Bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ khi ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 - Pdf 15

MỤC LỤC
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tiếng gọi thiêng liêng, là cái nôi nuôi dưỡng mỗi con người.
Gia đình là môi trường văn hóa đầu tiên, nơi mà mỗi cá nhân khi chào đời và
trong quá trình phát triển luôn được tiếp nhận những tình cảm tốt đẹp từ các
thành viên trong gia đình.
Quan hệ gia đình là tổng hòa các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản, giữa các
thành viên của gia đình có mối quan hệ gắn bó. Trong một gia đình thực sự bền
vững và hạnh phúc thì mỗi thành viên trong gia đình đều tìm thấy sự thỏa mãn
nhu cầu về vật chất, tình cảm của mình. Bất cứ ai khi bước chân vào ngưỡng cửa
hôn nhân cũng đều mong muốn có cuộc sống viên mãn, hạnh phúc như thế.
Nhưng khi cả hai không còn nhìn chung về một hướng, những rạn nứt bắt đầu
xuất hiện. Ly hôn là giải pháp cuối cùng được đặt ra để kết thúc sự đổ vỡ của
tình yêu hoặc chấm dứt quan hệ gia đình khi không còn hạnh phúc.
Qua việc tổng hợp số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, từ ngày
01-9-2000 đến ngày 30-9-2011, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 3.143.746 vụ
việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình.
Trong đó số vụ việc về hôn nhân và gia đình là 875.282 (chiếm khoảng 30%
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 2

tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý). Đáng báo động hơn nữa là số liệu này đang
ngày một gia tăng, khái niệm về “ tổ ấm gia đình” thực sự có nguy cơ bị rạn nứt.
Trong tác phẩm “ Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà
nước” (1884) Ph. Ăng ghen đã chỉ ra rằng: “ Trong 3 hình thái bất bình đẳng lớn
nhất của lịch sử nhân loại (bất bình đẳng chủng tộc, giai cấp, giới) thì quan hệ
bất bình đẳng giữa nam và nữ là nguồn gốc đích thực về mặt lịch sử, xã hội của
những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu trong quan hệ vợ chồng”. Từ đó, ông đã xây
dựng lên quan điểm về giải phóng phụ nữ.

Hiện tại đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở nhiều cấp độ
khác nhau đề cập trực tiếp hoặc có liên quan về vấn đề bảo vệ quyền lợi của
người phụ nữ khi ly hôn như sau:
- Nhóm luận văn, luận án: Một số công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu là: “
Chế độ tài sản của vợ, chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2000”, Luận văn tiến sĩ luật học, của Nguyễn Văn Cừ, Trường Đại học Luật Hà
Nội, 2004;” Bảo vệ quyền lợi phụ nữ theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
năm 2000”, Luận văn Thạc sĩ luật học, của Bùi Thị Mừng, Trường Đại học Luật
Hà Nội; “Giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam năm 2000”, Luận văn Thạc sĩ luật học, của Phạm Thị
Ngọc Lan, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008, “Nguyên tắc bảo vệ
quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn theo luật Hôn nhân
và gia đình Việt Nam năm 2000, Luận văn Thạc sĩ Luật học, của Lê Thu Trang,
Khoa Luật- Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2012. Những luận án, luận văn trên các
tác giả đã đi vào nghiên cứu về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và ly
hôn, đề cấp tới vấn đề bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em.
- Nhóm giáo trình, sách bình luận chuyên sâu: Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận
khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tập I, NXB Trẻ, Thành phố Hồ
Chí Minh, 2002; Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật Dân sự
Việt Nam; Tưởng Duy Lượng, Bình luận một số án dân sự và Hôn nhân gia đình,
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 4

NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2001; Đinh Thị Mai Hương, Bình luận khoa
học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006. Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà
nội…
- Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành Luật: Các bài nghiên cứu thuộc
nhóm này chủ yếu được đề cập trên các tạp chí như Tạp chí Tòa án nhân dân, tạp
chí Kiểm sát, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tạp chí Luật học…Trong đó phải kể
đến bài viết của tác giả Nguyễn Văn Cừ đăng trên tạp chí Luật học năm 2002 với

- Về phương pháp luận: Luận văn sử dụng lý luận Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta về việc bảo vệ quyền lợi
của người phụ nữ.
- Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ
thể như: phương pháp so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp,…
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ không chỉ là việc ghi nhận các quyền con
người của họ mà còn phải đảm bảo cho các quyền đó được thực hiện . Với người
phụ nữ, điều này càng có ý nghĩa sâu sắc khi quyền của phụ nữ trên thực tế
thường xuyên bị xâm hại. Người phụ nữ chịu sự phân biệt đối xử là tình trạng
khá phổ biến ở khắp mọi nơi trên thế giới. Vì lẽ đó, việc ghi nhận các quyền con
người của phụ nữ bằng pháp luật là hết sức cần thiết. Tuy nhiên vấn đề quan
trọng là việc bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện thì pháp luật lại giữ vai
trò quyết định bởi sức mạnh từ tính cưỡng chế của nó. Với ý nghĩa đó các quyền
phụ nữ được thể chế hóa thành pháp luật phải được tuyên truyền phổ biến sâu
rộng cho chính các chủ thể này để họ nhận thức được và trên cơ sở đó họ sẽ đủ
hiểu biết giác ngộ về các quyền của mình và nâng cao ý thức tự bảo vệ những
quyền mà pháp luật ghi nhận cho họ.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu làm 3 chương:
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 6

Chương I: Lý luận chung về bảo vệ quyền lợi người phụ nữ khi ly hôn theo quy
định Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Chương II: Nội dung bảo vệ quyền của phụ nữ khi ly hôn theo quy định Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000.
Chương III: Thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình về việc bảo vệ quyền
của phụ nữ khi ly hôn.
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 7

phẩm, bình đẳng xã hội, tự do…; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền,
những đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và
pháp luật quốc gia. Như vậy dù ở cấp độ nào hay góc độ nào thì quyền con người
cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn
của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người. Quyền con người là những
quyền vốn có của con người, không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, giới tính,
nguồn gốc quốc gia hay dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ hay bất kỳ một thân
phận nào khác. Mọi người được hưởng các quyền của mình một cách bình đẳng
và không có sự phân biệt đối xử. Những quyền này có mối quan hệ, phụ thuộc
lẫn nhau và không thể tách rời.
Nội dung quyền con người:
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nội dung quyền con người. Do vậy,
việc phân loại nội dung quyền con người cũng khác nhau. Theo phương pháp
tiếp cận của khoa học pháp lý, quyền con người được chia thành các nhóm
chính:
+ Các quyền tự do dân chủ về chính trị: Quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã
hội, quyền bầu cử và ứng cử, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do tín ngưỡng,
quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, …
+ Các quyền dân sự: Quyền tự do đi lại cư trú trong nước, quyền ra nước ngoài
và từ nước ngoài về nước, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được an
toàn, bí mật về thư tín, điện thoại,…
+ Các quyền kinh tế xã hội: Quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền sở
hữu hợp pháp, quyền học tập, quyền thừa kế…
Khái niệm quyền phụ nữ cần phải được nghiên cứu trong mối liên hệ khăng khít
với khái niệm quyền con người. Bởi vì phụ nữ cũng như nam giới, họ phải được
hưởng tất cả những quyền con người mà pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Vì vậy,
bảo vệ quyền phụ nữ là việc Nhà nước ghi nhận quyền phụ nữ đồng thời ban
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 9

hành những quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm việc thực hiện các quyền phụ nữ

người bà, người mẹ, người chị trong gia đình. Họ là người vun vén và sắp xếp
cuộc sống gia đình được ổn thỏa, theo trật tự. Chính những người đã và đang làm
chồng cũng thầm cám ơn những người vợ của họ vì điều đó.
Người phụ nữ góp phần hỗ trợ cho sự thành đạt của người chồng và đảm
bảo cho người chồng 1 cuộc sống chu toàn nhất. Sau người mẹ, người vợ là
người sẵn sàng hi sinh vì người chồng nhất. Họ chu tất, thông minh, khéo léo.
Người chồng là người “xông pha trận mạc” trong công cuộc kiếm tiền thì người
vợ lại là người xây đắp, vun vén cho gia đình. Mỗi người chồng khi trở về nhà
đều được nhìn thấy cảnh cơm ngon, canh ngọt, con cái nhà cửa sạch sẽ, tinh
tươm. Tạo hóa đã ban cho người phụ nữ những đức tính mà người đàn ông hiếm
có, đó là khả năng nhẫn nhịn, chịu thương chịu khó, và một bàn tay chăm sóc
nhẹ nhàng, chu toàn. Đó là chỗ dựa vững chắc để những người chồng yên tâm
kiếm tiền, là nơi đi về bình yên và hạnh phúc nhất của những người đàn ông.
Người phụ nữ còn là người có vai trò to lớn trong các hoạt đồng xã hội, họ
là người gắn kết xóm giềng, làng xóm, anh em, bạn bè, gia tộc. Họ giải quyết các
mối quan hệ to nhỏ, thân sơ làng tạo nên cuộc sống yên ổn, vui vẻ từ bên trong
gia đình đến bên ngoài xã hội.
Thiên chức làm mẹ là thiên chức chỉ dành riêng cho người phụ nữ, dù ở
bất kì chế độ xã hội nào cũng không thể thay đổi quy luật tự nhiên ấy. Đó là một
thiên chức vô cùng cao quý trong việc duy trì nòi giống của toàn nhân loại. Trên
cơ sở lý luận và nghiên cứu thực nghiệm, các nhà tâm lý học và giáo dục học đã
kết luận rằng, ảnh hưởng của người mẹ đối với tình cảm, nhân cách và sự nghiệp
của người con lớn hơn rất nhiều so với người cha. Người phụ nữ luôn là đối
tượng có đời sống nội tâm vô cùng sâu sắc, hiểu hết tâm tư, nguyện vọng của các
con hơn ai hết, do vậy việc giao con cho người phụ nữ chăm sóc nuôi dưỡng một
mặt đảm bảo quyền của họ, một mặt đảm bảo sự phát triển bình thường về mặt
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 11

tâm sinh lý của các con. Như vậy, bảo vệ bà mẹ nhằm đảm bảo cho gia đình thực
hiện tốt các chức năng xã hội của nó và có ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp phát

bật khóc, tôi nghĩ rằng, đây liệu có phải là quyết định sai lầm. Nhưng thời gian
đã giúp tôi cân bằng cuộc sống, và hiện tại, mẹ con tôi hạnh phúc vì điều đó”.
[tâm sự của chị Mai Hương và chị Minh Anh- Hà Nội trên báo Bạn trẻ cuộc
sống, đăng ngày 21/05/2013]
Thứ tư, pháp luật quy định nam nữ bình đẳng trong việc kết hôn thì đương
nhiên, họ cũng được bình đẳng trong việc ly hôn. Tự do yêu cầu ly hôn là quyền
nhân thân của vợ chồng được pháp luật ghi nhận. Vậy bảo vệ quyền phụ nữ
trong việc giải quyết hậu quả pháp lý của ly hôn còn là phải bảo vệ quyền nhân
thân của người phụ nữ và cụ thể trong trường hợp này là bảo vệ quyền yêu cầu ly
hôn của họ.
Thứ năm, trên thực tế, vấn đề tài sản và xác định tài sản khi có tranh chấp
xảy ra là một vấn đề hết sức phức tạp, nhất là đối với việc xác định tài sản của vợ
chồng khi ly hôn, theo đó, một mặt chúng ta phải vừa đảm bảo quyền chính đáng
của người chồng, mặt khác phải ra sức bảo vệ cho người phụ nữ- nhóm xã hội
đặc biệt. Vấn đề phân chia tài sản khi ly hôn sẽ rất phức tạp nếu người chồng là
người trụ cột trong việc kiếm tiến, công sức đóng góp của họ sẽ không khó để
xác định thì vai trò của người vợ trong gia đình, là người chăm sóc, đảm đương
tất cả mọi việc trong gia đình thì công sức của họ lại rất khó xác định, định
lượng ra vật chất. Mặc dù chúng ta luôn thừa nhận công sức của người phụ nữ
đối với gia đình không hề nhỏ nhưng vấn đề xác định nó lại vô cùng khó khăn.
Họ có thể lực yếu hơn nhưng đảm đương nhiều việc hơn và đa số là những việc
không thể kiếm ra tiền và không thể quy đổi thành tiền, vậy ngoài pháp luật thì
sẽ ai chứng minh công sức đóng góp của họ một cách an toàn và đầy đủ nhất?
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 13

Như vậy, với những lý do trên đây, việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ khi
ly hôn là một việc vô cùng quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với toàn xã hội. Từ
đó định ra được các phương diện cần bảo vệ họ trong giải quyết ly hôn một cách
cụ thể, rõ ràng hơn.
1.2. Sự phát triển của pháp luật về bảo vệ quyền của người phụ nữ khi ly

hợp (tam bất khứ): đã để tang nhà chồng 3 năm; khi lấy nhau nghèo mà sau giàu
có; khi lấy nhau có bà con mà khi bỏ lại không có bà con để trở về. Đồng thời,
khi hai bên vợ chồng đang có tang cha mẹ thì vấn đề ly hôn cũng không được đặt
ra. Khi ly hôn, con cái thường thuộc về chồng, nhưng nếu muốn giữ con, người
vợ có quyền đòi chia một nửa số con. Điều 167 - Hồng Đức thiện chính thư - quy
định rõ hình thức thuận tình ly hôn: “Giấy ly hôn được làm dưới hình thức hợp
đồng, người vợ và người chồng mỗi bên giữ một bản làm bằng”. Vậy là, bên
cạnh sự ưng thuận của cha mẹ hay các bậc tôn thuộc rất quan trọng thì sự ưng
thuận của hai bên trai - gái cũng là một thành tố được nhà lập pháp chú ý đến.
Theo quy định của Bộ luật Hồng Đức, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng sau
khi ly hôn hoàn toàn chấm dứt, hai bên đều có quyền kết hôn với người khác mà
không bị pháp luật ngăn cấm.
Thông thường, nếu ly hôn không do lỗi của người vợ thì phần tài sản riêng
(gồm cả điền sản và tư trang), người vợ có quyền mang về nhà mình. Trong
trường hợp có lỗi; thường thì tự ý người vợ không đem theo tài sản hoặc trong
một vài trường hợp luật định người vợ buộc phải để lại tài sản đó cho chồng,
người vợ mà đi gian dâm, tài sản phải trả về cho chồng.
Ngoài ra, việc phân chia và thừa kế tài sản còn tùy thuộc vào việc vợ
chồng có con hay không có con. Pháp luật quy định cụ thể ở các điều 374, 375
và 376 (Quốc triều hình luật). Tài sản của vợ chồng được hình thành từ 3 nguồn:
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 15

Tài sản của chồng thừa kế từ gia đình nhà chồng; tài sản của người vợ thừa kế từ
gia đình nhà vợ và tài sản do hai vợ chồng tạo dựng trong quá trình hôn nhân (tài
sản chung). Khi gia đình tồn tại, tất cả tài sản được coi là của chung. Khi ly hôn,
tài sản của ai, người đó được nhận riêng và chia đôi tài sản chung của hai người.
Còn khi chồng chết trước (hay vợ chết trước) tài sản có do bố mẹ dành cho
được chia làm hai phần bằng nhau, một phần dành cho gia đình bên chồng/vợ để
lo việc tế lễ (bố mẹ bên chồng/vợ hoặc người thừa tự bên chồng/vợ giữ). Một
phần dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời (nhưng không có quyền sở

về con cái và dòng họ nhà chồng…
Điều 15 Xuất thê Hộ Luật hôn nhân có quy định:
“ Phàm dù vợ ở trong 7 điều nên bỏ, cũng không nên bỏ, và đối với chồng không
có trạng thái nghĩa tuyệt, mà tự tiện bỏ vợ thì phạt 80 trượng. Dù phạm 7 điều là
không có con, dâm dật, không thờ cha mẹ chồng, nói nhiều, trộm cắp, ghen
tuyên, ác tật. Nhưng có 3 điều không bỏ để tang 3 năm, trước nghèo sau giàu, có
người cưới cũng không ưng mà bỏ thì giảm 2 bực tội, cho về đoàn tụ.”
Nghĩa tuyệt là ân tình chồng vợ đi trái ngược nhau làm cho mất đứt nghĩa. Điều
luật này quy định cũng tương tự như trong Quốc triều hình luật. Tuy người vợ
phạm thất xuất nhưng cũng không được bỏ khi người vợ ở trong tam bất khứ.
Nếu người chồng thẳng tình bỏ thì giảm hai bực, phạt 60 trượng cho về đoàn tụ.
- Nếu phạm nghĩa tuyệt nên ly dị mà không ly dị thì phạt 80 trượng. Nếu vợ chồng
không cùng ăn ý vui vẻ mà cả hai muốn ly dị thì không có tội (tình thế đã đến ly
dị khó kéo lại hòa hợp). Quy định này thể hiện sự tôn trọng ý chí của cả hai vợ
chồng, đồng thời cũng thể hiện sự bình đẳng của người phụ nữ với chồng trong
việc yêu cầu ly hôn.
- Nếu chồng không có ý ly dị mà vợ theo trai, chồng bỏ thì phạt vợ 100 trượng.
Người đàn bà đáng nghĩa phải theo chồng, chồng có thể bỏ vợ nhưng vợ thì
không được tự mình tuyệt giao với chồng. Quy định này thể hiện sự bất bình
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 17

đẳng của người phụ nữ trong việc yêu cầu ly hôn khi việc ly hôn không có đầy
đủ ý chí của hai bên. Như vậy, quyền lợi của người phụ nữ trong trường hợp này
không được đảm bảo.
- “Trường hợp chồng đem gả bán, nhân đó vợ trốn tự cải giá thì phạt thắt cổ
(giam chờ). Nếu chồng bỏ vợ đi biệt trong 3 năm, trong thời gian ấy, không báo
quan biết, rồi bỏ đi thì bị phạt 80 trượng, tự ý cải giá thì phạt 100 trượng. Bể
thiếp thì giảm hai bực…”
- Trường hợp chồng đi biệt xứ xa không tin tức, không biết sống chết thế nào,
cũng phải đợi 3 năm mới báo quan biết, để xử theo lý. Nếu trong hạn 3 năm

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đấu tranh xóa bỏ dần chế độ hôn
nhân gia đình phong kiến lạc hậu, cổ hủ, xây dựng chế độ hôn nhân gia đình
mới, tiến bộ. Nhưng việc xóa bỏ chế độ hôn nhân gia đình phong kiến không
phải dễ dàng mà nó đòi hỏi cả một quá trình lâu dài. Chính vì vậy sau cách mạng
tháng tám, Nhà nước ta chưa ban hành một đạo luật mà chỉ mới thực hiện phong
trào “ vận động đời sống mới” nhằm vận động nhân dân tự nguyện xóa bỏ những
tục lệ cũ về hôn nhân gia đình. Đây là cuộc cách mạng về tư sản- văn hóa, do đó
ngay một lúc không thể dùng văn bản pháp luật hoặc mệnh lệnh để cưỡng bức.
Theo sắc lệnh 10/10/1945, từ 1945 đến 1950 về cơ bản chúng ta vẫn vận
dụng những văn bản pháp luật cũ có chọn lọc để giải quyết những vấn đề về hôn
nhân gia đình: trong đó có ly hôn và giải quyết hậu quả của nó. Năm 1946, Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, đã xác nhận quyền
bình đẳng giữa nam và nữ trên mọi phương diện. Điều 9 Hiến pháp đã quy định
“ Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện”. Đây chính là cơ sở
pháp lý quan trọng cho việc đấu tranh xóa bỏ chế độ hôn nhân gia đình phong
kiến, đặt cơ sở cho việc xây dựng một chế độ hôn nhân gia đình mới dân chủ và
tiến bộ.
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 19

Để đáp ứng được tình hình và nhiệm vụ của giai đoạn đầu sau khi giành
được chính quyền trong khi chưa xây dựng được Bộ luật về hôn nhân gia đình,
Nhà nước ta đã ban hành hai sắc lệnh quy định về hôn nhân và gia đình: Sắc lệnh
số 97/SL ngày 22/5/1950 và Sắc lệnh số 159- SL ngày 17/11/1950.
Vấn đề ly hôn được Nhà nước ta quy định rõ tại Sắc lệnh số 159- SL ngày
17/11/1950. Sắc lệnh gồm 9 điều chia thành 3 mục: Duyên cớ ly hôn, thủ tục ly
hôn và hiệu lực của việc ly hôn. Cụ thể, tại mục đầu tiên về “ Duyên cớ ly hôn”
quy định cụ thể:
- Tòa án có thể cho phép vợ hoặc chồng ly hôn trong những trường hợp sau (Điều
2): Ngoại tình; một bên can án phát giam; một bên mắc bệnh điên hoặc bệnh khó
chữa khỏi; một bên bỏ nhà đi quá hai năm không có duyên cớ chính đáng; vợ

hội, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xác lập. Đó là cơ sở vững chắc của
chế độ hôn nhân gia đình mới xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, sắc lệnh 97 và sắc lệnh
159 với những hạn chế của mình đã không còn đáp ứng được những yêu cầu
trong tình hình mới. Do đó, cần phải xây dựng một chế độ hôn nhân gia đình cho
phù hợp với đạo đức xã hội chủ nghĩa, việc cần thiết là phải ban hành luật hôn
nhân gia đình mới là cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh xóa bỏ tận gốc rễ những
tàn tích lạc hậu của chế độ hôn nhân gia đình phong kiến. Nhận thức được điều
đó, Đảng và Nhà nước ta, tại kỳ họp Quốc hội khóa I ngày 29/12/1959 Luật hôn
nhân gia đình Việt Nam đã được thông qua và ngày 13/1/1960 được công bố.
Luật Hôn nhân và gia đình đầu tiên của nhà nước Việt Nam được ban hành
năm 1959 chỉ quy định một chế độ tài sản của vợ chồng, đó là chế độ cộng đồng
toàn sản. Quy định này đã thực sự bảo đảm được quyền lợi của người vợ trong
gia đình về tài sản. Tất cả tài sản vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 21

phải thuộc sở hữu của vợ và chồng: "Vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ
và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới"( Điều 15).
Khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, kinh tế - xã hội phát triển, tài sản
của công dân trở nên phong phú, đa dạng về giá trị sử dụng thực tế và giá trị tài
sản. Để đảm bảo thực sự quyền tự định đoạt của công dân, để bảo vệ tốt hơn
quyền của người phụ nữ, tạo môi trường pháp lý bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
tài sản giữa vợ và chồng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được ban hành,
đã quy định chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm quyền sở hữu đối với tài sản
chung và tài sản riêng. Việc ghi nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng là
nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của vợ, chồng, tạo điều kiện cho
vợ, chồng được tự định đoạt tài sản của mình mà không phụ thuộc vào ý chí của
bên kia.
Luật hôn nhân gia đình 1959 và Luật hôn nhân gia đình 1986 đã có những
bước tiến đáng kể trong việc bảo vệ quyền phụ nữ khi ly hôn, cụ thể:
Về quyền yêu cầu xin ly hôn, cả hai luật đều quy định bình đẳng giữa hai vợ

bộ hơn. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 trên cơ sở kế thừa và phát triển
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định rất rõ quyền bình đẳng nam nữ,
bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em. Ngay tại chương I Luật hôn nhân và gia
đình”Những vấn đề chung” quy định các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân
và gia đình. Hầu hết các nguyên tắc này đều ghi nhận quyền của người phụ nữ
với tư cách là thành viên trong gia đình . Đó là:
+ Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng;
+ Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số kế hoạc hóa gia đình;
+ Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con.”
+ Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em , giúp đỡ
các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.
Có thể thấy rằng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có sự phát triển
hơn so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Các nguyên tắc lần đầu tiên
được quy định rõ ràng, cụ thể trong một điều luật, thể hiện rõ nét quyền của phụ
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 23

nữ trong các quan hệ hôn nhân và gia đình. Trong các quy định về các chế định
cụ thể, quyền của người phụ nữ được quy định khá chi tiết:
Khoản 1 điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thể hiện sự bình
đẳng giữa vợ và chồng trong việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Nhà nước
bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau
thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì
quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích
của hôn nhân đã thực sự tan vỡ, điều đó có thể có lợi cho vợ chồng, con cái và
các thành viên khác trong gia đình. Quyền tự do ly hôn là quyền chính đáng và
bình đẳng giữa vợ chồng.
- Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Trong trường hợp vợ có thai
hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu
xin ly hôn” (Khoản 2, Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình). Bảo vệ quyền lợi
người phụ nữ, nhà làm luật đã hạn chế quyền ly hôn của người chồng.

Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành mặc dù đã điều chỉnh có hiệu quả nhiều
quan hệ về hôn nhân và gia đình phát sinh trong thực tiễn, nhưng vẫn còn những
hạn chế, bất cập như: Một số quy định liên quan đến thực hiện quyền con người,
đặc biệt là về bình đẳng giới còn mang tính hình thức, không thực chất và không
khả thi.
Về ly hôn, để tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án giải quyết trường hợp người bị tâm
thần hoặc mắc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi
đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ, dự thảo Luật đưa
ra quy định cho phép cha, mẹ, người thân thích khác của người này có quyền yêu
cầu giải quyết ly hôn để bảo vệ quyền lợi cho họ.
Ngoài ra, để bảo vệ tốt hơn quyền của người vợ sinh con, dự thảo mở rộng hơn
quy định của Luật hiện hành về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng,
Nguyễn Thị Lý- K55CLC 25

Trích đoạn Hoàn thiện pháp luật Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến Luật Hôn nhân và gia đình Thực hiện xã hội hóa bảo vệ quyền phụ nữ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status