1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH THANH XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG GIỮA CÁC NHÓM
XÃ HỘI Ở LÀNG TRỐNG ĐỌI TAM, ĐỌI SƠN,
DUY TIÊN, HÀ NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2012 2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 7
2.1 Ý nghĩa lý luận 7
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 7
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
3.1 Mục đích nghiên cứu 7
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu 8
4.1 Đối tượng nghiên cứu 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
4.3 Khách thể nghiên cứu 9
5. Câu hỏi nghiên cứu 9
6. Giả thuyết nghiên cứu 9
7. Phương pháp nghiên cứu 9
8. Khung lý thuyết 12
NỘI DUNG 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1Cơ sở lý luận của đề tài 13
1.1.1 Các hướng tiếp cận nghiên cứu đề tài 13
1.1.1.1 Tiếp cận hệ thống 13
1.1.1.2 Tiếp cận lịch sử, logic 14
1.1.1.3 Lý thuyết lựa chọn hợp lý 14
1.1.1.4 Lý thuyết về xung đột xã hội 15
1.1.2 Khái niệm công cụ 17
1.1.2.1 Khái niệm về môi trường 17
1.1.2.2 Ô nhiễm môi trường 19
1.1.2.3 Xung đột môi trường 20
1.1.2.4 Khái niệm làng nghề 25
1.1.2.5 Khái niệm quản lý và quản lý xung đột môi trường 26
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu 29
3.1.2.2. Các biện pháp quản lý môi trường 91
3.2. Giải pháp quản lý môi trường làng nghề 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
3
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH TRONG KHÓA LUẬN Biểu đồ 2.1: Đánh giá của người dân về mức độ xảy ra mâu thuẫn trong làng
39
Biểu đồ 2.2: Mối quan hệ giữa các hộ làm nghề đối với các hộ gây ô nhiễm
môi trường . 47
Biểu đồ 2.3: Đánh giá của người dân về mức độ ô nhiễm môi trường tại làng
nghề hiện nay . 55
Biểu đồ 2.4: Đánh giá của người dân về mức độ ô nhiễm môi trường đến sức
khỏe 60
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ mắc bệnh của làng nghề và các làng không làm nghề tại Hà
Nam . 62
Biểu đồ 2.6: Ý kiến của người dân về mức độ xảy ra xung đột trong làng nghề
67
Biểu đồ 2.7: Mức độ xung đột môi trường giữa người làm nghề với người
không làm nghề 68
Biểu đồ 2.8: Mức độ xung đột môi trường giữa những người làm nghề với
nhau 70
Biểu đồ 2.9: Mức độ xung đột môi trường giữa những người dân làm nghề và
xã, thôn 72
Biểu đồ 2.10: Đánh giá về hiệu quả hoạt động xử lý ô nhiễm bảo vệ môi
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu xã hội về môi trường là lĩnh vực nghiên cứu non trẻ không
chỉ ở nước ta và trên thế giới. Nghiên cứu xã hội về môi trường bàn về những
nguyên nhân ô nhiễm môi trường từ phía con người, những căn nguyên xã
hội của quá trình tàn phá hoặc bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó nghiên cứu xã
hội về môi trường còn nhằm vào một đối tượng là quan hệ giữa con người
trong cuộc giành giật các nguồn lợi tài nguyên và môi trường: nhóm này
chiếm dụng lợi thế về không gian, địa lý về quyền lực để làm hại lợi ích của
nhóm khác hoặc của toàn cộng đồng về tài nguyên và môi trường, dẫn đến
một hiện tượng xung đột trong xã hội, đó là xung đột môi trường. Những
xung đột ấy có thể xuất hiện giữa các nhóm xã hội cùng sử dụng, chia sẻ tài
nguyên môi trường.
Hà Nam là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng, có trên bốn
mươi làng nghề, có những làng nghề truyền thống lâu đời như là dệt lụa Nha
Xá, trống Đọi Tam, mây tre giang Ngọc Động (Duy Tiên), sừng mỹ nghệ
(Bình Lục), gốm Quyết Thành, nghề mộc Kim Bảng, thêu ren xã Thanh Hà
nghề song chưa có biện pháp nào thực sự hiệu quả. Xử lý ô nhiễm môi
trường thông qua việc nhận diện và xử lý xung đột môi trường là một cách
nhìn nhận mới để giải quyết vấn đề. Vì vậy, chúng tôi lấy đề tài “Xung đột
môi trường giữa các nhóm xã hội ở làng Trống Đọi Tam, Đọi Sơn, Duy
Tiên, Hà Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình với mong
muốn thông qua luận văn này sẽ đề xuất giải pháp quản lý môi trường cho
chính quyền địa phương nhằm làm giảm mâu thuẫn, xung đột môi trường và
hướng đến bảo vệ môi trường, phát triển làng nghề bền vững. 7
2. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm phong phú thêm hệ khái niệm của
lĩnh vực xã hội học môi trường thông qua việc nhận diện các xung đột môi
trường, bổ sung vào hệ lý thuyết của ngành xã hội học môi trường. Nhận diện
các dạng xung đột môi trường giữa các nhóm cộng đồng dân cư chỉ ra nguyên
nhân dẫn đến xung đột môi trường. Đưa ra những mặt hạn chế trong công tác
quản lý nhà nước về môi trường, đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học
cho nhà quản lý, các nhà thực hiện quy hoạch các doanh nghiệp, cộng đồng
dân cư nhằm bảo vệ và phát triển môi trường theo hướng bền vững.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn cung cấp những thông tin
thực nghiệm, đưa ra những giải pháp giải quyết ô nhiễm môi trường thông
qua việc nhận diện và xử lý các xung đột môi trường ở làng trống Đọi Tam.
Luận văn cũng nhằm góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng dân
cư và các chủ cơ sở sản xuất, cán bộ quản lý trong vấn đề bảo vệ môi trường.
Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng ở địa phương
để nghiên cứu, phục vụ công tác giảng dạy, tuyên truyền ý thức pháp luật bảo
vệ môi trường cho người dân.
5 năm từ 2007 - 2012).
Lĩnh vực nghiên cứu: xung đột môi trường giữa các nhóm xã hội trong
làng nghề trống Đọi Tam, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam
(chuyên ngành Xã hội học môi trường). 9
4.3 Khách thể nghiên cứu
Người dân sống trong làng nghề và nhà quản lý làng nghề trống Đọi
Tam, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Có những loại xung đột môi trường nào xảy ra giữa các nhóm xã hội
tại làng trống Đọi Tam và mức độ của sự xung đột đến đâu?
Xung đột môi trường tại làng nghề Đọi Tam có mối liên hệ như thế
nào đến ô nhiễm môi trường?
Giải pháp nào để quản lý xung đột môi trường trong khi vẫn duy trì tốt
sự tồn tại và phát triển của làng nghề?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Xung đột môi trường giữa các cộng đồng dân cư trong làng nghề diễn
ra dưới nhiều hình thức:
Xung đột về nhận thức diễn ra khá mờ nhạt trong làng nghề.
Xung đột về lợi ích và xung đột về mục tiêu là xung đột chủ yếu, dễ
dàng nhận thấy trong làng nghề.
Ô nhiễm môi trường là một nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến sức
khỏe của người dân và xung đột môi trường tại làng nghề Đọi Tam.
Hiện nay xung đột môi trường giữa các nhóm xã hội trong làng nghề
phần lớn được xử lý bằng phương pháp né tránh, dàn xếp hòa giải có sự can
thiệp của chính quyền địa phương với vai trò trung gian.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát:
phiếu (chiếm 30%). Người nghiên cứu còn tìm kiếm những đối tượng nghiên cứu
ngẫu nhiên với những đặc điểm cần thiết để điều tra sao cho số lượng các thành
phần được nghiên cứu đúng như mẫu mà người nghiên cứu lựa chọn.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Người nghiên cứu tiến hành phương pháp
này để thu thập cụ thể, chi tiết hơn những thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu. 11
Số người được phỏng vấn sâu là 12 người (trong đó có 01 phiếu dành cho cán bộ
lãnh đạo xã, 01 phiếu cho cán bộ địa chính, 01 phiếu cho trưởng thôn, 01 phiếu cho
phó thôn, 01 phiếu cán bộ phụ nữ, 01 phiếu cho nghệ nhân và 06 phiếu cho các hộ
dân). Những thông tin thu được từ phương pháp này được sử dụng trực tiếp trong
quá trình phân tích.
Phương pháp xử lý thông tin bằng chương trình SPSS 16.0: Số liệu sau khi
thu thập về được xử lý bằng chương trình phần mềm SPSS 16.0 để tính tần suất và
một số tương quan của nguồn thông tin thu được từ bảng hỏi định lượng. Điều kiện KT- XH
Xung đột môi trường
Giải pháp giải quyết xung đột môi trường:
- Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong việc cộng
tác giữa các nhóm xã hội
- Tiếp tục xây dựng nơi sản xuất nghề tách biệt khỏi khu
dân cư
- Tăng cường công tác tuyên truyền thông tin
Cơ sở
hạ tầng
làm
nghề
Nguồn
nguyên,
vật liệu
làm nghề
Trình độ kỹ
thuật và
công nghệ áp
dụng trong
làm nghề
đó mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội có chức năng, nhiệm vụ khác nhau là cơ sở
để cho làng nghề đó tồn tại và thực hiện các chức năng của mình. Thông qua
lý thuyết này, đề tài sẽ xem xét cơ cấu tổ chức phát triển sản xuất kinh tế giữa
các nhóm xã hội trong làng, và nó có tác động như thế nào đến môi trường và
các mối quan hệ xã hội giữa người tham gia sản xuất làm nghề trống, người
không làm nghề và nhà quản lý như thế nào? 14
1.1.1.2 Tiếp cận lịch sử, logic
Tiếp cận lịch sử, logic trong nghiên cứu khoa học yêu cầu phải nghiên
cứu đối tượng bằng phương pháp lịch sử. Tìm hiểu phát hiện nguồn gốc nảy
sinh, quá trình diễn biến và phát triển của đối tượng trong thời gian, không
gian với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể để tìm ra quy luật tất yếu của sự
vật hiện tượng. Trong nghiên cứu phải thống nhất tính lịch sử và tính logic
của vấn đề, từ lịch sử tìm ra logic và sự phân tích logic phải dựa trên cơ sở
của lịch sử khách quan. Xem xét quá trình lịch sử để tìm ra quy luật tất yếu
của sự phát triển lịch sử đó. Dùng các sự kiện lịch sử để minh họa, chứng
minh làm sáng tỏ các luận điểm khoa học các nguyên lý và các kết quả của
các công trình nghiên cứu khoa học khác. Dựa vào các kết luận lịch sử và các
quy luật tất yếu, logic khách quan để xây dựng các giải thuyết khoa học và
chứng minh các giả thuyết đó, tìm ra những khả năng mới để dự đoán các
khuynh hướng phát triển của các sự vật hiện tượng…
Vận dụng tiếp cận lịch sử logic vào trong đề tài nghiên cứu giúp tác giả
có cái nhìn khách quan, toàn diện đối với vấn để xung đột môi trường tại làng
nghề Đọi Tam. Vận dụng các phương pháp thu thập thông tin, kinh nghiệm
lịch sử, kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học… để định hướng, tìm
hiểu, làm phong phú thêm luận điểm khoa học để giải quyết vấn đề và chứng
minh giả thuyết nghiên cứu.
1.1.1.3 Lý thuyết lựa chọn hợp lý
Karl Marx (1818-1883) đã đưa ra lý thuyết xung đột giai cấp, theo đó với
sự phát triển của sự phân công lao động và sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ hình
thành các giai cấp khác nhau bên trong một xã hội; sự bất bình đẳng của các giai 16
cấp này dựa trên vị thế khác nhau của họ trong quá trình sản xuất của xã hội,
nhưng trước hết là chiếm hữu hay không chiễm hữu các phương tiện sản xuất
như nguyên liệu, máy móc hay đất đai. Nó trở thành lý do cho sự quan tâm khác
nhau và đối kháng tới việc nên giữ hay phải thay đổi những dạng thống trị và sở
hữu đang tồn tại, nhưng quyền lợi đối kháng này có thể và sẽ thể hiện thành các
cuộc đấu tranh giai cấp giữa các giai cấp thống trị và sỡ hữu với giai cấp những
người lao động bị loại ra khỏi quyền lực và sỡ hữu [12, tr 41].
Trên nền tảng lý thuyết của Weber, xung đột xã hội có ý nghĩa khác
nhau tùy theo chúng dựa trên quyền lợi giai cấp do thị trường môi giới, nhu
cầu cách biệt các cộng đồng xã hội hay quyền lợi, quyền lực của các đảng
phái. Weber cho rằng nguồn gốc dẫn đến xung đột xã hội là do bất bình đẳng
về cơ hội xã hội. Trong xã hội có nhóm người có uy tín xã hội cao hơn so với
nhóm khác, vì thế họ giành được những ưu thế do địa vị xã hội mang lại. Bất
bình đẳng về chính trị, cụ thể là những người giữ quyền hành cao trong thang
bậc quản lý xã hội, đảng phái chính trị, cầm quyền chiếm được ưu thế so với
đảng phải khác [12, tr 53].
Tác giả Simmel cho rằng xung đột không chỉ là kết quả của các cấu
trúc xã hội hay những động cơ thiết yếu đối với lịch sử mà nó là một thành tố
trung tâm của quá trình xã hội hay nó chính là đối tượng độc lập của việc
phân tích xã hội học. Theo tác giả này, thực tại xã hội được hình thành bởi
các quá trình kết hợp và phân ly giữa các tập thể, cộng đồng, nghề nghiệp,
tôn giáo, quê hương. Các quá trình đoàn kết của cộng đồng có xu hướng hợp
nhất, còn các quá trình phân ly có bản chất đối kháng. Quá trình thống nhất
và phân ly, hợp tác và đối kháng là quá trình tất yếu của đời sống xã hội. Tuy
1.1.2.1 Khái niệm về môi trường
Từ những góc độ tiếp cận khác nhau các tác giả đưa ra những quan
niệm về môi trường, chẳng hạn, khi bàn đến khái niệm môi trường, có ý kiến 18
cho rằng “ theo nghĩa rộng, môi trường là tổng thể các điều kiện bên ngoài có
ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể ”.
Theo Luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì: “Môi trường bao gồm các
yếu tố tự nhiên và vật chất, nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến
đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”. [16,
Điều 1]
Cũng có thể phân chia môi trường thành ba hệ thống:
Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố được hình thành, tồn tại và
phát triển theo các quy luật tự nhiên như đất, nước, không khí, động thực vật,
khí hậu…
Môi trường xã hội: Tổng thể các mối quan hệ giữa cá thể con người,
cộng đồng người hợp thành xã hội, tạo nên các hình thái tổ chức, các thể chế
kinh tế, xã hội.
Môi trường nhân tạo: Bao gồm những nhân tố do con người tạo ra và
chịu sự chi phối của con người như: hệ thống cấp thoát nước, hệ thồng đường
xá, các di tích lịch sử, văn hóa… Xét về mối quan hệ tổng thể biện chứng thì
ba loại môi trường trên luôn tồn tại cùng nhau, đan xen nhau và có mối quan
hệ tương tác chặt chẽ với nhau.
Trong luận văn này môi trường được hiểu là sự tổng hợp các yếu tố vật
chất tự nhiên (gồm lý học, hóa học, sinh học), các yếu tố xã hội (thể hiện mối
quan hệ giữa con người với cộng đồng) và các yếu tố nhân tạo cùng tồn tại
trong một không gian bao quanh con người. Các yếu tố này có quan hệ khăng
khít, tương tác lẫn nhau và tác động đến con người và sinh vật nói chung
trong quá trình tồn tại và phát triển. Tổng hòa về chiều hướng phát triển của
mức có khả năng gây hại cho sức khỏe của con người và sự phát triển của
sinh vật hoặc làm giảm chất lượng môi trường sống”.
Còn theo Luật bảo vệ môi trường năm 2005 của nước ta thì: “Ô nhiễm
môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn
của môi trường”. 20
Ô nhiễm, suy thoái môi trường hiện nay là vấn đề bức xúc và nghiêm
trọng nhất là trên các lĩnh vực thành phần cơ bản của môi trường như:
Ô nhiễm và suy thoái môi trường đất: Hiện nay đất ở nước ta đang bị
suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Có nhiều nguyên nhân, trước hết là
do rừng bị tàn phá nặng nề, làm cho độ che phủ ngày càng bị giảm sút, dẫn
đến mưa và lũ bất thường làm cho đất bị sạt lở, xói mòn, bạc màu Mặt khác
đất còn bị ô nhiễm do các chất thải công nghiệp và do việc lạm dụng các loại
hóa chất, phân bón hóa học.
Ô nhiễm môi trường nước: là loại ô nhiễm nguy hại nhất. Nguồn gốc
của ô nhiễm có thể là do các chất hữu cơ bị phân hủy; ngoài ra bão, lũ, nước
thải từ các khu dân cư, nhà máy, xí nghiệp, từ phân bón, thuốc trừ sâu, cũng
là một trong những nguyên nhân gây ra ô nhiễm. Ô nhiễm nước sẽ tác động
trực tiếp đến sức khỏe của con người, là nguồn gốc gây ra các loại bệnh
đường ruột như tả, lị, tiêu chảy, giun sán, các bệnh về da liễu, đồng thời ảnh
hưởng xấu đến sự sống của sinh vật.
Ô nhiễm không khí: có thể do nguyên nhân từ tự nhiên như quá trình
phân hủy thối rữa xác động vật, thực vật, song chủ yếu là do quá trình phát
triển của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, giao
thông vận tải…và ô nhiễm do các hoạt động khác của con người gây nên.
Sự cố môi trường: xảy ra do thiên nhiên như lốc, gió xoáy, bão, lũ lụt,
hạn hán do sạt lở đất, sự biến đổi khí hậu, sóng thần, cũng có thể là do con
người gây ra như hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố tràn dầu Sự cố môi trường đã gây
dụng tài nguyên thiên nhiên. [7; tr 95].
Một số nhà xã hội học môi trường lại cho rằng: “ Xung đột môi trường là
xung đột (mâu thuẫn) về quyền lợi giữa các nhóm hội khác nhau trong việc khai
thác và sử dụng nguồn tài nguyên môi trường. Nhóm này muốn được tước đoạt
lợi thế của nhóm khác trong việc đấu tranh giữa các nhóm để phân phối lại lợi
thế về tài nguyên” (Wertheim, 1999, Vũ Cao Đàm, 2000). [7; tr 95]. 22
Dưới góc độ tiếp cận xã hội học, nguyên nhân sâu xa của tranh chấp,
xung đột môi trường bắt nguồn từ việc tranh giành lợi thế trong khai thác và
sử dụng các nguồn lực tự nhiên, trong đó nổi lên vai trò của các nhóm xã hội
trong những tác động bảo vệ hoặc phá hoại môi trường sống. Khai thác và
bảo vệ môi trường tự nhiên là một vấn đề liên quan đến nhiều nhóm xã hội,
có thể là nhóm trực tiếp khai thác môi trường như các công ty, các doanh
nghiệp; nhóm bảo vệ môi trường cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội hay
chính những nhóm đại diện cho các cơ quan quản lý môi trường… Trong quá
trình khai thác và bảo vệ môi trường các vấn đề môi trường như tranh chấp
môi trường, xung đột môi trường… giữa các nhóm xã hội này thường xuyên
xảy ra và có xu hướng ngày càng gia tăng. Cùng với việc gia tăng dân số, sự
tiến bộ của khoa học và công nghệ là sức ép ngày càng lớn đối với môi
trường tự nhiên. Sự tranh giành lợi thế này dẫn đến hậu quả là khoét sâu bất
bình đẳng xã hội, đối chọi lợi ích giữa các nhóm xã hội và cuối cùng là tranh
chấp, xung đột giữa các cá nhân, các nhóm xã hội về quyền lợi. Những vấn
đề này ngày càng trở nên bức thiết đối với con người trong việc bảo vệ môi
trường sống của mình cùn như của thế hệ tương lai.
Các dạng xung đột môi trường.
Căn cứ vào nguyên nhân xung đột, những nghiên cứu xã hội học môi
trường cho thấy có thể tồn tại những dạng xung đột sau:
Thứ nhất là xung đột nhận thức: dạng xung đột đơn giản nhất, có căn
họ có thể dàn xếp với nhau.
Nghiêm trọng: là loại tranh chấp, xung đột có thể dẫn đến những phản
ứng mạnh mẽ giữa các đương sự.
Rất nghiêm trọng: Loại tranh chấp, xung đột này bắt nguồn từ những
bất bình đẳng lớn về quyền lực, không chỉ về mặt tài nguyên, mà cả về mặt
tài chính, chính trị và có thể dẫn đến các xung đột vũ trang phương hại đến an
ninh quốc gia.