ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ KHÁNH LINH
BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ KHÁNH LINH
BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
NĂM 2014
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
MỞ ĐẦU
Chương 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ
8
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
1.1.
Khái niệm quyền phụ nữ
8
1.1.1. Khái niệm quyền con người
8
1.1.2. Khái niệm quyền phụ nữ
11
1.2.
Khái niệm bảo vệ quyền của phụ nữ bằng pháp luật
11
21
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2014
2.1.
Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ việt nam trong quan hệ nhân thân
2.1.1. Khái quát về quyền nhân thân của cá nhân và quan hệ nhân
21
21
thân của người phụ nữ trong hệ hôn nhân và gia đình
2.1.2. Nội dung bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ nhân thân
24
2.2.
50
Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ tài sản
2.2.1. Bảo vệ quyền của phụ nữ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử
iv
51
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI
84
PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ
TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
3.1.
Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong pháp
84
luật hôn nhân và gia đình hiện hành
3.1.1. Đánh giá chung
84
3.1.2. Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong một số vấn đề cụ thể
86
3.2.
100
Nguyên nhân của bất cập, hạn chế trong việc bảo vệ quyền lợi
phụ nữ ở nước ta hiện nay
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
114
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật dân sự
HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Người đứng tên giấy tờ sở hữu/ quyền sử dụng một số tài
87
bảng
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quyền con người và quyền công dân là yếu tố quan trọng trong mục
tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, nó được khẳng định
là chế định cơ bản nhất của mọi bản Hiến pháp. Sự phát triển của lịch sử loài
người đã chứng minh sức mạnh to lớn của nhu cầu về quyền tự do. Quyền
được xem xét dưới góc độ là nhu cầu độc lập, đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho
con người, đặc biệt là ở lĩnh vực chống áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội công
bằng, dân chủ, tự do. Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa những tiền đề, điều
kiện giải phóng con người gắn liền với sự thay đổi về quan hệ sở hữu tư liệu
sản xuất, đặc biệt là việc thiết lập chế độ chính trị với bản chất "tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân".
Quyền con người là khái niệm rộng, bao gồm các quyền của cá nhân,
tập thể, của nhóm người, cộng đồng người trong xã hội. Trong đó, với những
đặc trưng về giới tính, phụ nữ là một trong những nhóm người dễ bị tổn
thương nhất, cần phải được quan tâm, bảo vệ một cách đặc biệt. Tuy nhiên, ở
hầu hết các xã hội trên thế giới, phụ nữ thường không nhận được sự quan tâm,
bảo vệ thích đáng của xã hội, thậm chí bị phân biệt đối xử, bị ngược đã. Từ
đầu thế kỉ XX đến nay, Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác đã ban
hành nhiều điều ước quốc tế nhằm bảo vệ quyền của phụ nữ. Trong đó, nổi
bật nhất là Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ
nữ năm 1979 (viết tắt là CEDAW).
Mục đích của CEDAW là nhằm trao cho phụ nữ những quyền con
người đã được pháp luật quốc tế thừa nhận nhưng họ không được hưởng trên
thực tế bởi sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Công ước giải quyết vấn đề bất
bình đẳng giới theo hướng: không chỉ đưa ra những quy phạm chung áp dụng
cho cả nam và nữ mà còn xây dựng những quy phạm riêng có tính chất ưu
1
đầu tiên của Nhà nước ta cho đến Luật HN&GĐ năm 2014. Nhờ đó, quyền lợi
của người phụ nữ được bảo vệ, vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã
hội ngày càng được khẳng định. Luật HN&GĐ năm 2014 là cơ sở pháp lý quan
trọng để đảm bảo tố các quyền HN&GĐ cho người phụ nữ trên cơ sở nguyên
tắc nam nữ bình đẳng, đó chính là thực hiện nhiệm vụ giải phóng phụ nữ.
Việc quan tâm và nghiên cứu về đời sống của người phụ nữ trong
quan hệ HN&GĐ cần được nhìn nhận, xem xét một cách cụ thể và rõ ràng
hơn thông qua các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 cũng như thực tiễn
đời sống hôn nhân trong xã hội hiện nay. Do vậy, đề tài "Bảo vệ quyền lợi
phụ nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014" được lựa
chọn để tìm hiểu và nghiên cứu nhằm góp phần bảo vệ quyền lợi, kiến nghị
hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc quan tâm và nghiên cứu về đời sống của người phụ nữ trong thời
kỳ hôn nhân và sau khi li hôn đã được đề cập đến rất nhiều trên khía cạnh về
mặt đời sống của xã hội. Về mặt quy định của pháp luật, việc bảo vệ quyền
lợi của người phụ nữ trong quá trình hôn nhân cũng được đề cập thông qua
quy định pháp luật trong Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014
và các văn bản hướng dẫn các luật này. Tuy nhiên, những quy định của pháp
luật về bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong Luật HN&GĐ chưa được
đem ra nghiên cứu một cách có hệ thống và cụ thể. Đối với việc bảo vệ quyền
lợi của người phụ nữ Việt Nam trong Luật HN&GĐ thì đã có một số công
trình ở nhiều cấp độ khác nhau đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề này:
Nhóm giáo trình, sách bình luận: Đinh Mai Phương (2006), Bình luận
khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội; Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường (2002), Một số vấn đề lí luận và
thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
nữ Việt Nam trong Luật HN&GĐ năm 2014. Do vậy, việc lựa chọn nghiên
cứu đề tài "Bảo vệ quyền lợi phụ nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
4
năm 2014" sẽ góp phần làm rõ nội hàm của vấn đề trên cũng như đóng góp
được những kiến nghị cụ thể, có giá trị đối với việc hoàn thiện quy định của
pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi
của phụ nữ Việt Nam.
- Tìm hiểu một cách có hệ thống và hoàn chỉnh những quy định của
pháp luật hiện hành về việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật có liên quan đến việc bảo vệ
quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ HN&GĐ.
- Trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực trạng thực thi pháp
luật như trên, tác giả mạnh dạn nêu lên những kiến nghị góp phần hoàn thiện
những quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của
pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Vấn đề bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam là vấn đề tương đối
phức tạp vì vấn đề này không chỉ liên quan đến các quy định của pháp luật
HN&GĐ mà còn liên quan đến các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật
đất đai, nhà ở… Tuy nhiên, dưới góc độ phạm vi nghiên cứu của một luận văn
thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản liên
quan đến bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và các quy định của pháp luật hiện
hành liên quan đến vấn đề này, đặc biệt là các quy định của Luật HN&GĐ
năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này. Bên cạnh đó, tác giả
cũng khảo cứu thêm về thực tiễn thực thi các quy định của pháp luật có liên
cần nghiên cứu; từ đó, phân tích và tổng hợp số liệu để rút ra các nhận định
phù hợp để làm cơ sở thực tiễn cho việc đưa ra các kiến nghị về việc hoàn
thiện pháp luật.
7. Điểm mới của luận văn
Tiếp cận một cách khoa học các vấn đề lí luận về việc bảo vệ quyền
lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ HN&GĐ. Xây dựng khái niệm bảo vệ
quyền lợi của phụ nữ bằng pháp luật.
6
Đánh giá khách quan các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến
việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và thực tiễn thi hành các quy định này.
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện cac quy định của
pháp luật và tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong
quan hệ HN&GĐ.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan
hệ hôn nhân và gia đình.
Chương 2: Nội dung bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ
hôn nhân và gia đình.
7
Chương 1
tế - xã hội (quyền lao động, quyền học tập, quyền được bảo vệ sức khỏe,…).
10
1.1.2. Khái niệm quyền phụ nữ
Là một nội dung cụ thể của quyền con người, quyền phụ nữ cần phải
được nghiên cứu trong mối quan hệ khăng khít với quyền con người. Do đó,
nếu hiểu theo nghĩa rộng, quyền phụ nữ là khái niệm dùng để chỉ quyền con
người của phụ nữ. Đó là những quyền tất yếu, không bị tước bỏ bởi bất cứ ai,
bất cứ chính thể nào.
Là quyền con người cụ thể, quyền phụ nữ cũng hàm chứa những đặc
tính cơ bản của quyền con người đó là tính phổ quát, tính đặc thù và tính giai
cấp. Tuy nhiên, người phụ nữ với những đặc điểm gắn liền với giới tính tự
nhiên thì ngoài quyền con người nói chung, họ còn có những quyền gắn liền
với thiên chức của mình như quyền làm mẹ, quyền được bảo vệ với tư cách là
nhóm người dễ bị tổn thương. Tiếp cận theo hướng này (nghĩa hẹp), quyền
phụ nữ còn có thể hiểu là những quyền tất yếu, gắn liền với đặc điểm giới tính
tự nhiên mà người phụ nữ phải được hưởng.
Dưới góc độ pháp lý, quyền phụ nữ còn được hiểu là: tập hợp những
khả năng pháp luật mỗi quốc gia công nhận cho người phụ nữ được hưởng,
được làm và được đòi hỏi.
1.2. KHÁI NIỆM BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ BẰNG PHÁP LUẬT
Chiếm hơn một nửa trong xã hội nhưng phụ nữ lại là nhóm đối tượng
dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi. Theo thống kê của Liên hợp quốc,
phụ nữ chiếm đa số trong những người nghèo khổ của thế giới, trong tình
trạng đó, phụ nữ luôn là người bị thiệt thòi nhiều nhất về ăn uống, sức khỏe,
giáo dục, đào tạo, cơ hội có việc làm và những nhu cầu khác; quyền được
sống, tự do và an ninh cá nhân, kể cả quyền sống mạnh khỏe của người phụ
Hành động bảo vệ quyền phụ nữ là những cách thức được sử dụng để
chống lại các hành vi xâm phạm tới quyền phụ nữ. Đối với một cá nhân,
thông thường, có hai cách thức bảo vệ quyền phổ biến là: Tự mình bảo vệ và
yêu cầu sự bảo vệ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Mỗi chủ thể khác
nhau sẽ lựa chọn những cách thức bảo vệ quyền phụ nữ khác nhau (ví dụ: Bản
thân người phụ nữ có thể bảo vệ quyền của mình bằng cách sử dụng cả hai
12
biện pháp trên). Tuy nhiên, với những chủ thể đặc biệt như cộng đồng quốc tế
hay một quốc gia, việc lựa chọn những cách thức phù hợp để bảo vệ quyền
phụ nữ có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đảm bảo cho hành vi bảo vệ đạt
được hiệu quả.
Như vậy, có nhiều phương thức để bảo vệ quyền con người, song
phương thức quan trọng và không thể thiếu ấy chính là bảo vệ quyền con
người bằng pháp luật. Theo đó, bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ
quyền quyền của phụ nữ bằng pháp luật nói riêng trước hết phải hiểu được sự
ghi nhận các quyền con người bằng pháp luật và phải đảm bảo quyền đó được
thực hiện. Mặt khác, do phụ nữ là một nhóm xã hội đặc biệt, bởi vậy quyền
phụ nữ phải được xem xét và ghi nhận dựa trên cơ sở của vấn đề bình đẳng
giới. Chính vì vậy, bảo vệ quyền phụ nữ nói riêng và bảo vệ quyền con người
nói chung phải kể đến vai trò quan trọng của Nhà nước. Nhà nước ghi nhận
quyền con người, quyền phụ nữ và đảm bảo cho quyền này được thực hiện.
Pháp luật chính là phương thức mang lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ
quyền con người nói chung, quyền phụ nữ nói riêng. Bảo vệ quyền phụ nữ
bằng pháp luật được hiểu là sự ghi nhận các quyền con người của phụ nữ vào
các quy phạm pháp luật, đồng thời đảm bảo cho quyền đó được thực hiện trên
thực tế bằng các chế tài nhất định. Pháp luật được bảo đảm thực thi bằng
quyền lực nhà nước nên bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hiện nay là cách
thực hiện bằng tính cưỡng chế tuyệt đối của pháp luật. Sử dụng hiệu quả công
cụ bảo vệ này chính là sự thể hiện trình độ quản lý của một quốc gia.
Hiện nay, quyền con người về HN&GĐ đã được công nhận rộng rãi
trên toàn thế giới. "Tôn trọng, thực thi và bảo vệ quyền con người về hôn
nhân và gia đình đã thực sự là tiêu chí để đánh giá tiến bộ xã hội không chỉ
mang tính quốc gia mà còn mang tính toàn cầu" [12, tr. 15]. Bảo vệ quyền
phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ cũng chính là một trong những hành động cụ
thể của việc bảo vệ quyền phụ nữ nói riêng, quyền con người nói chung,
mang lại ý nghĩa sâu sắc về mặt thực tiễn, góp phần vào nỗ lực chung của
toàn nhân loại trong việc đấu tranh chống lại sự phân biệt đối xử giữa nam và
nữ, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ của toàn nhân loại.
14
1.4. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA
PHỤ NỮ TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Nhận thức của con người về vai trò của người phụ nữ đã xuất hiện từ
rất sớm nhưng vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ chỉ thực sự được coi như một
trách nhiệm, một yêu cầu cấp thiết khi Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ra
đời (1948). Tuyên ngôn đã nhấn mạnh: Bà mẹ và trẻ em được đảm bảo chăm
sóc và giúp đỡ đặc biệt. Đây là sự thừa nhận của xã hội đối với chức năng
làm mẹ của người phụ nữ, với chức năng này, người mẹ được coi là chủ thể
đặc biệt của xã hội, họ có quyền được ưu tiên chăm sóc, giúp đỡ, bảo vệ.
Sau Tuyên ngôn nhân quyền, sự quan tâm của nhân loại đối với người phụ
nữ và việc bảo vệ quyền lợi của họ đã được thể hiện ngày càng rõ hơn. Hiện
nay, vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ nói chung, bảo vệ quyền phụ nữ trong quan
hệ kết hôn với người nước ngoài nói riêng đã được công nhận rộng rãi trên
toàn thế giới. Tôn trọng, bảo vệ quyền phụ nữ đã thực sự là tiêu chí để
giành quyền bình đẳng đó. Điều 16, đề cập tới quan hệ HN&GĐ, khẳng định
quyền bình đẳng và nghĩa vụ của phụ nữ và nam giới trong việc lựa chọn bạn
đời, làm cha mẹ, quyền nhân thân và làm chủ mọi tài sản của mình;…
Là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham gia và phê
chuẩn Công ước CEDAW, cho đến nay, trải qua hơn 30 năm phát triển, với
vai trò là thành viên của Công ước, Việt Nam đã tích cực nội luật hóa các quy
định của CEDAW vào hệ thống pháp luật, ban hành nhiều văn bản quy phạm
pháp luật với nội dung bảo vệ quyền phụ nữ như: Bộ luật dân sự (BLDS) năm
1995, 2005; Luật HN&GĐ năm 2014, Luật phòng, chống bạo lực gia đình
năm 2007, Luật bình đẳng giới năm 2008, …
Như vậy, mặc dù chưa có nhiều quy định về bảo vệ quyền phụ nữ
trong quan hệ HN&GĐ nhưng các văn bản pháp luật quốc tế nói trên đã tạo
tiền đề để các quốc gia có cơ sở, nội luật hóa những quy định trên vào hệ
thống pháp luật quốc gia, góp phần bảo vệ cụ thể hơn quyền phụ nữ trong
quan hệ HN&GĐ.
16
1.5. SƠ LƢỢC PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA
PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
1.5.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm sống dưới chế độ phong
kiến, gần một trăm năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, phụ nữ Việt
Nam vừa bị áp bức về giai cấp vừa bị trói buộc bởi lễ giáo phong kiến hà
khắc. Từ năm 1954, với Hiệp định Gơnevơ, nước ta bị chia cắt thành hai miền
Nam - Bắc. Do đó, pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự nói chung, quan hệ
hôn nhân nói riêng ở mỗi miền có sự khác nhau.
- Pháp luật điều chỉnh vấn đề bảo vệ quyền lợi phụ nữ trong quan