ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH BÌNH
BẢO VỆ NHÓM YẾU THẾ TRONG BỘ LUẬT HỒNG
ĐỨC VÀ GIÁ TRỊ KẾ THỪA TRONG VIỆC HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH BÌNH
BẢO VỆ NHÓM YẾU THẾ TRONG BỘ LUẬT HỒNG
ĐỨC VÀ GIÁ TRỊ KẾ THỪA TRONG VIỆC HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số
: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1.1.1.1 Tiểu nông hóa nền nông nghiệp, nông thôn ............................................... 16
1.1.1.2 Các chính sách lớn về nông nghiệp ............................................................. 20
a. Chế độ Lộc điền .................................................................................................... 20
b. Chế độ Quân điền ................................................................................................. 21
1.1.2 Chính trị ........................................................................................................... 22
1.1.2.1 Xây dựng đội ngũ quan liêu đƣợc đào tạo về Nho giáo ............................ 22
1.1.2.2 Xây dựng bộ máy hành chính từ trung ƣơng tới địa phƣơng .................. 25
1.1.3 Pháp luật ........................................................................................................... 26
a. Giai đoạn Lê triều toàn thịnh (1428 – 1527) ...................................................... 28
b. Giai đoạn Nam – Bắc phân tranh (1527 – 1788) ............................................... 28
1.1.4 Chính sách ngoại giao ..................................................................................... 29
1.2 Đặc điểm của các NYT và cơ sở quan điểm về bảo vệ NYT trong xã hội Hậu
Lê ................................................................................................................................ 29
1.2.1 Cơ sở quan điểm bảo vệ NYT trong xã hội dƣới triều Hậu Lê ................... 29
2
1.2.1.1 Ảnh hƣởng của Nho giáo ............................................................................. 29
1.2.1.2 Yêu cầu bảo đảm quyền lợi cho các nhóm xã hội ...................................... 32
1.2.2 Đặc điểm các Nhóm yếu thế trong xã hội Hậu Lê ....................................... 33
1.3 Khái niệm, quan điểm về bảo vệ các Nhóm yếu thế triều Hậu Lê đƣợc
thể hiện trong Quốc triều hình luật ........................................................................ 35
1.3.1 Khái niệm Nhóm yếu thế trong Quốc triều hình luật .................................. 35
1.3.2 Quan điểm của nhà Lê trong bảo vệ Nhóm yếu thế ..................................... 36
a. Giảm nhẹ hình phạt cho ngƣời yếu thế khi phạm tội........................................ 36
b. Giành nhiều ƣu ái với Nhóm yếu thế trong đời sống, xã hội ............................ 38
Chƣơng 2: Nội dung các qui định pháp luật về bảo vệ quyền lợi các Nhóm
yếu thế trong Quốc triều hình luật .......................................................................... 39
2.1 Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ ............................................................................. 39
2.1.1 Pháp luật mang tính nhân đạo với ngƣời phụ nữ phạm tội ....................... 40
3.1.3 Trách nhiệm, vai trò của Nhóm yếu thế với cộng đồng ............................... 62
4
3.2 Định hƣớng kế thừa các giá trị đƣơng đại về bảo vệ Nhóm yếu thế trong
Quốc triều hình luật với yêu cầu xây dựng NNPQXHCN Việt Nam hiện nay ... 64
3.2.1 Yêu cầu của NNPQXHCN Việt Nam với công tác bảo vệ, bảo đảm
quyền và lợi ích cho Nhóm yếu thế ......................................................................... 64
a. Đảm bảo quyền lợi cho mọi nhóm đối tƣợng trong xã hội, trong đó chú
trọng tới các chính sách có lợi cho Nhóm yếu thế ................................................. 65
b. Xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đảm bảo các quyền cơ bản của
những ngƣời thuộc Nhóm yếu thế, đảm bảo tính thƣợng tôn pháp luật để
các quy định về bảo vệ NYT đƣợc triệt để thực hiện ........................................... 65
c. Hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức, nhân viên hoạt động trong lĩnh vực
liên quan tới Nhóm yếu thế ...................................................................................... 66
d. Hoàn thiện quy định về trợ giúp pháp lý với ngƣời thuộc Nhóm yếu thế
khi vi phạm pháp luật .............................................................................................. 67
3.2.2 Quan điểm kế thừa các giá trị đƣơng đại về bảo vệ Nhóm yếu thếcủa
Quốc triều hình luật ở Việt Nam hiện nay ............................................................. 69
3.2.2.1 Kế thừa các giá trị bảo vệ Nhóm yếu thế trong Quốc triều hình luật
phù hợp với mục tiêu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam .......... 69
3.2.2.2 Kế thừa những điểm tiến bộ về bảo vệ Nhóm yếu thế trong Quốc
triều hình luật mà pháp luật hiện nay còn bỏ ngỏ ................................................. 70
3.2.2.3 Kế thừa các giá trị của Quốc triều hình luật về Nhóm yếu thế theo
hƣớng chỉnh lƣợc có chọn lọc .................................................................................. 71
5
NNPQ
Nhà nước pháp quyền
NNPQXHCN
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong xã hội hiện nay, các nhóm xã hội yếu thế luôn phải chịu nhiều thiệt thòi,
ít có cơ hội nói lên tâm tư nguyện vọng của mình, bị kỳ thị, định kiến trong xã
hội, quyền và lợi ích chính đáng của họ không được quan tâm đúng mức. Hiện nay
các nhóm người yếu thế trong xã hội ở Việt Nam bao gồm 7 nhóm người: người
khuyết tật, người có HIV, lao động di cư, phụ nữ, thanh niên, người dân tộc thiểu
số, người đồng tính – song tính – chuyển giới.
Việc phải đặt ra các quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các nhóm người yếu thế trong xã hội không phải là một vấn đề mới được đề cập tới
trong giai đoạn hiện nay. Từ xa xưa với tinh thần tương thân tương ái của dân tộc,
trong các bộ luật thời trung đại, nhà làm luật đã dự tính tới những vấn đề này nên
đã ban hành nhiều quy định tiến bộ để bảo vệ cho các nhóm người yếu thế trong
xã hội. Trong những bộ luật phong kiến ở nước ta thì Luật Hồng Đức – sau đây
NYT trong xã hội lúc bấy giờ bao gồm: Phụ nữ, trẻ em, người già, người tàn tật,
người cô quả, các nhóm dân tộc thiểu số ít người.
2. Từ đó tìm ra các quy định tiến bộ, phù hợp có thể học tập, áp dụng vào các
quy định của pháp luật hiện nay nhằm thực hiện tốt hơn công tác an sinh xã hội,
bảo đảm quyền và lợi ích cho những NYT chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội hiện
nay.
9
3. Tính mới và những đóng góp của đề tài nghiên cứu.
Luận văn có những điểm mới cơ bản sau:
Tác giả luận văn đã phân tích, làm rõ việc bảo vệ NYT trong QTHL từ góc
độ lịch sử.
Nội dung các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi các NYT trong QTHL.
Chỉ ra những giá trị đương đại của pháp luật về bảo vệ quyền lợi các NYT
trong QTHL và định hướng kế thừa các giá trị đó trong quá trình xây dựng NN
pháp quyền Việt Nam hiện nay.
Nhận diện các giá trị của QTHL với vấn đề bảo vệ NYT trong xã hội phong
kiến đương thời trên các phương diện: khái niệm, quy định pháp luật, giá trị cần
bảo, phát huy.
Đánh giá công tác thực hiện chính sách, pháp luật về NYT. Những điểm
thiếu sót của pháp luật hiện nay mà các quy định trong QTHL có thể bổ sung, khắc
phục nhất là vấn đề trách nhiệm pháp lý của người yếu thế khi phạm tội, vấn đề
hình phạt, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan NN với NYT.
Đề xuất các giải pháp kế thừa quy định trong QTHL về NYT phù hợp với xu
hướng, tình hình hiện nay nhằm hoàn thiện, nâng cao quy định về bảo vệ NYT.
4.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định pháp luật về bảo vệ
quyền lợi của NYT trong QTHL.
(2010) và các chương trình quốc gia hỗ trợ NYT như: Chương trình 135, Chiến
lược An sinh xã hội Việt Nam từ 2011 – 2020.
PGS.TS Hoàng Kim Quế đã có bài viết “Bảo vệ quyền lợi phụ nữ trong
Quốc triều hình luật (Lê Triều hình luật) - Tính tiến bộ, nhân văn và giá trị đương
đại”được đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 28 (2012). Bài viêt đã
phân tích điểm tiến bộ của Quốc Triều Hình Luật – QTHL trong bảo vệ quyền lợi
phụ nữ, tính kế thừa trong pháp luật và đời sống xã hội Việt Nam đương đại.
Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn, khoa Luật ĐHQGHN với bài viết “Những giá
trị tích cực của Nho giáo trong Bộ Quốc triều hình luật” được đăng trên Tạp chí
khoa học, ĐHQGHN, chuyên san Kinh tế - Luật, T.XX, No 4, 2004, trang 39-44.
Bài viết đã phân tích những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo tới các chính sách
trong Quốc triều hình luật, trong đó bao gồm các chính sách với các đối tượng yếu
thế trong xã hội.
Cùng với rất nhiều bài viết, nghiên cứu khoa học đăng trên các báo, tạp chí
chuyên ngành có nội dung về những tiến bộ của các quy định trong QTHL về bảo
vệ, chăm sóc NYT, những giá trị cần kế thừa, học hỏi.
6. Các vấn đề cần nghiên cứu.
Mặc dù đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về việc bảo vệ các NYT trong
QTHL nhưng chủ yếu chỉ xoay quanh vấn đề về các quy định nhằm bảo vệ phụ nữ,
trẻ em mà chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu toàn bộ các quy định
nhằm bảo vệ các NYT khác trong QTHL để từ đó rút ra được những điểm tiến bộ
và bài học kinh nghiệm trong xây dựng pháp luật trong bảo vệ các NYT trong xã
hội trong bộ luật hiện nay. Để làm được điều đó, cần phải có những nghiên cứu,
12
đánh giá đầy đủ hơn để nhằm làm rõ hơn những tiến bộ cùng với thành tựu trong
việc bảo vệ các NYT trong bộ QTHL từ đó chọn lọc những điểm phù hợp, có thể
áp dụng vào hệ thống pháp luật hiện nay của nước ta rút ra kinh nghiệm, bài học
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và
các cách tiếp cận khách quan, khoa học khác. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử và khoa học pháp lý, bao gồm: phương
pháp tiếp cận lịch sử cụ thể, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương
pháp thống kê và phương pháp so sánh, nghiên cứu tình hình thực tiễn để làm sáng
tỏ các vấn đề cần nghiên cứu, làm rõ.
Cụ thể, chương 1 và chương 2 của Luận văn sử dụng phương pháp phân tích
thống kê tư liệu và phương pháp so sánh làm cơ sở nhận diện các giá trị quan trọng
của QTHL liên quan tới NYT. Tại chương 3, tác giả chủ yếu vận dụng phương
pháp luật học so sánh để làm rõ những vấn đề trong QTHL có sự liên quan, tương
đồng với pháp luật về NYT hiện nay để rút ra những bài học, những giá trị, kinh
nghiệm có thể áp dụng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung luận
văn bao gồm 3 chương, cụ thể:
14
Chương 1: Bảo vệ các nhóm yếu thế trong Quốc triều hình luật: Nhận diện từ
khía cạnh lịch sử;
Chương 2: Nội dung các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi các nhóm yếu
thế trong Quốc triều hình luật;
Chương 3: Giá trị đương đại của pháp luật về bảo vệ quyền lợi các nhóm yếu
thế trong Quốc triều hình luật và định hướng kế thừa các giá trị đó trong quá trình
xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay;
15
Chƣơng 1
ngạch cũ, của các thế gia triều trước, của những người tuyệt tự, cùng ruộng đất và
sản vật từng mùa của các ngụy quan của lính trốn”1, đến cuối năm đó lại có lệnh:
“chỉ thị cho các phủ, huyện, lộ, trấn khám xét các bãi ruộng đất...cùng ruộng đất
đã xung công của các thế gia và những người tuyệt tự và ruộng đất của những
người đào ngũ”.
Việc kiểm soát dân đinh được nhà Lê rất chú trọng thực hiện vì đây là nguồn
nhân lực đảm bảo cho sản xuất, đảm bảo nhân lực cho quân đội, nếu ai vi phạm
đều bị trị tội: Điều 285 QTHL quy định: “ Các xã quan làm sổ hộ khẩu mà khai bỏ
sót số dân đinh, thì từ một người trở lên xử tội biếm; 6 người trở lên xử tội đồ; 15
người trở lên xử tội lưu, 20 người trở lên thì xử tội lưu đi châu xa là cùng. Những
dân đinh xót lậu từ 15 tuổi trở lên, thì bắt làm lính ở bản phủ và truy thu tiền khóa
dịch nộp vào kho; người chứa chấp phải chịu một nửa tiền khóa dịch…”
Các đời vua tiếp nối vua Lê Thái Tổ cũng rất quan tâm tới nông nghiệp, coi
nông nghiệp là “gốc rễ trong nước” cho nên nhà Lê đã ban hành nhiều chính sách
khuyến nông, đề cao phương châm: “ Bất vi nông thời – không làm trái thời vụ nhà
nông” và “ Sử dân vĩ thời – Sai khiến dân thì phải chú ý tới nông vụ”. Ngay sau
1
Đại Việt sử ký toàn thư ( 2009), Nxb. Văn học, Hà Nội, Tr. 296
17
trong thời kỳ còn đang phải đánh giặc Minh xâm lược vua Lê Lợi đã nghĩ tới việc
ổn định nền nông nghiệp để làm kế lâu dài, trong Đại Việt sử ký có chép việc Lê
Lợi ra lệnh: “Đợi khi phá được thành Đông Quan, sẽ cho 25 vạn người về làm
ruộng, chỉ để lại 10 vạn làm quân để phòng việc nước2”, các vua Lê sau khi lên
ngôi cũng noi gương Lê Thái Tổ đều rất chú trọng nông nghiệp, khi đến mùa vụ
đều cho bớt quân dân phục dịch được về làm ruộng, như việc năm 1466 vua Lê
giêng, người xã nào ở trong đường đê phải đến nhận phần đắp đê…quá hạn mà
không xong thì quan lộ bị phạt, quan giám bị biếm. Quân lính và dân đinh…bị
trượng hoặc biếm” – Điều 181 QTHL.
Năm 1481, vua Lê Thánh Tông quyết định cho thành lập 43 sở đồn điền
trong cả nước đặt ở các vùng Bắc Bộ (30 sở), Thanh Hóa (5 sở), Nghệ An (4 sở),
Thuận Hóa (2 sở), Quảng Nam (2 sở) việc cho đặt nhiều đồn điền nằm rải rác trong
cả nước như vậy vừa để tập trung sức dân vào sản xuất, vừa thúc đẩy nông nghiệp
phát triển, tạo tiềm lực cho đất nước, các quan đứng đầu các đồn điền có nhiệm vụ
mộ dân nghèo lưu tán, khai phá ruộng đất. Ruộng đất trong cả nước được chia làm
ba loại sở hữu:
- Ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước.
- Ruộng đất công làng xã
- Ruộng đất tư hữu
Nhà vua là chủ sở hữu toàn bộ ruộng đất trong cả nước, có toàn quyền phân
phong cho những người khác. Để giải quyết tình trạng dân lưu tán, đưa nhân dân
về quê quán cũ để sản xuất, nhà Lê đã có quy định cấm tư nhân không được lập
thêm đồn điền để đưa lưu dân vào canh tác và ban hành các chính sách về ruộng
đất, đảm bảo ruộng đất được sử dụng một cách hiệu quả luôn là trọng tâm hoạt
động của NN. Chính sách về ruộng đất một mặt giúp đảm bảo đời sống nhân dân,
mặt khác làm ổn định đời sống xã hội, lúc cần thiết có thể huy động sức người, sức
của cho các hoạt động chung của cả nước như trong việc xây dựng các công trình
đê điều, giao thông, bảo vệ đất nước…Việc NN chú trọng phát triển nông nghiệp,
nông thôn không những làm ổn định xã hội, phát triển kinh tế, đảm bảo nguồn thu
19
cho NN mà còn thể hiện sự quan tâm của nhà vua, bộ máy quan lại tới đời sống,
nhu cầu của người dân, quan tâm tới nền sản xuất nông nghiệp.
1.1.1.2 Ban hành các chính sách lớn về nông nghiệp
đình, đảm bảo quyền lợi và gia tăng bóc lột của tầng lớp trên với người nông dân
trong cả nước.
b. Chế độ Quân điền
Trọng tâm của chính sách là lấy ruộng đất bỏ hoang, ruộng đất và điền trang
thái ấp của quý tộc cũ, ruộng đất của giặc Minh và những người theo giặc đem
sung làm ruộng đất công rồi chia cho dân cày, những binh lính có thành tích trong
kháng chiến, hằng năm những người này phải nộp thuế cho NN .Chế độ Quân điền
được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1429 dưới thời vua Lê Thái Tổ 5và được hoàn
thiện vào năm 1481 dưới thời vua Lê Thánh Tông với bộ “Quân điền” trong Thiên
nam dư hạ tập. Nhà Lê là triều đại đầu tiên ở nước ta cho áp dụng chính sách quân
điền, chế độ Quân điền quy định việc chia ruộng đất công của làng xã cho người
dân địa phương trong khoảng thời gian 6 năm bất kể là dân thường hay quan viên
đều có phần từ các quan chức cấp thấp (từ ngũ phẩm trở xuống), chức dịch của
làng, quân lính, dân đinh, vợ các quan, phụ nữ goá chồng, trở mồ côi. Bậc cao nhất
5
Vũ Minh Giang (1997), ,Mấy suy ngẫm về chính sách ruộng đất thời Lê Thánh Tông, Nxb. Khoa học xã
hội, Hà Nội
21
dành cho quan Tam, Tứ phẩm chưa được cấp ruộng lộc. Ngũ phẩm được 9,5 phần.
Lục phẩm được 9 phần, binh sĩ được cấp từ 5-8,5phần, hạng lão được 3,5 phần, mồ
côi, tàn phế được 3 phần .6
Vào thời kỳ đầu của những năm mới giải phóng, chế độ quân điền có tác
dụng to lớn nó vừa đảm bảo ổn định tình hình xã hội, khôi phục sản xuất trong cả
nước, làm thu hẹp ruộng đất phân phong trước đây và mở rộng hơn ruộng đất công
chỉ để người hiền tài có thể tự tiến cử mình với triều đình.
Năm 1428, ngay sau khi giải phóng đất nước vua Lê Thái Tổ đã ngay lập tức
ra hàng loạt chiếu chỉ để kêu gọi người tài trí ra giúp nước. Ngay tháng 6 năm đó
vua ra lệnh chỉ cho các đại thần và các quan văn võ đều tiến cử người hiền lương,
phương chính. “Nếu tiến cử được người giỏi thì bản thân được tăng thưởng theo
lệ tiến cử hiền thân”7. Đến năm 1429 lại tiếp tục hạ lệnh chỉ: “Những văn võ hào
kiệt nào còn bị bỏ sót hoặc bị chìm đắm chưa có chức tước gì, không được ai tiến
cử hoặc vì thù hằn mà bị đè nén, vùi dập thì đến ngay chỗ Thiếu phó Lê Văn Linh
mà tự tiến…không kể là ngụy quan hay là sĩ thứ, lấy tài đức là hơn8”. Tháng 9 năm
đó hạ lệnh: “Các đại thần văn võ, công hầu đại phu từ tam phẩm trở lên phải tiến
cử lấy một người hiền tài, vì trẫm chưa tìm kiếm được người hiền tài giúp đỡ trị
nước”9. Như vậy, thời kỳ đầu triều đình Hậu Lê lâm vào tình trạng lúng túng,
không rõ ràng về đường lối trị nước, đội ngũ quan lại quản lý.
7
Đại Việt sử ký toàn thư ( 2009), Nxb. Văn học, Hà Nội, Tr. 525
8
Đại Việt sử ký toàn thư ( 2009), Nxb. Văn học, Hà Nội, Tr. 531
9
Quốc Triều Hình Luật, lịch sử hình thành nội dung và giá trị (Chủ biên, Lê Thị Sơn), Nxb. Khoa học Xã
hội, 2004, tr.8-9
23