I.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay với xu hướng toàn cầu hóa, du lịch trên phạm vi toàn cầu đã
phát triển nhanh và trở thành ngành kinh tế hàng đầu thế giới.Dòng khách du
lịch thế giới đang hướng tới những khu vực có nền chính trị ổn định, kinh tế
phát triển; đặc biệt là dòng khách du lịch thế giới đang có xu thế chuyển dần
sang khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và Đông Nam Á, những nơi có nền
kinh tế phát triển năng động và nền chính trị hòa bình ổn định, mà trong đó Việt
Nam được đánh giá là điểm đến an toàn và thân thiện. Du lịch đóng vai trò quan
trọng trong đời sống kinh tế xã hội, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác
phát triển,tăng ngoại tệ, cân bằng cán cân thanh toán, cải thiện kết cấu hạ tầng,
tạo việc làm và nâng cao mức sống cho người dân. Nhận thức rõ được tầm quan
trọng đó, thì trong “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030” Đảng và Nhà nước ta đã nêu rõ quan điểm về
phát triển du lịch là huy động mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng cả nước và
của từng địa phương, tăng dần đầu tư phát triển du lịch để đảm bảo du lịch là
một ngành kinh tế mũi nhọn. Ninh Bình là một tỉnh có nhiều tiềm năng về du
lịch, nhiều thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng.
Tuy nhiên, trong thực tế phát triển du lịch Ninh Bình những năm qua còn
nhiều hạn chế, chưa xứng đáng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, chưa gắn với
công tác bảo tồn và phát huy một cách hiệu quả.Sản phẩm du lịch chưa phong
phú, đa dạng, khác biệt để hấp dẫn du khách. Vấn đề đặt ra ở đây là phải vừa
khai thác môi trường tự nhiên và văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của
khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn, đồng thời vừa duy trì
các khoản đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường, cải tạo các tài nguyên du
lịch góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương. Nhận rõ tình hình
đó, đề tài “Một số đề phát triển du lịch bền vững tại Ninh Bình” được em lựa
chọn làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
+ Hiểu sâu sắc, thấu đáo lý luận về vấn đề quy hoạch và phát triển du lịch một
cách bền vững trong tương lai.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận về du lịch và du lịch bền vững
1.1.
Khái niệm du lịch và các loại hình du lịch
1.1.1 Khái niệm du lịch
Từ giữa thế kỉ 19, du lịch bắt đầu phát triển mạnh và ngày
nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ
ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó
có Việt Nam. Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là
một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên
cho đến nay nhận thức về du lịch vẫn chưa thống nhất. Có 1
chuyên gia đã từng nói: “Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả
nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”.
Có khá nhiều khái niệm “Du lịch” nhưng tổng hợp lại ta thấy
du lịch hàm chứa các yếu tố sau:
- Là một hiện tượng kinh tế xã hội.
- Là sự di chuyển tạm thời ngoài nời ở thường xuyên của
các cá nhân hoặc tập thể nhằm thỏa mãn các nhu cầu của
họ.
- Là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa
dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình và các nhu
cầu đa dạng của khách du lịch.
Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển
của cư dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di
chuyển đó. Chúng ta cũng thấy ý tưởng này trong quan điểm của
Hienziker và Kraff “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện
tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các
cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường
- Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch:
+ Du lịch quốc tế.
+ Du lịch nội địa.
- Căn cứ vào nhu cầu du lịch.
+ Du lịch chữa bệnh.
+ Du lịch nghỉ ngơi giải trí.
+ Du lịch thể thao.
+ Du lịch văn hóa.
+ Du lịch công vụ.
+ Du lịch thương gia.
+ Du lịch tôn giáo.
+ Du lịch thăm hỏi, du lịch quê hương.
+ Du lịch quá cảnh.
- Căn cứ vào đối tượng khách du lịch.
1.2.
+ Du lịch thanh, thiếu niên.
+ Du lịch dành cho những người cao tuổi.
- Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi.
+ Du lịch theo đoàn.
+ Du lịch cá nhân.
- Căn cứ vào phương tiện giao thông được sử dụng.
+ Du lịch bằng xe đạp.
+ Du lịch bằng xe máy.
+ Du lịch bằng ô tô.
+ Du lịch bằng tàu hỏa.
+ Du lịch bằng tàu thủy.
+ Du lịch bằng máy bay.
tác động tiêu cực làm suy thoái môi trường tự nhiên. Trước những
thực tế không thể phủ nhận là môi trường ngày càng bị ô nhiễm bởi
chất thải từ các hoạt động kinh tế, nhiều loài sinh vật đã và đang có
nguy cơ bị diệt vong, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển
của toàn xã hội qua nhiều thế hệ… Từ nhận thức này đã xuất hiện
một khái niệm mới của con người về hoạt động phát triển, đó là
“phát triển bền vững”.
Thuật ngữ phát triển bền vững có mặt lần đầu tiên vào năm
1980, và mãi đến năm 1987 được chính thức đưa ra tại Hội nghị
của Ủy Ban thế giới về Phát triển và Môi trường (WCED) nổi tiếng
với tên gọi Ủy ban Brundtlant. Theo định nghĩa của tồ chức này
thì: “Phát triển bền vững được hiểu là hoạt động phát triển kinh tế
nhằm đáp ứng các yêu cầu của thế hệ mai sau”.
Mặc dù còn nhiểu tranh luận xung quanh khái niệm về phát
triển bền vững ở những góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung cho
đến nay khái niệm mà Ủy ban Thế Giới về phát triển và môi trường
WECD đưa ra năm 1987 được sử dụng rộng rãi, làm chuẩn mực để
so sánh các hoạt động phát triển có trách nhiệm đối với môi trường
con người.
Đối với Việt Nam khái niệm “Phát triển bền vững” được biết
đến vào những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90. Mặc dù
xuất hiện ở Việt Nam khá muộn song lại được các nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây, trên cơ sở tiếp thu
những kết quả nghiên cứu về lý luận và kinh nghiệm quốc tế về
phát triển bền vững, đối chiếu với những hoàn cảnh cụ thể ở Việt
Nam.
Phát triển bền vững cũng đã trở thành đường lối, quan điểm
của Đảng và chính sách nhà nước. Chỉ thị số 36/CT của Bộ Chính
Trị BCHTW Đảng ngày 25/6/1998 đã xác định mục tiêu và các
quan điểm cơ bản cho phát triển bền vững dựa chủ yếu vào hoạt
bền vững là sự tăng trưởng về kinh tế do du lịch đem lại.
Đa số cho rằng du lịch bền vững được hiểu là: “Hoạt động
khai thác môi trương tự nhiên và văn hóa nhằm thỏa mãn các nhu
cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế
dài hạn, đồng thời tiếp tục duy trì các khoản đóng góp cho công tác
bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng
địa phương.”
Tại hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hiệp
Quốc tại Rio dejaneiro năm 1992 thì: “Du lịch bền vững là việc
1.4.
phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại
của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến
việc bảo tồn và tôn tạo các tài nguyên cho việc phát triển hoạt động
du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý
các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã
hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn
vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái
và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người.”
Như vậy, trọng tâm của phát triển du lịch bền vững là đấu
tranh cho sự công bằng giữa các mục tiêu về kinh tế, xã hội, và bảo
vệ tài nguyên, môi trường và văn hóa cộng đồng trong khi phải
tăng cường sự thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của
khách du lịch.
Tuy có nhiều khái niệm về du lịch bền vững nhưng tập trung
lại nó phải có những nội dung sau đây:
- Giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và môi
trường nhân văn. Du lịch phải thân thiện với môi trường.
giúp ngành du lịch phát triển 1 cách bền vững.
Hạn chế tiêu thụ quá mức và giảm chất thải: Sự khai thác quá
mức tài nguyên và các tài nguyên khác không chỉ dẫn đến sự
hủy hoại môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên mà còn không
đảm bảo tài nguyên cho sự phát triển lâu dài của ngành du lịch.
Các chất thải của phương tiện vận chuyển khách, chất tẩy rửa,
dầu ăn, nước thải từ dịch vụ giặt đồ và nấu ăn, cùng với lượng
chất thải khác từ các dịch vụ phục vụ du khách, cũng như khách
du lịch. Nếu chúng không được thu gom xử lý đúng yêu cầu kỹ
thuật, hoặc tái chế sẽ là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.
Do vậy việc quy hoạch phát triển du lịch đúng đắn ngay từ
khi lập án phải tiến hành đánh giá tác động từ hoạt động du lịch
đến tài nguyên môi trường, từ đó dự kiến những biện pháp
phòng ngừa hữu hiệu nhằm giảm tiêu thụ quá mức tài nguyên
và giảm lượng chất thải vào môi trường là cần thiết.
Hợp nhất quy hoạch du lịch vào quá trình quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội: Du lịch là một ngành kinh tế mang tính liên
ngành, nó có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhiều ngành kinh
tế-xã hội. Ngành du lịch mang lại hiệu quả trực tiếp và gián tiếp
đối với các ngành kinh tế-xã hội. Do vậy cần hợp nhất phát triển
du lịch vào trong khuôn khổ hoạch định chiến lược của địa
phương và của quốc gia. Quy hoạch phát triển du lịch là một bộ
phận của quy hoạch kinh tế - xã hôi, nó làm tăng khả năng tồn
tại, phát triển lâu dài của ngành du lịch.
Hỗ trợ kinh tế địa phương: Du lịch được coi là một ngành tổng
hợp vì vậy sự phát triển của du lịch có liên quan mật thiết đối
với các ngành kinh tế khác trong đó có cả ngành kinh tế địa
phương vì vậy muốn phát triển bền vững du lịch thì du lịch phải
có vai trò hỗ trợ, dẫn dắt kinh tế địa phương phát triển.
tích cực đến đời sống xã hội và kinh tế. Du lịch thực sự đóng
vai trò quan trọng và là ngành mũi nhọn chỉ khi nó được phát
triển một cách bền vững.
Mục tiêu của phát triển du lịch bền vững
- Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi
trường : Du lịch là một ngành kinh tế, nên phát triển bền vững
-
1.5.
cần phải bền vững về kinh tế, thu nhập phải lớn hơn chi phí,
phải đạt được sự tăng trưởng cao, ổn định trong thời gian dài,
tối ưu hóa đóng góp của ngành du lịch và thu nhập quốc dân,
góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển.
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương, Cải
thiện tính công bằng xã hội trong phát triển: thu hút cộng đồng
địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch, tạo nhiều công
ăn việc làm tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương, làm giảm
sự cách biệt giàu nghèo trong xã hội.
- Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách: Đa dạng hóa, nâng cao
chất lượng sản phẩm du lịch, để đáp ứng các nhu cầu ngày một
mới mẻ của du khách.
- Duy trì chất lượng của môi trường: Phải sử dụng bảo vệ tài
nguyên và môi trương du lịch theo hướng tiết kiệm, bền vững,
đảm bảo sự tái tạo và phục hồi của tài nguyên, nâng cao chất
lượng tài nguyên và môi trường, thu hút cộng đồng và du khách
vào các hoạt động bảo tồn, tôn tạo tài nguyên.
Như vậy, các nhà quy hoạch trong quá trình quy hoạch du lịch cần
xem xét đến việc đáp ứng các mục tiêu phát triển du lịch bền vững
Đóng góp kinh phí cho việc bảo tồn, nâng cao giá trị và khôi
phục các di sản kiến trúc, nghệ thuật, vật thể và phi vật thể, văn
hóa, thủ công mỹ nghệ, phong tục truyền thống…
- Thúc đẩy sự phát triển của ngành ngoại thương, đa số là xuất
khẩu tại chỗ. Việc xuất khẩu bằng du lịch quốc tế có lợi lớn về
nhiều mặt: tạo được doanh thu và lợi nhuận lớn hơn, giá bán
cao hơn, tiết kiệm được chi phí đóng gói và chi phí vận chuyển
quốc tế.
- Tăng cường sự giao lưu hiểu biết, thắt chặt tinh thần đoàn kết
hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc.
- Tạo tiền đề cho việc khôi phục các sinh hoạt văn hóa truyền
thống của cộng đồng đã bị mai một, đặc biệt là các lễ hội.
- Phát triển du lịch có lợi cho việc cải thiện môi trường đầu tư,
xúc tiến, mở cửa với bên ngoài.
- Dịch vụ y tế và các tiêu chuẩn vệ sinh được nâng cao. Xử lý rác
thải được cải thiện, dịch vụ môi trường được nâng cấp.
- Giáo dục và bảo tồn thiên nhiên: Giáo dục và kiến thức được
nâng lên, cơ hội đào tạo được mở rộng, khuyến khích việc quản
lý và bảo vệ các di sản và môi trường thiên nhiên.
1.6.2. Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch đã có
những tác động tiêu cực nhất định đối với môi trường do tốc độ
phát triển quá nhanh trong điểu kiện còn thiếu phương tiện xử
lý môi trường, nhận thức và công cụ quản lý nhà nước về môi
trường còn hạn chế…từ đó dẫn đến sự gia tăng áp lực đến môi
trường.
1.6.2.1.
Đối với môi trường tự nhiên
+ Sự thay đổi địa vị giữa chủ và khách.
+ Tăng cường xung đột giữa cái mới và cái bảo thủ. Xã hổi trở
nên phức tạp hơn.
- Các di sản văn hóa lịch sử, khảo cổ dễ bị xuống cấp khi vừa
chịu tác động của khí hậu và của khách du lịch tới thăm.
- Mâu thuẫn nảy sinh giữa người làm du lịch với dân cư địa
phương do việc phân bố lợi ích và chi phí trong nhiều trường
hợp chưa được công bằng.
-
Do tính chất mùa vụ của du lịch làm cho các dịch vụ công cộng
và cơ sở hạ tầng địa phương khó có thể đáp ứng nhu cầu tại thời
kì cao điểm đó.
Phân tích thực trạng trong phát triển du lịch bền vững ở Ninh Bình.
2.1.
Tiềm năng phát triển du lịch ở Ninh Bình
2.1.1. Vị trí địa lý
Ninh Bình là tỉnh nằm ở cực nam Đồng bằng Bắc Bộ, cách Hà
Nội 93Km về phí Nam, có tọa độ địa lý từ 19°50’ vĩ độ Bắc đến
20°27’ vĩ độ Bắc và 105°32’ đến 106°33’ kinh độ Đông. Ninh
Bình nằm ở vị trí ranh giới 3 khu vực địa lý: Tây Bắc, châu thổ
Sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Đồng thời cũng nằm giữa ba
vùng kinh tế: vùng Hà Nội, vùng duyên hải Bắc Bộ và vùng
duyên hải miền Trung.
Nó có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp với Hòa Bình, Hà Nam.
- Phía Đông giáp với Nam Định qua sông Đáy.
- Phía Tây giáp với Thanh Hóa.
- Phía Nam giáp biển (Vịnh Bắc Bộ).
năm: 1700-1800mm. Nhiệt độc trung bình 23,5°C. Số giờ
nắng trong năm là: 1600-1700 giờ. Độ ẩm tương đối trung
bình: 80-85%.
c) Sinh vật
Thảm thực vật rừng phong phú, tập trung ở Vườn quốc gia
Cúc Phương. Rừng Cúc PHương thuộc loại rừng mưa nhiệt
đới điển hình với cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng, phong
phú về thàn phần loài.
Tài nguyên du lịch nhân văn của Ninh Bình
a) Di tích lịch sử văn hóa
Ninh Bình là 1 vùng đất cổ nằm ở vị trí cửa ngõ cực nam của
tam giác Châu thổ sông Hồng và miền bắc. Vùng đất này
còn nhiều dấu tích liên quan trưc tiếp đến các nền văn minh
cổ ở Việt Nam như văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đa Bút, văn
hóa Đông Sơn. Nơi đây có cố đô Hoa Lư từng là kinh đô của
ba triều đại nhà Đinh, Tiền Lê và Hậu Lý. Trong kháng
chiến chống ngoại xâm nơi đây có phòng tuyến Tam Điệp,
chiến khu Quỳnh Lưu, hành cung Vũ Lâm và là địa bàn
trọng yếu của chiến dịch Hà Nam Ninh lịch sử. Những đặc
điểm về lịch sử, văn hóa, tự nhiên đã tạo cho vùng đất Ninh
Bình một hệ thống các di tích phong phú và đa dạng.
Tính đến năm 2012, Ninh Bình có 1499 di tích, trong đó có
344 ngôi chùa, 229 đình, 381 đền, 98 miếu, 51 phủ, 149 nhà
thờ công giáo, 236 nhà thờ họ. Trong đó có 3 di tích cấp
quốc gia đặc biệt quan trọng là Quần thể danh thắng Tràng
An- Tam Cốc- Cố đô Hoa Lư.
b) Lễ hội
Theo báo cáo của đồng chí Bí thư tỉnh ủy tỉnh Ninh Bình
với đồng chí Bộ Trưởng bộ văn hóa thể thao và du lịch
tại buổi làm việc giữa Đoàn công tác bộ văn hóa thể thao
e) Ẩm thực
Bên cạnh những món ăn của vùng đồng bằng Bắc Bộ, ẩm
thực Ninh Bình có đặc trưng riêng: Tái dê Ninh Bình, Nhất
hưởng thiên kim (cơm cháy), Nem Yên Mạc (Yên Mô),
Rượu Lai Thành, Mắm tép Gia Viễn, Rượu cần Nho Quan.
2.2.
Thực trạng phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Ninh
Bình
2.2.1. Tình hình tăng trưởng
Cơ sở hạ tầng
a) Giao thông
Ninh bình có 3 hệ thống đường giao thông, gồm:
Đường bộ, đường thủy và đường sắt.
Hệ thống giao thông đường bộ gồm có: Quốc lộ 1A, 10, 45,
12B với tổng chiều dài trên 110km; tỉnh lộ gồm 19 tuyến: 477,
477B, 477C, 478, 478B, 479, 479C, 480, 480B, 480C, 480D,
480E, 481, 481D, 481E, 481B và các đường chính của TP Ninh
Bình và TX Tam Điệp với tổng chiều dài hơn 293,6km; huyện
lộ dài 79 km và đường giao thông nông thôn 1338km. Cùng với
đường cao tốc Bắc-Nam đang xây dựng sẽ tạo ra lợi thế cạnh
tranh trong phát triển, đặc biệt là du lịch.
Hệ thống đường thủy gồm 22 tuyến sông trong đó Trung ương
quản lý 4 tuyến (sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vạc và
kênh nhà Lê) với tổng chiều dài gần 364,3km. Có 3 cảng chính
do trung ương quản lý là cảng Ninh Bình, cảng Ninh Phúc và
cảng K3 (thuộc nhà máy nhiệt điện Ninh Bình) cũng đã được
nâng cấp. Hàng loạt các bến xếp dỡ hàng hóa, ụ tàu, khu neo trú
tàu thuyền nằm trên các bờ sông và cửa sông, phục vụ phát triển
Mạng lưới cấp điện trong Tỉnh đã được xây dựng với
tổng chiều dài các đoạn đường dây trung cao áp là
770km. Hiện nay, tỉnh có 1 nhà máy điện Ninh Bình
và 4 trạm điện phân phối. Hiện nay, về cơ bản nguồn
điện có thể đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.
c) Hệ thống cấp nước
Trong những năm gần đây tỉnh Ninh Bình đã từng
bước phát triển đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt
cho vùng đô thị (thị xã Ninh Bình, thị xã Tam Điệp
có nhà máy nước công suât 12000 /ngày đêm. Các
thị trấn như Thiên Tôn, Yên Định, Yên Ninh, Nho
Quan, Me, Phát Diệm đều có trạm nước máy công
suất 2000-2200/ ngày đêm.
d) Hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường
Mạng lưới nước thải sinh hoạt tại các đô thị của
Tỉnh sử dụng hệ thống thoát chung (cho cả nước
mưa và nước thải sinh hoạt). Hệ thống thoát nước
mưa bao gồm các loại cống tròn bê tông cốt thép,
cống hộp và mương có nắp đan. Các loại nước thải
hầu như chưa được xử lý đến giới hạn cho phép và
thường được xả trực tiếp ra sông suối.
Nước thải công nghiệp: hầu hết nước thải từ các
nhà máy công nghiệp chưa được xử lý đến độ
trước khi xả ra hệ thống thoát nước chung và sông,
suối…, điển hình là nước thải từ các nhà máy xi
2.2.1.2.
măng, nhà máy phân lân vì vậy đã làm gia tăng ô
20 giường. Cơ sở y tế tuyến phường, xã: bao gồm 14
trạm y tế trong các phường, xã đều đạt chuẩn quốc gia
về y tế cơ sở. Ngoài ra, cơ sở y tế tuyến khu vực,
2.2.1.3.
2.2.1.4.
ngành: một bệnh xá công an tỉnh Ninh Bình, một viện
Quân y 5 với tổng số 186 giường bệnh. Đáp ứng đủ
Lực lượng lao động trong ngành du lịch
Tỉnh có một trường Đại học đa ngành, trường Trung học
kinh tế - kĩ thuật và Tại chức, 4 trường Cao đẳng dạy
nghề, 4 trường trung cấp nghề, 5 trung tâm đào tạo nghề
của địa phương và nhiều cơ sở đào tạo nghề của các tổ
chức, cá nhân. Do vậy, chất lượng lao động ngành du lịch
đã được nâng lên đáng kể.
Như vậy, năm 2011 là 7951 lao động trong đó lao động
có trình độ ĐH-CĐ, là 345 lao động, trung cấp là 583 lao
động, điều đó chứng tỏ trình độ nghiệp vụ của đội ngũ lao
động du lịch đã được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ lao động được
đào tạo bước đầu đã được nâng cao. Đến năm 2013, có
2300 lao động trực tiếp, và 8700 lao động gián tiếp.
Trong đó có hơn 40% tổng số lao động được đào tạo hoặc
bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch. Và ước tính đến năm 2015,
ước sẽ thu hút và giải quyết khoảng từ 8000-10000 lao
động chính trong ngành Du lịch và trên 20000 lao động
có thu nhập gián tiếp thông qua hoạt động dịch vụ, du
lịch.
Theo đó lượng khách du lịch của Ninh Bình liên tục tăng
qua các năm năm 2013 tăng 0,68 triệu lượt khách
(18,33%) so với năm 2012. Tính đến tháng 9 năm 2014
lượt khách đã vượt tổng lượng khách của cả năm 2012,
và đã giảm nhẹ 6,2% so với cùng kì năm 2013.
Cũng theo trang thống kê của trang này thì doanh thu từ
du lịch, và nộp cho ngân sách từ năm 2011 đến nay như
sau:
Bảng doanh thu và nộp cho ngân sách của ngành du lịch
Ninh Bình .
(Đơn vị: triệu đồng)
Năm
2011
2012
2013
9/2014
Doanh thu
614622
728474
899246
788080
2.2.2.3.
vững thì con người có vị trí quan trọng hàng đầu, để có
được đội ngũ cán bộ du lịch, được những người dân,
những du khách tham gia hoạt động du lịch tự ý thức và
trách nhiệm bảo vệ môi trường là do chúng ta đã luôn
luôn tuyên truyền nâng cao dân trí để họ có sự hiểu biết
cao về môi trường, về mối quan hệ môi trường và phát
triển kinh tế-xã hội.
Vấn đề việc làm
Du lịch được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, do
vậy các sản phẩm du lịch cũng trở nên đa dạng và phong
phú hơn, đáp ứng nhu cầu của du khách nhiều hoạt động
kinh tế như chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất hàng thủ công
mỹ nghệ, cung ứng dịch vụ được phát triển, góp phần tạo
việc làm, tăng thu nhập cho người dân, nâng cao chất
lượng cuộc sống của cộng đồng. Tuy nhiên, do nhu cầu
sử dụng một diện tích lớn đất đai của các dự án quy
hoạch du lịch nên làm suy giảm diện tích đất canh tác, đất
rừng, đã ảnh hưởng không nhỏ tới công ăn việc làm của
ngươi dân bởi hầu hết lao động trong ngành du lịch
thường mang tính mùa vụ. Để đảm bảo mức sống cho
người lao động các cấp, ban, ngành của tỉnh Ninh Bình
đã có nhữn định hướng chiến lược về làm cho người dân
bản địa như: thu hút lao động làm việc trong các doanh
nghiệp, các xưởng thủ công mỹ nghệ, khôi phục và bảo
tồn làng nghề truyền thống…
Các vấn đề khác
Nhiều dự án quy hoạch du lịch đã có sự đầu tư cho bảo
tồn, phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc, thu hút một số
tế có nhiều triển vọng. Thực tế, số lượt khách cũng như
doanh thu từ du lịch của Ninh Bình liên tục tăng qua các
năm. Nếu năm 2009, số lượt khách đạt 2,2 triệu lượt
khách thì năm 2012 con số này tăng lên 3,75 triệu lượt
khách tăng 70% trong đó khách quốc tế đạt gần 675
nghìn lượt người, khách lưu trú đạt 268 nghìn lượt người.
Doanh thu từ du lịch năm 2009 đạt 250 tỷ đồng, năm
2012 đạt 780 tỷ đồng, tăng 212%. Riêng đối với năm
2013 lượng khách đến Ninh Bình đạt 4,39 triệu lượt đạt
117%, tăng 17% so với cùng kì năm 2012. Trong đó
khách quốc tế đạt 526793lượt, khách nội địa đạt 3874899
lượt. Doanh thu từ du lịch đạt 899246 triệu, đạt 123,4%,
tăng 23,4% so với năm 2012.
2.3.1.2.
2.3.1.3.
Như vậy có thể thấy thị trường du lịch Ninh Bình đã khá
ổn định và có sự tăng trưởng đều qua các năm. Điều đó
khẳng định du lịch Ninh Bình ngày càng trở thành ngành
kinh tế quan trọng, du lịch Ninh Bình đã có chỗ đứng trên
bản đồ du lịch trong nước và quốc tế.
Du lịch phát triển góp phần nâng cao đời sống tinh
thần và ổn định xã hội.
Du lịch Ninh Bình đã có bước phát triển khá nhanh, đang
dần trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần giải
quyết việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống
nhân dân, mở rộng các mối quan hệ, hợp tác của tỉnh, làm
Cố đô Hoa Lư… các loại hình du lịch thân thiện với môi
trường như: du lịch sinh thái, tích cực ứng dụng công
nghệ làm sạch môi trương, giảm thiểu tiêu thụ năng
lượng, nước sạch, tái sử dụng chất thải tại các cơ sở kinh
doanh như: Vân Long, Kênh Gà-Vân Trinh…
2.3.1.4.
Nguyên nhân dẫn đến những thành công
- Tính đa dạng về tài nguyên du lịch: Ninh Bình có tiềm năng du
lịch đa dạng và phong phú (các di tích lịch sử văn hóa, danh lam
thắng cảnh, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, nguồn
khoáng nước nóng…)
Từng là kinh đô của Việt Nam từ thế kỉ X, nơi phát tích ba triều
đại Đinh-Tiền Lê- Lý nên Ninh Bình cũng là mảnh đất giàu
tiềm năng về du lịch văn hóa với hàng loạt các đền đài, chùa
miếu, di tích lịch sử.
Chiều sâu văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán, đời sống tâm
linh cùng hệ sinh thái cảnh quan độc đáo gắn với nhiều địa
danh, di tích, lễ hội, làng nghề nổi tiếng của Ninh Bình đã hình
thành nên hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn hấp
dẫn, đặc sắc. Đây chính là tiềm năng to lớn để Ninh Bình phát
triển các loại hình du lịch phong phú trong quá trình phát triển.
Bên cạnh đó, sản phẩm du lịch lại không trùng lặp với sản phẩm
du lịch của nhiều địa phương khác trong khu vực, đặc biệt là
các địa phương phụ cận như Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa.
Điều này tạo cho du lịch Ninh bình có được sức hấp dẫn riêng,
khi mà tình trạng “trùng lặp” về sản phẩm du lịch đang là yếu
tố cản trở du lịch phổ biến.
- Vị trí địa lý của Ninh Bình
Ninh Bình là một tỉnh ở phía Nam đồng bằng sông Hồng, trên
tuyến huyết mạch Bắc-Nam. Ninh Bình cách Thủ đô Hà Nội