Vai trò của tòa án nhân dân trong cải cách tư pháp ở việt nam hiện nay luận văn ths luật - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

DƢƠNG HẢI YẾN

VAI TRß CñA TßA ¸N NH¢N D¢N
TRONG C¶I C¸CH T¦ PH¸P ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

DƢƠNG HẢI YẾN

VAI TRß CñA TßA ¸N NH¢N D¢N
TRONG C¶I C¸CH T¦ PH¸P ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. LƢƠNG THANH CƢỜNG

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN


1.2.1. Khái quát về tổ chức, hoạt động của Tòa án nhân dân ....................... 28
1.2.2. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân trong cải cách tƣ pháp ...... 37
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 44
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
TRONG CẢI CÁCH TƢ PHÁP Ở NƢỚC TA HIỆN NAY ...............45
2.1.

THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG
CẢI CÁCH TƢ PHÁP Ở NƢỚC TA HIỆN NAY ............................. 45

2.1.1. Hoạt động xây dựng, trình Quốc hội, Ủy ban Thƣờng vụ Quốc
hội các dự án theo thẩm quyền ............................................................ 45
2.1.2. Hoạt động xét xử các vụ án, vụ việc theo thẩm quyền ....................... 51
2.1.3. Hoạt động tổng kết công tác xét xử, bảo đảm áp dụng pháp luật
trong xét xử ......................................................................................... 56


2.1.4. Quản lý đào tạo bồi dƣỡng cán bộ công chức, thẩm phán .................. 57
2.2.

ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN
DÂN TRONG CẢI CÁCH TƢ PHÁP ............................................... 60

2.2.1. Ƣu điểm ............................................................................................... 60
2.2.2. Hạn chế, bất cập .................................................................................. 61
Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 67
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN
DÂN TRONG CẢI CÁCH TƢ PHÁP .............................................. 68
3.1.

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, ngay từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, thành lập
nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng và Nhà nƣớc ta đã nhận thức rõ tầm
quan trọng của ngành Tòa án.
Cùng với sự ra đời của nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 13/9/1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 33c thiết lập Toà án quân sự tiền
thân của ngành toà án để "xét xử tất cả những người nào phạm vào một việc gì
có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà" [17].
Trải qua các giai đoạn cách mạng, các quy định về ngành Tòa án nhân
dân (TAND) đã nhiều lần đƣợc cải cách, sửa đổi, đã dần hoàn thiện và nâng
cao vị trí, vai trò của ngành Toà án, góp phần củng cố, từng bƣớc xây dựng
Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện quyền tƣ pháp mà chủ yếu là quyền xét xử là một trong
những chức năng rất quan trọng của Nhà nƣớc Việt Nam và đƣợc giao cho
TAND. Do vậy, TAND có vai trò rất quan trọng trong bộ máy nhà nƣớc.
Toà án có vị trí trung tâm trong các cơ quan tƣ pháp. Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lƣợc Cải cách tƣ pháp

định tại Điều 106 Hiến pháp 2013 quy định: Các bản án và quyết định của
TAND đã có hiệu lực pháp luật phải đƣợc các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng;
những ngƣời và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
Toà án là nơi thực hiện chức năng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật có hiệu quả nhất, bằng việc đƣa lên phƣơng tiện thông tin đại chúng các
phiên toà xét xử, tổ chức xét xử lƣu động ngoài tác dụng răn đe, giáo dục, phòng
ngừa riêng và phòng ngừa chung, còn có tác dụng tuyên truyền, giới thiệu, giải
thích về pháp luật để mọi ngƣời hiểu biết thêm về pháp luật và hƣớng họ tới
“Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Bằng hoạt động của mình, Toà

2


án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm
chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
TAND có vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, tạo môi trƣờng ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thông qua việc xét xử các vụ án theo thẩm quyền.
TAND là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con
ngƣời, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ
nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm.
Tuy nhiên trong thực tiễn xét xử của ngành TAND vẫn còn những mặt
hạn chế, bất cập, làm ảnh hƣởng đến vai trò của ngành toà án nhƣ: chất
lƣợng xét xử chƣa đáp ứng yêu cầu, tình trạng án bị cải, sửa tuy ít nhƣng
không giảm mà có xu hƣớng tăng, vẫn còn án tồn đọng, đặc biệt ở khâu xem
xét đơn yêu cầu theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm; việc nâng cao chất
lƣợng tranh luận tại phiên tòa chƣa đƣợc thực hiện đầy đủ ở các cấp tòa án
khác nhau; việc tuyển chọn, xây dựng, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ so với yêu

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có một số bài viết và công trình khoa học nghiên cứu
liên quan đến vấn đề này. Đối với các đề tài về cải cách tƣ pháp có đề tài
khoa học cấp Đại học quốc gia của GS.TSKH. Lê Văn Cảm, TS. Nguyễn
Ngọc Chí đồng chủ trì: “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây
dựng Nhà nước pháp quyền”, năm 2004; sách chuyên khảo do GS.TSKH.
Đào Trí Úc, PGS.TS Vũ Công Giao chủ biên: “Cải cách tư pháp vì 1 nền tư
pháp liêm chính”, năm 2014; sách chuyên khảo do GS.TSKH Đào Trí Úc
chủ biên: “Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”,
2002; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thế Anh: “Chiến lược
cải cách tư pháp với mục tiêu bảo vệ công lý ở Việt Nam”, năm 2014;
GS.TSKH Lê Văn Cảm với bài viết: “Về quyền tư pháp và các nguyên tắc

4


cải cách tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 20, 21, 22 năm 2014. Đối với đề tài
về Tòa án nhân dân có Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Phụng Vƣơng:
“nâng cao vị trí, vai trò của TAND đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam hiện nay”, năm 2012; bài viết của tác giả Trần Văn Tú
về “Các quy định về Tòa án nhân dân trong Hiến pháp (sửa đổi Hiến pháp
năm 1992) và hướng hoàn thiện Luật tổ chức Tòa án nhân dân”, Tạp chí
Tòa án nhân dân, số 1 năm 2014; Th.s Lê Văn Minh có bài: “Bảo đảm thực
hiện quyền tư pháp của Tòa án nhân dân theo quy định của Hiến pháp và
đổi mới tổ chức hoạt động của Tòa án nhân dân theo tinh thần cải cách tư
pháp”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3 năm 2014; tác giả Dƣơng Đại Nghĩa
với bài: “Xây dựng đội ngũ cán bộ ngành Tòa án nhân dân trong quá trình
cải cách tư pháp”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 18 năm 2010……
Các công trình trên đã đề cập một phần đến vấn đề này, tuy nhiên nhìn

Để đạt đƣợc những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận Luận văn
đƣợc triển khai nghiên cứu trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc và pháp luật, quan điểm của
Đảng và Nhà nƣớc ta về cải cách tƣ pháp.
Quá trình nghiên cứu cũng sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khoa
học nhƣ: đối với chƣơng 1 sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử; đối với chƣơng 2 tác giả sử dụng phƣơng pháp phân tích, phƣơng
pháp so sánh, tổng kết thực tiễn; đối với chƣơng 3 sử dụng phƣơng pháp tổng
hợp, đánh giá.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở
lý luận và thực tiễn về vai trò của TAND trong CCTP ở Việt Nam hiện nay.
Về thực tiễn, các kết luận của luận văn có giá trị tham khảo cho việc
nâng cao vai trò của TAND trong CCTP ở Việt Nam, các tài liệu tham khảo
trong nghiên cứu, giảng dạy về Luật.

6


7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 03 chƣơng nhƣ sau:
Chương 1: Lý luận về vai trò của Tòa án nhân dân trong cải cách tƣ
pháp ở Việt Nam.
Chương 2:

Thực trạng vai trò của Tòa án nhân dân trong cải cách tƣ pháp.

Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò của Tòa án nhân dân trong cải
cách tƣ pháp.

vào bất cứ một bộ phận nào. Cơ quan này đặt mỗi bộ phận vào

8


đúng vị trí của nó, làm mối dây liên lạc và yếu tố trung gian giữa
Chính phủ với nhân dân, hoặc giữa Chính phủ với cơ quan quyền
lực tối cao, hoặc giữa cả ba vế ấy khi cần. Cơ quan này tôi gọi là cơ
quan tƣ pháp (tribunal) [9].
Với quan niệm nhƣ vậy, thì giống nhƣ Montesquieu, Rousseau cũng
cho rằng, nói đến cơ quan tƣ pháp phải hiểu đó là Toà án, là hoạt động xét xử.
Chịu ảnh hƣởng tƣ tƣởng của các luật gia thời Khai sáng, khi làm bản
Hiến pháp năm 1787, các nhà lập hiến Hoa Kỳ đã quy định ở Điều III, khoản 1
nhƣ sau: “Quyền lực tư pháp Hoa Kỳ sẽ được trao cho Toà án tối cao và
những toà án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp”.
Những năm sau này, hầu hết hiến pháp của các nƣớc tƣ bản nhƣ Nhật, Pháp,
Đức, Thuỵ Điển,… đều quy định cơ quan thực hành quyền tƣ pháp là Tòa án.
Nhƣ vậy, theo quan niệm có tính chung nhất về cơ quan tƣ pháp, từ học thuyết
đến quy định pháp luật thành văn của các nƣớc có lịch sử lập hiến lâu năm, đều
hiểu Toà án là cơ quan tƣ pháp trong hệ thống cơ quan nhà nƣớc.
Nhƣ vậy có thể nói rằng, trên phƣơng diện lý thuyết cũng nhƣ trong
thực tiễn tổ chức hệ thống bộ máy nhà nƣớc ở các quốc gia, ngƣời ta coi tƣ
pháp là một trong ba nhánh quyền lực quan trọng của hệ thống quyền lực nhà
nƣớc và đồng nhất tƣ pháp với hoạt động xét xử của Tòa án. Lý thuyết và
thực tiễn ở các nƣớc có nền pháp lý văn minh cho thấy “Tư pháp” là một
trong những biểu hiện rõ nét nhất của Nhà nƣớc pháp quyền và của nền tƣ
pháp dân chủ, bình đẳng và công bằng, bảo vệ hữu hiệu các quyền con ngƣời,
quyền công dân. “Tư pháp” chính là biểu tƣợng của lẽ phải, công lý để giải
quyết các tranh chấp phát sinh trong xã hội ở các cấp độ khác nhau từ tranh
chấp dân sự đến tranh chấp chính trị.

giá trị xã hội cao quý nhất của xã hội tránh khỏi sự xâm phạm của các vi
phạm pháp luật đi ngƣợc lại lợi ích của xã hội, của nhân dân và Tổ quốc.
Giống nhƣ khái niệm “Tư pháp”, ở Việt Nam cũng có các quan niệm

10


khác nhau về cơ quan tƣ pháp tuỳ theo cách tiếp cận của ngƣời nghiên cứu.
Quan niệm thứ nhất, liên quan đến việc xem xét cơ quan tƣ pháp theo nghĩa
hẹp, có tác giả đã đƣa ra khái niệm về tƣ pháp hình sự nhƣ sau:
Tƣ pháp hình sự trong Nhà nƣớc pháp quyền là dạng thực
hiện quyền lực nhà nƣớc của hệ thống cơ quan có thẩm quyền nhân
danh công lý (cơ quan tài phán – Toà án) để xét xử và đƣa ra phán
quyết đối với vụ án hình sự nhằm mục đích bảo vệ chế độ hiến
định, nhân thân, các quyền và tự do của con ngƣời và của công dân,
cũng nhƣ hoà bình và an ninh của loại, hỗ trợ cho cuộc đấu tranh
chống tội phạm, góp phần đƣa các nguyên tắc đƣợc thừa nhận
chung của Nhà nƣớc pháp quyền vào đời sống thực tế. Hoặc quyền
tƣ pháp là khả năng và năng lực riêng có của các cơ quan Toà án
chiếm vị trí đặc biệt trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện để tác động
đến hành vi của con ngƣời, đến các quá trình xã hội [18].
Từ các định nghĩa này có thể thấy, cơ quan tƣ pháp chỉ là Toà án.
Quan niệm thứ hai tiếp cận cơ quan tƣ pháp theo nghĩa rộng có tính hệ
thống, theo đó “khái niệm tư pháp không chỉ được dùng cho Toà án, mà còn
cả các cơ quan nhà nước khác thực hiện chức năng có liên quan đến xét xử.
Trước hết đó là Viện kiểm sát, rồi đến các cơ quan điều tra, thi hành án” [8].
Quan niệm thứ hai này phản ánh nhận thức khá phổ biến trong giới nghiên
cứu khoa học pháp lý hiện nay [19].
Cũng có thể tiếp cận khái niệm cơ quan tƣ pháp từ Hiến pháp và các
đạo luật. Khác với các nƣớc, ở Việt Nam các bản Hiến pháp năm 1959, năm

với sự phát triển của hệ thống pháp luật về tƣ pháp, ngày 21-12-1999 Quốc
hội đã ban hành Bộ luật Hình sự (mới) thƣờng đƣợc gọi là Bộ luật Hình sự
năm 1999. Trong Bộ luật này có một chƣơng riêng quy định về các tội xâm
phạm hoạt động tƣ pháp. Điều 292 quy định khái niệm tội xâm phạm hoạt
động tƣ pháp nhƣ sau: “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành

12


vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi
hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của tổ chức, công dân” [13, Điều 292]. Trong chƣơng các tội xâm phạm hoạt
động tƣ pháp có nhiều điều luật quy định về các tội phạm cụ thể nhƣ Điều 293
về tội truy cứu trách nhiệm ngƣời không có tội; Điều 295 về tội ra bản án trái
pháp luật; Điều 298 về tội dùng nhục hình; Điều 300 về tội làm sai lệch hồ sơ
vụ án; Điều 305 về tội không thi hành án, Điều 306 về tội cản trở việc thi
hành án,… Nhƣ vậy, bằng việc thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999, cơ quan
quyền lực nhà nƣớc cao nhất đã gián tiếp công nhận khái niệm cơ quan tƣ
pháp theo nghĩa rộng, theo đó cơ quan tƣ pháp bao gồm Toà án, Viện kiểm
sát, Cơ quan điều tra và Cơ quan thi hành án.
Tiếp tục kế thừa bản chất và mô hình tổng thể của bộ máy nhà nƣớc
trong Hiến pháp năm 1992, thể chế hóa các quan điểm mới của Đảng về xây
dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp năm 2013 đã làm rõ
hơn nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nƣớc
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Theo đó điều
chỉnh lại nhiệm vụ, quyền hạn của TAND, khẳng định là cơ quan xét xử của
nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tƣ pháp cùng với
việc tăng tính độc lập của Tòa án. Các quy định về TAND đƣợc hiến định tại
Chƣơng VIII, Hiến pháp năm 2013 gồm 5 điều (từ Điều 102 đến Điều 106) và
trong một số điều khoản khác đã xác định rõ ràng, cụ thể vị trí, vai trò của

dân, mà những loại việc đó hiện nay do các cơ quan hành chính đang thực hiện,
ví dụ nhƣ việc ra các quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc
quyết định đƣa ngƣời vào các trung tâm giáo dƣỡng, cai nghiện,…
1.1.1.2. Tính tất yếu của cải cách tư pháp ở nước ta
Với vai trò là một hoạt động nhân danh công lý của Tòa án để giải
quyết các tranh chấp trong xã hội đúng với pháp luật, hợp lẽ công bằng – Tƣ
pháp là một mảng quyền lực của Nhà nƣớc cần đƣợc hoàn thiện và phát triển.

14


Trong lý luận và thực tiễn pháp lý ở Việt Nam, CCTP luôn đƣợc hiểu với ý
nghĩa chung nhất là sự thay đổi đem lại những điều mới có ích cho việc xây
dựng nhà nƣớc và bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Nếu không đạt đƣợc ý nghĩa này, CCTP sẽ bị coi là thất bại. Có thể xem việc
CCTP năm 1950 là một minh chứng. Thời kỳ đó, Bộ Tƣ pháp đã trình lên
Chủ tịch Hồ Chí Minh dự án Sắc lệnh Cải cách bộ máy tƣ pháp và Luật Tố tụng
với những mục đích rất rõ ràng là bộ máy tƣ pháp cần đƣợc “dân chủ hoá”, “để
công việc xét xử được nhanh chóng và gần dân hơn”, “thủ tục tố tụng cần được
hợp lý và giản dị hơn” [2]. Với ý nghĩa đó, ngày 22-5-1950, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ký Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy tƣ pháp, xây dựng nên những
nguyên tắc tiến bộ đầu tiên cho nền tƣ pháp non trẻ của nƣớc ta.
Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nƣớc, yêu cầu khách quan đặt ra là phải tiến hành cải cách bộ máy nhà nƣớc,
điều chỉnh phạm vi nội dung và phƣơng thức hoạt động của Nhà nƣớc cho
phù hợp. Nguyên tắc quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng
cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa phải đƣợc đề cao hơn bao giờ hết. Trong cải
cách bộ máy nhà nƣớc, CCTP có vị trí rất quan trọng. Bởi vì, các cơ quan tƣ
pháp là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nƣớc để thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân, bảo vệ nhân dân, các quyền và lợi ích hợp pháp và chính

tiêu cực là biểu hiện nghiêm trọng ảnh hƣởng đến kỉ cƣơng, pháp luật, giảm
hiệu lực của bộ máy Nhà nƣớc; cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của các cơ
quan tƣ pháp chƣa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, nhất là ở cấp huyện nhiều trụ
sở còn rất chật chội, phƣơng tiện làm việc vừa thiếu vừa lạc hậu; chính sách
đối với các cán bộ tƣ pháp chƣa tƣơng xứng với nhiệm vụ đƣợc giao. Bên
cạnh đó pháp luật trong lĩnh vực tƣ pháp chƣa hoàn thiện, thiếu đồng bộ và
còn nhiều sơ hở. Công tác xây dựng, giải thích, hƣớng dẫn và tuyên truyền
phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó có pháp luật về lĩnh vực tƣ pháp còn
nhiều bất cập và hạn chế.

16


Trƣớc những đòi hỏi, yêu cầu cấp bách của thực tiễn nền tƣ pháp nƣớc
nhà, kế thừa tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ yêu cầu của việc xây dựng
nhà nƣớc pháp quyền, vấn đề cải cách tƣ pháp đã chính thức đƣợc đặt ra tại
các Đại hội Đảng và ghi nhận trong các Nghị quyết 8 Trung ƣơng khóa VII,
Nghị Quyết 3 và 7 Trung ƣơng khóa VIII, đặc biệt là Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 08) và
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020” (sau đây gọi là Nghị quyết 49). Từ đó cho
thấy vấn đề CCTP là nhiệm vụ cấp bách của Nhà nƣớc nói chung và của các
cơ quan tƣ pháp nói riêng nhằm xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân. Nhƣ vậy, những yêu cầu và đòi hỏi
của tình hình mới đã đặt ra yêu cầu khách quan, cấp thiết cả về phƣơng diện
lý luận cũng nhƣ phƣơng diện thực tiễn nhằm mục tiêu xây dựng nền tƣ pháp
trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bƣớc
hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
hoạt động tƣ pháp mà “trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án” [4] đƣợc
tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Theo đó, các nội dụng cụ thể cần thực

không có gì khác là hoạt động bảo vệ pháp luật, trong đó hoạt động xét xử
của Tòa án được thừa nhận là nơi biểu hiện tập trung nhất quyền tư pháp
trong một quốc gia” [5]. Cho nên, chủ thể có vai trò phán xử và bảo vệ công
lý là Tòa án và hoạt động này phải đƣợc tiến hành dựa trên cơ sở pháp luật và
các chính sách của Nhà nƣớc.
1.1.2. Mục tiêu, quan điểm cải cách tƣ pháp
1.1.2.1. Mục tiêu cải cách tư pháp
Theo tinh thần của Nghị quyết 49, CCTP đƣợc thực hiện gắn với mục
tiêu xây dựng nền tƣ pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo
vệ công lý, từng bƣớc hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt

18


Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tƣ pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử
đƣợc tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao.
1.1.2.2. Quan điểm cải cách tư pháp
Đảng và Nhà nƣớc xác định rõ quan điểm về CCTP tại Nghị quyết 49
nhƣ sau:
Thứ nhất, CCTP phải đặt dƣới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, bảo đảm
sự ổn định chính trị, bản chất Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền lực nhà nƣớc là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp.
Thứ hai, CCTP phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây
dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp phần thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; gắn với đổi mới công tác lập
pháp, cải cách hành chính.
Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong quá trình cải
cách tƣ pháp. Các cơ quan tƣ pháp, cơ quan bổ trợ tƣ pháp phải đặt dƣới sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status