ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HOÀNG THỊ THƢƠNG
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG
TRÊN CƠ SỞ NHẬN DẠNG XUNG ĐỘT MÔI TRƢỜNG
GIỮA CÔNG TY GIẤY BÃI BẰNG, CÔNG TY GIẤY VIỆT TRÌ
VỚI CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƢ XUNG QUANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
-Các thầy cô của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
quốc gia Hà Nội đã giảng dạy và cung cấp cho tôi những kiến thức nền tảng
cơ bản để thực hiện luận văn này.
- Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Tuấn
Anh- giảng viên khoa xã hội học- Trường Đại học KHXH&NV- Đại học quốc
gia Hà Nội là người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ dạy cho tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài này.
- Cảm ơn các anh, chị, em, bạn bè lớp Cao học Quản lý Khoa học và
Công nghệ khóa 2011 cùng tôi học tập, trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ kiến
thức trong suốt quá trình học tập.
- Tôi xin cảm ơn các anh, chị, em tại Sở tài nguyên và môi trường tỉnh
Phú Thọ đã giúp đỡ và cung cấp những tài liệu tham khảo để tôi hoàn thành
luận văn này.
- Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn thủ trưởng, các anh, chị, em, bạn bè công
tác tại công ty giấy Bãi Bằng, công ty giấy Việt Trì đã tạo điều kiện để tôi có
cơ hội tiếp cận với các hoạt động của của công ty.
- Đặc biệt là những người thân trong gia đình đã luôn động viên, cổ vũ tôi
trong suốt những năm tháng học tập và hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Học viên Hoàng Thị Thƣơng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
COD
Nhu cầu ô xy hóa học
DO
Ô xy hòa tan
1
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử nghiên cứu 4
3. Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 8
4. Mục tiêu nghiên cứu 8
5. Câu hỏi nghiên cứu 8
6. Giả thuyết nghiên cứu 9
7. Phƣơng pháp nghiên cứu 9
8. Cấu trúc luận văn 11
PHẦN 2. NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1 Các khái niệm công cụ 12
1.1.1 Khái niệm môi trƣờng 12
1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trƣờng 13
1.1.3 Khái niệm suy thoái môi trƣờng 14
1.1.4 Khái niệm xung đột môi trƣờng 14
1.1.4.1 Khái niệm xung đột môi trường 14
1.1.4.2 Đặc điểm của xung đột môi trường 16
1.1.4.3 Các dạng xung đột môi trường 16
1.1.4.6 Mức độ xung đột 19
1.1.4.7 Các biện pháp giải quyết xung đột môi trường 20
1.1.5 Khái niệm cộng đồng 21
1.1.6 Khái niệm cộng đồng dân cƣ 22
2.3.1.3 Xung đột lợi ích 47
2.3.1.4 Xung đột quyền lực 52
2.3.2 Mức độ xung đột 54
2.3.3 Các nguyên nhân dẫn đến xung đột môi trƣờng 56
2.3.4 Hệ quả của xung đột 60
3
2.3.4.1 Hệ quả tích cực 60
2.3.4.2 Hệ quả tiêu cực 61
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG
NGÀNH GIẤY VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN CƢ XUNG QUANH 63
3.1 Giải pháp tổ chức quản lý nhằm hạn chế xung đột môi trƣờng giữa
công ty giấy với cộng đồng dân cƣ xung quanh 63
3.2 Giải pháp kỹ thuật thực tế 64
3.2.1 giải pháp giảm thiểu ô nhiễm do nƣớc thải 64
3.2.2 Giải pháp giảm thiểu tác động gây ô nhiễm môi trƣờng không khí 67
3.2.3 Giảm thiểu tác động môi trƣờng do chất thải rắn 69
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
4
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những năm trở lại đây, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế
trong quá trình đô thị hóa, đặc biệt là xu thế phát triển khu công nghiệp ngày
càng gia tăng kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng gây ô nhiễm môi trường
Trong đó ngành giấy đã mang lại không ít những lợi ích cho tập thể, cộng
người gây bất lợi cho nhóm khác. XĐMT là kết quả tất yếu của việc khai thác
quá mức tài nguyên thiên nhiên [4;45].
Năm 1998, quốc hội Mỹ đã thành lập viện nghiên cứu giải quyết
XĐMT nhằm hỗ trợ các đối tác trong việc giải quyết các xung đột và tranh cãi
về môi trường, tài nguyên thiên nhiên(TNTN), sử dụng đất thông qua hòa giải,
thương lượng và hợp tác giải quyết khó khăn. Từ khi thành lập, viện đã tổ
chức nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về XĐMT dưới nhiều hình thức
khác nhau như: Chính sách môi trường và cộng đồng để giải quyết tranh chấp,
lý thuyết và thực tiễn hòa giải, các ký thuật và kỹ năng hòa giải, các mô hình
thương lượng…[4;46].
Như vậy, từ lâu môi trường và xung đột môi trường đã là chủ đề được
nhiều người quan tâm, những nghiên cứu trước đó đã cung cấp những cơ sở lý
luận và thực tiễn sinh động cho việc giải quyết những xung đột môi trường
đang là vấn đề bức xúc đang diễn ra trên thế giới cũng như ở nước ta hiện nay.
2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, vấn đề xung đột môi trường trong những năm gần đây
được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Cuốn sách “Nghiên cứu xã hội về môi trường” của tập thể tác giả do
Vũ Cao Đàm chủ biên đã tập hợp những bài viết nghiên cứu về môi trường
như bài viết của Đào Thanh Trường về “Tranh chấp môi trường”, nghiên cứu
của Nguyễn Thị Nghĩa về “An ninh môi trường”, nghiên cứu của Nguyễn
Nguyệt Phương về “Xung đột môi trường giữa các bệnh viện và cộng đồng
dân cư”, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Huyền về “Quy hoạch bãi rác đô
6
thị từ giác độ xung đột môi trường” là những nghiên cứu quý giá góp phần
làm phong phú thêm những nghiên cứu xã hội nói chung về môi trường. Cuốn
sách trình bày những chủ đề đa dạng hơn thuộc những nghiên cứu xã hội về
môi trường “đây là sự tổng hợp kết quả nghiên cứu của những tác giả từ
những lĩnh vực nghiên cứu rất khác nhau từ những cơ quan khác nhau. Nhưng
nước, đánh giá và phân loại ô nhiễm theo các tiêu chuẩn của Việt Nan về môi
trường, đề xuất các giải pháp kỹ thuật, giải pháp quy hoạch [10;9].
Sách “Xã hội học môi trường” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh, 2011
cũng chỉ ra mối quan hệ qua lại giữa con người và môi trường, nêu lên một số
vấn đề nổi bật về môi trường hiện nay, giới thiệu về chủ đề cơ bản trong xã
hội học môi trường hiện nay đồng thời cung cấp những kiến thức cơ bản về
truyền thông môi trường… đây là những nghiên cứu quý giá giúp chúng ta
tiếp cận và làm quen với lĩnh vực môi trường hiện vẫn còn là chủ đề mới mẻ.
Luận văn thạc sỹ: “Giải pháp quản lý môi trường thông qua việc nhận
dạng xung đột môi trường giữa cơ sở xử lý rác thải với cộng đồng dân cư
sống xung quanh” (Nghiên cứu trường hợp bãi rác thải Nam Sơn, huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006 đã nêu
nên thực trạng xung đột môi trường giữa cơ sở xử lý rác thải với cộng đồng
dân cư sống xung quanh và đưa ra những giải pháp: Giải pháp trước mắt cũng
như giải pháp lâu dài đối với bãi rác Nam Sơn. Luận văn cũng có những đóng
góp cơ bản về cả lý luận và thực tiễn [10;10].
Đề tài:“Hành vi sức khoẻ của cư dân nông thôn trong bối cảnh XĐMT”
(nghiên cứu trường hợp làng nghề đồng bằng Bắc Bộ) do viện xã hội học-
Viện KHXHVN thực hiện năm 2007 tập trung nghiên cứu hành vi chăm sóc
sức khoẻ của người dân trong bối cảnh xung đột môi trường. Đề tài đã chỉ ra
những xung đột trong nội bộ môi trường làng nghề Hạ Thái, nổi lên là xung
đột giữa ô nhiễm môi trường do hoạt động làm nghề với hành vi chăm sóc sức
khoẻ của nguời dân. Tuy nhiên đề tài đã giới hạn và dừng lại ở tiếp cận hành
vi chăm sóc sức khoẻ của cộng đồng trong bối cảnh xung đột môi trường theo
8
cách nhìn xã hội chứ chưa quan tâm đến giải pháp quản lý XĐMT trong phát
triển làng nghề [10;11].
3. Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
đồng dân cư xung quanh?
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Xung đột môi trường giữa công ty sản xuất giấy Bãi Bằng, công ty
giấy Việt Trì với các cộng đồng dân cư xung quanh thể hiện dưới các dạng:
Xung đột mục tiêu, xung đột nhận thức, xung đột lợi ích…
- Nguyên nhân dẫn đến xung đột là do sự khác nhau trong quan niệm bảo
vệ môi trường, sự bất đồng trong nhận thức, trong cách cư xử với môi trường….
- Để hạn chế ô nhiễm môi trường giữa công ty sản xuất giấy Bãi Bằng,
công ty giấy Việt Trì với cộng đồng dân cư cần thực hiện một số giải pháp sau:
giải pháp hạn chế xung đột môi trường giữa công ty giấy với cộng đồng dân
cư cần thực hiện một số giải pháp tổng hợp kỹ thuật – kinh tế - xã hội.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn
Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành phân tích một số tài liệu liên
quan đến vấn đề nghiên cứu như sách, báo, tạp chí nghiên cứu chuyên sâu và
một số công trình nghiên cứu về nội dung liên quan đến vấn đề môi trường từ
đó nhằm nhận diện thực trạng vấn đề môi trường và xung đột môi trường hiện
nay. Đồng thời tác giả còn tham khảo một số đề tài, luận văn, các số liệu thống
kê, báo cáo có liên quan đến xung đột môi trường để lấy tư liệu phục vụ cho quá
trình nghiên cứu và đánh giá kết quả nghiên cứu thực nghiệm của đề tài.
7.2 Phương pháp quan sát
Phương pháp này nhằm ghi chép, mô tả, phân tích các yếu tố liên quan
dến vấn đề ô nhiễm môi trường tại địa bàn. Tiến hành quan sát thực tế tại địa
bàn về hiện trạng môi trường và thực trạng sản xuất và công nghệ tại các công
ty sản xuất giấy.
10
Quá trình khảo sát được diễn ra trong thời gian nghiên cứu tại địa bàn 2
công ty đóng và vào nhiều thời điểm khác nhau trong ngày từ thứ 2 đến thứ 6.
Tác giả thực hiện quan sát trước giờ làm việc (6h30) và sau giờ làm việc
lý môi trường các câp, lãnh đạo doanh nghiệp, người dân sống xung quanh
khu vực này và học sinh. Thời gian phỏng vấn được thực hiện vào buổi chiều
ng, ntối và buổi tối (từ 17h- 20h30) các ngày trong tuần đối với người dân và
học sinh, còn đối với chính quyền các cấp và lãnh đạo công ty giấy phỏng vấn
vào giờ hành chính (từ 7h- 17h) các ngày trong tuần.
Trong qua trình phỏng vấn tác giả được người cung cấp những thông tin
cho phép ghi lại toàn bộ cuộc phỏng vấn với mục đích phục vụ cho nghiên
cứu, đồng thời để đảm bảo tính khuyết danh, tác giả đã đổi tên và thay thế những
tên thật bằng những tên giả cho từng trường hợp phỏng vấn. Vì vậy, tên của những
khách thể được trích dẫn và sử dụng trong nghiên cứu này là tên giả.
Tác giả thực hiện phương pháp này nhằm tìm hiểu các dạng xung đột
và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường giữa công ty giấy Bãi Bằng, công ty
giấy Việt Trì với các cộng đồng dân cư xung quanh và đề xuất những biện
pháp hạn chế ô nhiễm môi trường
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm có 03 chương, cụ thể như sau:
Chƣơng 1: Trình bày cơ sở lý luận của đề tài
Chƣơng 2. Tìm hiểu các dạng xung đột môi trường và nguyên nhân
gây ô nhiễm môi trường giữa công ty giấy Bãi Bằng, công ty giấy Việt Trì với
các cộng đồng dân cư xung quanh.
Chương 3. Đề xuất những biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường giũa công
ty giấy Bãi Bằng, công ty giấy Việt Trì với các cộng đồng dân cư xung quanh
12
PHẦN 2. NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm môi trường
Trong những bối cảnh và cách tiếp cận khác nhau khái niệm môi trường
Với định nghĩa này, các thành tố văn hóa xã hôi, và các điều kiện tác
động không được coi là những thành phần của môi trường. Lý do là luận văn
này chỉ bàn đến ô nhiễm môi trường theo nghĩa là ô nhiễm môi trường tự
nhiên, vật chất chứ không phải ô nhiễm môi trường xã hội – văn hóa hay
điều kiện tác động như đã đề cập đến ở trên. Khái niệm ô nhiễm môi trường
dưới đây sẽ đề cập đến cụ thể hơn vấn đề ô nhiễm môi trường.
1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường
Theo luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005 thì: “Ô nhiễm môi
trường (ÔNMT) là trạng thái thành phần môi trường bị biến đổi do chất ô
nhiễm gây ra ở mức vượt tiêu chuẩn môi trường” [20;8].
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa thì:“ÔNMT là việc
chuyển các chất thải hoặc các nguyên liệu vào môi trường đến mức có khả
năng gây hại cho sức khỏe của con người và sự phát triển của sinh vật hoặc
làm giảm chất lượng môi trường sống” [2;75].
Ô nhiễm môi trường là do con người tạo ra và có các dạng ô nhiễm cơ
bản như sau:
- Ô nhiễm môi trường đất: xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc
hại. Hiện nay đất ở nước ta bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng, nguyên
nhân là do các hoạt động có chủ động của con người như khai thác bầu
khoáng sản, sản xuất công nghiệp, rừng bị tàn phá nặng nề, độ che phủ rừng
ngày càng bị giảm sút, mưa lũ làm cho rừng bị xói mòn, bạc màu, việc sử dụng
phân bón hóa học và các loại thuốc trừ sâu cũng làm cho đất bị ô nhiễm [20;8].
14
- Ô nhiễm không khí: Việc xả khói bụi và các chất hóa học vào bầu
không khí vượt quá giới hạn cho phép cụ thể là quá trình phát triển của các
ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và ô
nhiễm do các hoạt động khác của con người gây nên [20;8].
- Ô nhiễm nước: Đây là loại ô nhiễm gây nguy hại nhất vì ô nhiễm nước
tác động trực tiếp đến sức khỏe con người, là nguồn gốc gây ra các loại bệnh
trường gây ra trong sự tương tác với nhiều yếu tố, thường là các yếu tố có tính
chất bối cảnh, tình huống cụ thể. Xung đột môi trường xuất hiện qua ba hình
thức: khan hiếm do nhu cầu (nghĩa là sự khan hiếm nảy sinh do nhu cầu gia
tăng, chẳng hạn do gia tăng dân số), khan hiếm do nguồn cung (nghĩa là sự
khan hiếm gây ra do sự sụt giảm tổng thể những nguồn tài nguyên cụ thể, có
sẵn do sự suy thoái hoặc cạn kiệt) và khan hiếm cấu trúc (nghĩa là sự khan
hiếm nảy sinh từ việc phân bố không đồng đều các nguồn tài nguyên hoặc là
từ việc tiếp cận đối với các nguồn tài nguyên) [1;127].
Xung đột môi trường là xung đột giữa quyền lợi của cộng đồng, vị trí
nghề nghiệp và ưu tiên chính trị, là những mâu thuẫn giữa hiện tại và tương lai,
giữa bảo tồn và phát triển. Kết quả của xung đột môi trường có thể là xây
dựng hoặc phá hủy phụ thuộc vào quản lý xung đột [4;11].
Xung đột môi trường là là kết quả của việc sử dụng tài nguyên do một
nhóm người gây bất lợi cho nhóm khác [4;11].
Xung đột môi trường là kết quả của việc khai thác quá mức hoặc lạm
dụng tài nguyên thiên nhiên [4;11].
Trên thực tế, tồn tại nhiều loại xung đột nhưng xung đột môi trường chỉ
có thể xuất phát từ một loại xung đột đó thường là xung đột về lợi ích. Vì lợi
ích trước mắt của một nhóm hoặc sự thỏa hiệp lợi ích của các nhóm mà môi
trường bị ô nhiễm, có nguy cơ bị hủy hoại.
Như vậy có thể tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về xung đột môi
trường của các tác giả khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả đều thống nhất
16
với nhau ở những điểm như: Xung đột môi trường là quá trình hình thành và
phát triển mâu thuẫn giữa các cá nhân hoặc các nhóm xã hội trong sự liên
quan đên các vấn đề môi trường [4;24].
1.1.4.2 Đặc điểm của xung đột môi trường
Theo Valerie Brow trong Risks and opportunities, earths can
Publications LTD, London có các đặc điểm sau:
“Trên thực tế xung đột môi trường xuất phát từ một loại xung đột xong
thường tồn tại một số loại và cuối cùng cái đọng lại lớn nhất là xung đột lợi
ích: Vì lợi ích vị kỷ của một nhóm hoặc vì sự thỏa hiệp lợi ích giữa các nhóm,
môi trường bị hủy hoại, nhờ sự cam kết chuẩn mực môi trường hoặc sự đấu
tranh giữa các nhóm mà môi trường được bảo vệ” [14;33].
“Vấn đề không chỉ ở nhận thức của các nhóm, hoặc sự được nhận giáo
dục ở mỗi thành viên trong xã hội, mà môi trường được bảo vệ. Chẳng hạn
các ông chủ nghiệp cùng những người cộng sự kỹ thuật am hiểu về môi
trường nhiều hơn bất cứ người dân nào nhưng họ vẫn phá hoại môi trường ở
các vùng phụ cận xí nghiệp. Đó là vì lợi ích của họ, vì lòng tham tranh giành
lợi ích kinh tế vượt ra ngoài khuôn khổ của nhận thức môi trường” [14;33].
1.1.4.4 Các đương sự trong xung đột môi trường
Theo Vũ Cao Đàm trong nghiên cứu xã hội về môi trường thì xung đột
có thể xuất hiện trong quan hệ giữa các nhóm trong nội bộ cộng đồng dân cư
(CĐDC), song cũng có thể xuất hiện trong rất nhiều mối quan hệ khác nhau.
Có thể nhận diện một số quan hệ xung đột sau [14;34-35]:
- Xung đột trong cộng đồng không phân chia nhóm xâm hại và nhóm bị
xâm hại. Đây là những xung đột xuất hiện trong quá trình chia sẻ các nguồn
lợi tài nguyên và môi trường. Dạng xung đột này có thể tồn tại trên quy mô rất
nhỏ giữa hai gia đình, xong cũng có thể tồn tại giữa hai địa phương, thậm chí
giữa hai quốc gia [14;35].
- Xung đột có phân chia chiến tuyến giữa một bên là nhóm xâm hại và
một bên là nhóm bị xâm hoại. Đây là trường hợp mối quan hệ giữa các xí
nghiệp, bệnh viện và cồng đồng dân cư. Dạng quan hệ này cũng tồn tại giữa
18
hai địa phương hoặc hai quốc gia, trong đó không có sự tranh chấp mà chỉ tồn
tại hai bên, một bên là bị hại và một bên là người xâm hại [14;35].
- Xung đột giữa cơ quan quản lý môi trường với dân cư. Đây là những
xung đột xuất hiện trong quá trình xử lý các xung đột: Các bên trong CĐDC
đồng dân cư là nguyên nhân cơ bản. Sự tham gia của cộng đồng dân cư không
những đảm bảo được lợi ích của cộng đồng dân cư mà còn phát huy được kiến
thức bản địa của cộng đồng phục vụ cho phát triển. Kinh nghiệm của Việt
Nam cũng như trên thế giới cho thấy thiếu sự tham gia của cộng đồng dân cư
thì khó có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa bảo vệ môi trường và phát triển
kinh tế [18;21].
+ Các hệ thống giá trị khác: Trong việc khai thác cùng một nguồn tài
nguyên môi trường thì các hệ thống giá trị khác nhau đối với các nhóm xã hội
khác nhau cũng dễ dàng dẫn đến xung đột môi trường [18;22].
1.1.4.6 Mức độ xung đột
Xung đột có các mức độ sau đây:
- Không nghiêm trọng: “Là những xung đột ở mức thấp, không bắt
nguồn từ những chênh lệch về lợi thế về quyền lực, lợi ích đồng thời các bên đương sự
hiểu rất rõ nó cũng không dẫn đến những tác hại lớn cho mỗi bên” [17;26].
- Ít nghiêm trọng: “Xung đột ở mức này thường xuất hiện ở những chủ
đầu tư đang cùng khai thác nguồn lợi của một địa bàn, trong chừng mực nào
đó giữa họ rất dễ dàn xếp với nhau” [17;26].
- Nghiêm trọng: “Xung đột nghiêm trọng là những xung đột có thể dẫn
đến những phản ứng mạnh mẽ giữa các đương sự xung đột” [17;26].
- Rất nghiêm trọng: “Đây là những xung đột bắt nguồn từ những bất
bình đẳng lớn về quyền lực, không chỉ về mặt tài nguyên mà cả những bất
bình đẳng về tài chính và bất bình đẳng về chính trị. Loại xung đột này có thể
dẫn tới xung đột vũ trang” [17;26].
20
1.1.4.7 Các biện pháp giải quyết xung đột môi trường
Theo Vũ Cao Đàm: “Xã hội học môi trường đi sâu phân tích mối quan
hệ giữa các nhóm xã hội, những tranh chấp giữa họ với nhau, hoặc giữa họ với
cộng đồng dân cư trong việc tranh giành lợi thế tài nguyên thiên nhiên và môi
trường, từ đó dẫn đến những xung đột môi trường. Xung đột môi trường là