị lịch sử cũng như đương đại của Bộ luật
Hồng Đức có thể vận dụng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây
dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.
Năm 2014, Công trình chuyên khảo Nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với
việc bảo vệ quyền con người, Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia, Hà Nội 2014 do
Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn và Tiến sĩ Mai Văn Thắng đồng chủ biên đã phân tích,
làm rõ nhiều đặc trưng, giá trị lịch sử và pháp lý về nhà nước và pháp luật triều Hậu
Lê với việc bảo vệ quyền con người qua đó làm rõ nhiều giá trị đương đại cần kế
thừa trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài những công trình lớn của tập thể các tác giả có uy tín còn có nhiều bài
viết và công trình nghiên cứu của cá nhân các tác giả có liên quan đến đề tài này
4
như: Kinh nghiệm xây dựng và sử dụng đội ngũ quan lại trong nền hành chính Việt
Nam thời kì phong kiến, Nhà nước và Pháp luật, Số 11/2008 của tác giả Nguyễn Thị
Hai là: khẳng định giá trị từ những quy định bảo vệ quyền lợi cho nhóm xã
hội yếu thế của Bộ luật Hồng Đức và tiếp thu, kế thừa những giá trị đó trong quá
trình xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật bảo vệ quyền lợi nhóm xã hội yếu
thế ở Việt Nam hiện nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Làm sáng tỏ bối cảnh ra đời của Bộ luật Hồng Đức
- Phân tích và làm rõ các nội dung mang tính bảo vệ quyền lợi cho nhóm xã
hội yếu thế thể hiện trong Bộ luật Hồng Đức.
- Tìm ra những cơ sở để khẳng định tính độc lập, nhân đạo, tiến bộ của Bộ
luật Hồng Đức
- Tìm ra những luận cứ để khẳng định giá trị kế thừa từ những quy định mang
tính bảo vệ quyền lợi cho nhóm xã hội yếu thế và kế thừa những giá trị đó trong quá
trình xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật bảo vệ quyền lợi nhóm xã hội yếu
thế ở Việt Nam hiện nay.
5. Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của Bộ luật Hồng Đức
liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của các nhóm xã hội yếu thế.
6. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn không tập trung nghiên cứu tất cả các nội dung của Bộ luật Hồng
Đức mà chỉ hướng tới phân tích những quy định nào liên quan đến quyền lợi của các
nhóm xã hội yếu thế thể hiện trong Bộ luật này.
Do điều kiện thời gian và phạm vi của một Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý
luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, tác giả luận văn cũng chỉ tập trung phản ánh
trung thực các quy định pháp lý cụ thể của Bộ Luật Hồng Đức, chứ chưa có điều
kiện để nghiên cứu sâu, đánh giá thực tiễn thực thi những quy định này ra sao ở thời
điểm Bộ luật Hồng Đức có hiệu lực.
7. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận để nghiên cứu luận văn: dựa trên hệ thống quan điểm của chủ
so sánh với pháp luật Tây Âu – với tư cách là một hệ thống pháp luật lớn, tiến bộ và
có ảnh hưởng nhiều đến pháp luật hiện đại của nhiều nước trên thế giới hiện nay. Tất
nhiên là sự so sánh với pháp luật Trung Hoa và Tây Âu trong cùng thời điểm Bộ luật
Hồng Đức ra đời
- Thứ ba, tác giả luận văn đã chỉ ra các giá trị kế thừa từ các quy định của Bộ
luật Hồng Đức trong việc bảo vệ quyền lợi của nhóm xã hội yếu thế và và tiếp thu
7
những giá trị đó trong quá trình xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật bảo vệ
quyền lợi nhóm xã hội yếu thế ở Việt Nam hiện nay.
9. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận,
nhận thức về truyền thống pháp lý và lịch sử lập pháp của Việt Nam cũng như vai
trò của nó đối với hiện tại. Luận văn cũng góp phần vào việc khẳng định, khai thác
và phát huy các giá trị trong di sản văn hóa dân tộc, nhất là truyền thống pháp lý
Việt Nam. Từ đó góp phần nhỏ bé vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật Việt
Nam hoàn thiện, tiến bộ, văn minh, hiện đại hơn.
10. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương:
Chƣơng 1: Hoạt động xây dựng pháp luật thời Lê sơ và sự ra đời của Bộ
luật Hồng Đức
Chƣơng 2: Bảo vệ quyền lợi các nhóm nhóm xã hội yếu thế trong Bộ luật
Hồng Đức.
Chƣơng 3: Giá trị kế thừa từ quy định bảo vệ quyền lợi các nhóm xã hội
yếu thế của Bộ luật Hồng Đức và kế thừa các giá trị đó trong quá trình xây
dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi các nhóm xã hội yếu
thế trong pháp luật Việt Nam hiện nay.
không kể là ngụy quan hay sĩ thứ, lấy tài đức là hơn[11,tr102]. Bên cạnh đó, vua
cũng cho ban hành quy định luật lệ về kiện tụng, về phong tước và phẩm trật cho các
quan. Tiến hành khảo xét các quan, lệnh chỉ cho các quan viên chuẩn bị thi kinh sử,
9
quan võ thì hỏi về võ kinh, pháp lệnh, kỳ thư… Đồng thời mở khoa thi “Hoành từ”
để tìm kiếm người tài bổ sung vào bộ máy nhà nước bên cạnh các quan lại vốn phần
nhiều xuất thân từ võ tướng trung thành, dũng mãnh, dầy dạn kinh nghiệm trong
chiến tranh, giỏi điều binh khiển tướng nhưng lại thiếu kinh nghiệm và sự mềm dẻo
trong quản lý, cai trị đất nước. Đây là thời kỳ khắc phục hậu quả chiến tranh, xây
dựng và củng cố đất nước, củng cố nền chính sự, địa vị và thế lực của triều đình nhà
Lê. Tuy nhiên do thời gian trị vì của Lê Thái Tổ quá ngắn (5 năm), chính quyền mới
được thành lập chưa đi vào hoạt động ổn định lại xảy ra những vụ việc thảm sát công
thần, thay ngôi thái tử, nhiều người thực sự có tài đức chưa được trọng dụng nên
hoạt động của triều đình nhà Hậu Lê chưa thực sự hoạt động một cách hiệu quả. Mặt
khác tình trạng kéo bè kết đảng, cậy thế công thần cũng là một trong những vấn nạn
chưa thể dẹp bỏ có thể gây ra nhiều mối họa về sau của thời kỳ này.
Năm 1433 Lê Thái Tổ mất, con thứ là Lê Nguyên Long nối ngôi vua tức là
vua Lê Thái Tông (1433-1442).
Lúc lên ngôi vua mới 11 tuổi có các quan đại thần là Đại Tư đồ Lê Sát, Tư
khấu Lê Ngân, Đô đốc Phạm Văn Vấn làm phụ chính. Đây là những vị công thần,
những vị tướng có công lớn trong việc gây dựng nên triều Hậu Lê và được Lê Thái
Tổ rất tin tưởng ủy thác phò trợ vua nhỏ trước lúc băng hà. Tuy nhiên do xuất thân
võ tướng, ít học, nóng tính, cố chấp nên không thu phục được lòng người. Các vị đại
thần này thường tỏ ra đa nghi, kết vây cánh, lũng đoạn triều đình gây ra cảnh lục đục,
chia rẽ trong triều, có nhiều biểu hiện lạm quyền, chuyên quyền…sau này không
được vua Lê Thái Tông tin dùng.
Lúc lên ngôi, tuy còn nhỏ tuổi nhưng vua đã tỏ ra là một ông vua có tính
thông minh, quyết đoán, trọng dụng các đại thần chính trực như Nguyễn Trãi,
tay nhà vua, hạn chế sự tham dự vào triều chính của tầng lớp quý tộc, trọng dụng
được nhân tài, phát huy cao vai trò của hệ thống quan lại từ trung ương tới địa
phương nhưng cũng kiểm soát được ở một mức độ nào đó quyền lực của họ để tránh
xảy ra tình trạng lạm dụng quyền hành, tham nhũng, hối lộ, tùy tiện, lười biếng, trốn
tránh trách nhiệm…Với 38 năm trị vì dưới hai niên hiệu là Quang Thuận, Hồng Đức
ông đã thực hiện được rất nhiều những công việc quan trọng được tiến hành được ghi
dấu vào lịch sử. Đặc biệt là việc xây dựng và ban hành bộ Quốc triều hình luật (Bộ
luật Hồng Đức) với kỹ thuật lập pháp cao, chặt chẽ, nhiều nội dung tiến bộ, nhân
bản, có tính vượt trước thời đại.
Giai đoạn trị vì của Lê Thánh Tông được coi là thời kỳ thịnh trị nhất không
chỉ của thời Lê sơ mà còn trong lịch sử các vương triều phong kiến Việt Nam. Sau
11
khi Lê Thánh Tông mất, các thời vua sau việc chính sự hầu hết đều theo phép tắc cũ.
Sau cái chết của vua Lê Túc Tông, triều Hậu Lê từng bước suy yếu. Đất nước rơi vào
thời kỳ hỗn loạn, kinh tế đình đốn, các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra. Bộ
máy nhà nước Lê sơ không được cải tổ kịp thời trước những biến cố liên tục đó nên
càng ngày càng sa sút, bất lực.
Thời Lý, Trần mô hình nhà nước được tổ chức gần giống với mô hình nhà
nước thời Đường, Tống. Nho giáo cũng chưa phải là hệ tư tưởng chính thống được
nhà nước thừa nhận; tầng lớp địa chủ phong kiến chưa phát triển, sự phân hóa đẳng
cấp trong xã hội và nhất là trong làng xã chưa thực sự gay gắt. Một xã hội phong
kiến đích thực chưa tồn tại, quan hệ sản xuất phong kiến mới chỉ ở dạng sơ khai,
chưa thực sự hoàn thiện và trở thành quan hệ sản xuất thống trị trong đời sống kinh
tế xã hội. Đến khi triều Lê sơ được thành lập, hệ tư tưởng Nho giáo từng bước trở
thành hệ tư tưởng chính thống, độc tôn. Nhà nước từng bước được xây dựng theo
hướng trung ương tập quyền và đạt đến đỉnh cao thời vua Lê Thánh Tông. Cuộc cải
tổ bộ máy nhà nước của Lê Thánh Tông được tiến hành trong suốt thời gian ông trị
vì một cách toàn diện cả ở trung ương và địa phương, cả dân sự và quân sự, cả quan
Ở tất cả các địa phương, các quan Bộ Hộ và quan Thừa Chính chịu trách nhiệm
thống kê ruộng đất bị bỏ hoang để bắt phủ huyện đốc dân phu khai khẩn làm
ruộng[17, tr.243]. 42 sở đồn điền được đặt ở những nơi hoang vu, lập theo kiểu trại
lính vừa có tác dụng phòng ngừa giặc cướp vừa chịu trách nhiệm khai khẩn đất
hoang[33, tr.70]. Sau này đưa cả những người bị tội lưu, tội đồ, nông dân phiêu bạt
đến để phát hoang, cầy cấy[26, tr.55].
Triều Lê sơ rất quan tâm đến việc bảo vệ và phát triển ruộng đất và nông
nghiệp. Ngay sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ đã hạ lệnh cho con em các nhà đầu
mục và các tướng hiệu trở về nhận ruộng đất ở quê cha đất tổ, chấm dứt nạn tranh
chiếm ruộng đất [15, tr.361]. Để nhanh chóng ổn định sản xuất nông nghiệp, nhà
nước yêu cầu kê khai các loại lâm thổ sản, ruộng đất trên cả nước. Những ruộng đất
vô chủ được cấp cho các quan lại, quân lính và dân thường. Vua sắc chỉ cho các đại
thần bàn định việc quân điền, từ đại thần trở xuống, người già yếu, mồ côi, góa
chồng, nam nữ các loại đều được hưởng phần chia.
Nhà nước đã thi hành nhiều biện pháp để hạn chế tình trạng bỏ ruộng hoang,
trị tội những kẻ có ruộng mà không chịu cày cấy. Đặc biệt quan tâm tới việc đắp đê,
nạo vét kênh mương, sông ngòi, khai phá đất hoang. Có nhiều công trình làm từ đời
Lê sơ mà đến ngày nay vẫn còn dấu ấn như đê Hồng Đức, kênh nhà Lê…Đồng thời
13
nghiêm cấm việc giết hại trâu bò để bảo đảm sức kéo. Tội trộm cắp trâu bò cũng bị
pháp luật xử lý rất nặng.
Nhà Lê sơ thực hiện rất hiệu quả chính sách “ngụ binh ư nông” cho quân đội
thay phiên về làm ruộng theo tinh thần “tĩnh vi nông, động vi binh”. Sau khi đánh
đuổi giặc Minh, Lê Thái Tổ cho 15 vạn lính giải ngũ về làm ruộng, chỉ lưu lại 10 vạn
lính tại ngũ. 10 vạn quân thường trực đó lại được phân làm 5 phiên, tuần tự thay
nhau, 4 phiên về sản xuất, 1 phiên tại ngũ[13, tr.132]. Vì vậy đối với quân dịch
người dân không phải trốn tránh, sợ hãi quá mức mà nhân công làm ruộng cũng
kế ruộng đất. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự nở rộ của những
quy phạm pháp luật dân sự liên quan đến vấn đề này.
* Chính sách thƣơng mại
Giống với các triều đại trước, chính sách “trọng nông ức thương” vẫn được thực
hiện. Nhà nước không khuyến khích thương mại, vì vậy thương mại không được
phát triển mạnh mẽ nhất là ngoại thương. Việc giao thương buôn bán với người nước
ngoài bị hạn chế, quan lại và dân chúng không được mua bán vụng trộm hàng hóa
nước ngoài[15, tr.382]. Trên các cửa ải dọc biên giới miền duyên hải, triều đình lập
cơ quan kiểm soát ngoại thương rất khắt khe. Những nhà buôn ngoại quốc người
Hoa, Chiêm, Lào, Xiêm, Chân Lạp …đến Đại Việt buôn bán phải vào những nơi quy
định như Vân Đồn, Càn Hải, Hội Thống, Hội Triều, Thông Lãnh, Phú Lương, Tam
Kỳ, Trúc Hoa, mà không được tự ý vào các trấn. Nhân dân và quan lại vùng duyên
hải tự ý mua hàng hoá của người nước ngoài hoặc đón tiếp các thuyền buôn thì sẽ bị
nghiêm trị, phạt tiền rất nặng, thậm chí cả đối với các quan đi sứ sang nước ngoài khi
về cũng không được mang theo hàng hóa nước ngoài về để buôn bán hoặc tiêu
dùng[33, tr.105]. Sự ngăn cấm và những biện pháp kìm hãm thương nghiệp đó làm
cho nền kinh tế hàng hóa phát triển chậm chạp. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông
nghiệp mà chủ yếu là sản xuất nhỏ dựa vào kinh nghiệm truyền đời là chính. Tuy
nhiên căn cứ vào sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi có thể thấy là nước ta thời ấy
khá giàu có, đa dạng về tài nguyên khoáng sản, nông, lâm, ngư, hải sản và các sản
phẩm về thủ công như: long nhãn ở làng Thịnh Quang, cam ngọt ở hạt Đồng Lại, Hải
Dương, vải quả ở Quang Việt thuộc Sơn Nam, mía ngọt Hữu Lũng, hồ tiêu Nghệ An,
sâm quế ở Trấn Ninh, sừng tê, ngà voi ở hạt Mỹ Lương, Sơn Tây và Thanh Hóa,
đồng, chì, vàng, bạc ở châu Định Hóa thuộc Thái Nguyên, giấy An Thái, the Nghi
Tàm, vải thưa ở Mao Điền, vải lụa Sơn Nam, vải thâm Huê Cầu, rượu sen, rượu cúc
ở Hoàng Mai, Bình Vọng… Đây chưa phải là tất cả tài nguyên quốc gia nhưng qua
đó có thể thấy là đã khá nhiều xa xỉ phẩm, khá nhiều làng nghề nổi tiếng trong lĩnh
15
1.1.3. Về văn hóa - tƣ tƣởng
16
Hệ tư tưởng Nho giáo theo chân những người Hán du nhập vào nước ta từ đầu
công nguyên. Trước thời Lê sơ, hệ tư tưởng Nho giáo chưa có ảnh hưởng nhiều đến
nền văn hóa, chính trị, xã hội nước ta. Thời Lý, Trần hệ tư tưởng Phật giáo đã ăn sâu,
bén rễ vào đời sống chính trị và văn hóa nước ta. Tầng lớp trí thức được triều đình
trọng dụng không phải các Nho sĩ mà là các cao tăng với nhiều cao tăng nổi tiếng
như Thiền sư Vạn Hạnh, Ngô Chân Lưu….Thậm chí ở thời nhà Lý trong đời sống xã
hội có những thời điểm chùa chiền được dựng lên khắp nơi, cả nước có gần nửa số
dân đi làm sư sãi. Dù có ảnh hưởng lớn nhưng Phật giáo không đáp ứng được nhu
cầu xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế và nhà nước trung ương tập quyền mạnh
nên dần dần không được giai cấp thống trị sử dụng. Lúc này Nho giáo, với hệ thống
lý luận hoàn chỉnh với tư tưởng “mệnh trời”, thuyết “Tam cương”, “Ngũ thường”,
“chính danh”, đường lối “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, đáp ứng được nhu
cầu xây dựng, củng cố chế độ quân chủ chuyên chế của giai cấp cầm quyền đã giành
được vị trí thống lĩnh. Cuối thời Trần, Nho giáo đã từng bước thiết lập được vị trí
của mình và ảnh hưởng đến đời sống văn hóa nước ta. Nhiều nhà Nho, đặc biệt là
một số nho sĩ danh tiếng thời Trần như: Lê Văn Hưu, Lê Quát, Trương Hán Siêu đã
công khai công kích, phê phán Phật giáo và giới cầm quyền không theo đạo cương
thường Nho giáo. Dưới thời Hồ Quý Ly, ông đã ra sức khuyến khích Nho học, nhà
nước có chính sách cấp ruộng nuôi thầy, cấp tiền để mua sách[7]…Bằng nhiều chính
sách khuyến khích hiệu quả như vậy nên đến thời Lê sơ, Nho giáo đã được thừa nhận
và nhanh chóng giữ vai trò quyết định, nền tảng đối với nền văn hóa – chính trị nước
ta
Các nhà Nho đều cho rằng xã hội sẽ tốt đẹp khi tất cả mọi người đều được
giáo dục, giáo hóa và có đạo đức. Đó cũng chính là nền tảng để xây dựng một xã hội
ổn định, thái bình, thịnh trị, có trật tự, kỷ cương. Chính vì vậy các vua nhà Lê sơ đều
độc tôn Nho giáo, coi Nho giáo là hệ tư tưởng chính thống, là công cụ thống trị về
Tổ đã tổ chức khoa thi Hoành từ, Minh kinh để tìm người tài ra giúp nước. Năm
1442 (Nhâm Tuất, Đại Bảo năm thứ 3 đời Lê Thái Tông), tổ chức thi Hội lần đầu
tiên lấy 33 tiến sĩ. Thời Lê sơ đã tổ chức được 29 khoa thi Hội, lấy 988 tiến sĩ. Riêng
thời Lê Thánh Tông, khoa cử đạt tới đỉnh cao. Trong 39 năm, đã tổ chức 12 khoa thi
Hội lấy 501 tiến sĩ. Chưa bao giờ trong thời phong kiến giáo dục và khoa cử lại được
quan tâm và phát triển rực rỡ như vậy[27, tr.116-130]. Phan Huy Chú đã có nhận
xét: "Khoa cử các đời thịnh nhất là đời Hồng Đức. Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn
người công bằng, đời sau càng không thể theo kịp".
18
Tuy thế, giáo dục thời kỳ này theo quan điểm của Nho giáo cũng không nằm
ngoài Tứ thư, Ngũ kinh, Tam cương, Ngũ thường, đạo trị nước, văn chương thơ
phú…đó là những tri thức thuần túy sách vở, nhiều nội dung mang tính cổ hủ, bảo
thủ, thụ động trước thời cuộc. Những tri thức về tự nhiên, khoa học, sản xuất…
không được quan tâm đúng mức. Đây cũng là điểm yếu của những nước theo hệ tư
tưởng Nho giáo như Việt Nam và Trung Quốc. Nó là rào cản làm cho kinh tế, xã hội
chậm phát triển hơn rất nhiều so với các quốc gia phương Tây.
Tư tưởng "trọng Nho" của các nhà vua thời Lê sơ một phần cũng xuất phát từ
nhu cầu về nhân tài cho chế độ. Sau khi nhà Lê sơ được thành lập, phần lớn quan lại
đều là tướng sĩ, chinh chiến đã quen mà học hành thì cũng không nhiều dẫn đến tình
trạng lúng túng về quản lý mà không có cách nào giải quyết. Các vị công thần cũng
dần mất đi theo thời gian vì vậy rất cần phải tuyển chọn nhân tài để bổ sung, thay
thế. Do đó, thi cử rất được coi trọng với 2 cấp thi: thi địa phương (thi Hương) và thi
quốc gia (thi Hội, thi Đình). Học vị thi Hương là Hương cống, học vị thi Hội và thi
Đình là Tiến sĩ với 3 cấp: Tiến sĩ cập đệ (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa),
Tiến sĩ xuất thân và đồng Tiến sĩ xuất thân. Những người thi đỗ được vinh danh
trong các lễ xướng danh, được vua ban mũ áo, tiền thưởng, được thiết yến tiệc, vinh
quy bái tổ. Mọi tiến sĩ đều được khắc tên vào bia đá đặt ở Văn Miếu. Đây là con