Báo cáo vấn đề hôn nhân thực tế theo luật hôn nhân và gia đình việt nam - Pdf 33

nghiên cứu - trao đổi

Vấn đề hôn nhân thực tế theo
luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
thS. Nguyễn Văn Cừ *

1. Hôn nhân thực tế là thuật ngữ
pháp lí để chỉ những trờng hợp hai bên
nam nữ chung sống trong quan hệ vợ
chồng, đ đợc gia đình, x hội thừa nhận
nhng cha đăng kí kết hôn tại cơ quan
hộ tịch, cha đợc cấp giấy chứng nhận
kết hôn. Khi có tranh chấp, các đơng sự
thờng yêu cầu tòa án công nhận giữa họ
có hôn nhân thực tế để bảo đảm quyền
lợi của mình. Đ qua hàng chục năm áp
dụng Luật HN&GĐ nhng cho đến nay,
xét cả về mặt học lí và thực tế áp dụng
vẫn còn nhiều quan điểm, nhận thức khác
nhau về hôn nhân thực tế.
2. Do nhiều yếu tố, đặc biệt là thực tế
cuộc sống trong lĩnh vực HN&GĐ trong
mấy chục năm vừa qua, pháp luật
HN&GĐ của Nhà nớc ta đ ở mức độ
này hay mức độ khác, công nhận có hôn
nhân thực tế nhằm bảo vệ quyền lợi
chính đáng của các đơng sự.
2.1. Do ảnh hởng của phong tục, tập
quán trong x hội phong kiến, theo tập
quán, các nghi lễ về giá thú ngày nay đại
thể đều là các nghi lễ đ đợc quy định từ

buộc, là đạo hiếu với tổ tiên, cha mẹ,
dòng tộc... từ đó có nhận thức, coi trọng
lễ mà xem nhẹ luật; dẫn đến nhiều
việc kết hôn chỉ cới theo tập quán
mà không đăng kí kết hôn.
2.2. Do ý thức pháp luật của quần
chúng nhân dân còn hạn chế. Bên cạnh
đó, nhiều năm vấn đề kiện toàn cơ quan
nhà nớc có thẩm quyền đăng kí việc kết
hôn cha đợc tiến hành chặt chẽ (đặc
biệt là ở vùng đồng bào dân tộc miền núi,
vùng hải đảo xa xôi, đồng bào theo
đạo...); cha thấy hết giá trị pháp lí của
giấy chứng nhận kết hôn" và ý nghĩa của
thủ tục đăng kí kết hôn... đ dẫn đến ý
thức coi thờng quy định về thủ tục đăng
kí kết hôn, cũng là nguyên nhân của
nhiều việc "kết hôn" không đăng kí.
2.3. Do điều kiện lịch sử, chiến tranh
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội


nghiên cứu - trao đổi

lâu dài, trong thời gian chiến tranh, nhiều
đôi nam nữ thuận tình chỉ đợc hai bên
gia đình tổ chức lễ cới vội v theo tục lệ
mà không thể thực hiện thủ tục đăng kí
kết hôn tại ủy ban hành chính (nay là ủy

Cho đến nay việc "kết hôn không
đăng kí" xảy ra khá phổ biến ở hầu khắp
các tỉnh, có địa phơng tỉ lệ chiếm từ
60% - 80%(3).
3. Trong quá trình thực hiện và áp
dụng luật, mặc dù Luật HN&GĐ 1959
(trớc đó là Sắc lệnh số 97-SL ngày
22/05/1950 về sửa đổi một số quy lệ và

chế định trong dân luật) và Luật HN&GĐ
1986 cha có quy định cụ thể về vấn đề
"hôn nhân thực tế" nhng Tòa án nhân
dân tối cao đ có nhiều hớng dẫn về
cách thức giải quyết vấn đề "hôn nhân
thực tế" để tòa án nhân dân các cấp vận
dụng.
3.1. Theo Thông t số 112-NCPL
ngày 19/8/1972 của TANDTC hớng dẫn
đờng lối xử lí việc kết hôn vi phạm luật
nh sau: Chỉ coi là hôn nhân thực tế việc
kết hôn cha đăng kí mà hai bên nam nữ
đ tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn
khác, chỉ vi phạm thủ tục đăng kí kết
hôn. Kể từ khi kết hôn đ thực sự chung
sống công khai, gánh vác chung công
việc gia đình, đợc họ hàng, x hội xung
quanh coi nh vợ chồng.
Có thể coi đoạn hớng dẫn này nh
định nghĩa về "hôn nhân thực tế". Quá
trình áp dụng, tùy vào điều kiện, hoàn

quyết các tranh chấp về thừa kế đ ghi
nhận: Trờng hợp hai bên nam nữ chung
sống nh vợ chồng có đủ điều kiện công
nhận "hôn nhân thực tế", khi một bên
chết trớc, ngời còn sống với t cách là
vợ góa, chồng góa của ngời chết, sẽ
đợc hởng thừa kế theo luật ở hàng thứ
nhất, cùng với cha, mẹ và các con của
ngời chết.
3.2. Điều 9 Luật HN&GĐ năm 1986
quy định: "Việc kết hôn vi phạm một
trong các điều 5, 6, 7 của Luật này là trái
pháp luật, tòa án nhân dân có quyền hủy
việc kết hôn trái pháp luật đó". Quy định
này theo chúng tôi, thực chất đ chấp
nhận có "hôn nhân thực tế"; vì tại Điều 8
(đoạn cuối) vừa quy định "mọi nghi thức
kết hôn khác đều không có giá trị pháp
lí". Chính vì kĩ thuật lập pháp nh vậy đ
dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về
"hôn nhân thực tế".
Dựa vào Điều 9 Luật HN&GĐ năm
1986, Nghị quyết số 01-NQ/HĐTP ngày
20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán
TANDTC hớng dẫn TAND các cấp áp
dụng một số quy định của Luật HN&GĐ
năm 1986, ở mục kết hôn vi phạm Điều 8
đ chỉ rõ: Nếu việc kết hôn không trái với
một trong các điều 5, 6, 7 của Luật
HN&GĐ thì không bị coi là trái pháp

Trên thực tế, nhiều trờng hợp hai bên
nam nữ ăn ở, chung sống với nhau nh vợ
chồng, không vi phạm một trong các điều
5, 6, 7 của Luật HN&GĐ nhng vẫn
không đủ điều kiện để công nhận có "hôn
nhân thực tế". Với những cách hiểu
không thống nhất, dễ dẫn đến tình trạng
vận dụng tùy tiện trong xét xử của các
cấp tòa án nh cùng một vụ việc với nội
dung nh nhau, có trờng hợp đợc tòa
án công nhận là "hôn nhân thực tế", có
trờng hợp lại bác đơn yêu cầu của đơng
sự!
3.3. Theo kết luận của Chánh án
TANDTC tại báo cáo tổng kết công tác
ngành tòa án năm 1995 đ hớng dẫn với
quan điểm: Sau nhiều năm thực hiện Luật
HN&GĐ, ý thức pháp luật của nhân dân
đ đợc nâng cao, tiến tới xu hớng xóa
bỏ tình trạng "hôn nhân thực tế". Giai
đoạn hiện nay chỉ công nhận có "hôn
nhân thực tế" đối với những trờng hợp
hai bên nam nữ đ chung sống với nhau
đợc hàng chục năm hoặc có con chung,
tài sản chung. Nh vậy, hớng dẫn này đ


nghiên cứu - trao đổi

"định lợng" về mặt thời gian chung sống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status