Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN











NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
CẤP TỈNH TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
BỀN VỮNG TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62310102



Nguyễn Mạnh Cường ii
LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành luận án một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố
gắng của bản thân là sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, sự quan tâm, tạo
điều kiện của cơ quan nơi tôi công tác cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình,
bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận án
tiến sĩ
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể quý Thầy, Cô giáo trong
khoa Lý luận Chính trị, Viện đào tạo sau đại học trường Đại học kinh tế Quốc dân,
nhất là PGS.TS Đào Thị Phương Liên và TS. Hà Văn Siêu, người đã trực tiếp
hướng dẫn tôi hoàn thành luận án. Với những lời chỉ dẫn, những tài liệu, sự tận
tình hướng dẫn và những lời động viên của Thầy, Cô đã giúp tôi vượt qua nhiều khó
khăn trong quá trình thực hiện luận án này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban tổ chức Tỉnh ủy, Văn phòng Tỉnh ủy,
Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh
Ninh Bình, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp những người đã luôn động viên, hỗ trợ
và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và
thực hiện luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

tỉnh trong phát triển du lịch bền vững 39
2.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC VỀ NÂNG CAO VAI TRÒ
CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN
VỮNG VÀ BÀI HỌC CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TỈNH NINH BÌNH 42
2.3.1.Kinh nghiệm quốc tế về vai trò của chính quyền địa phương trong phát
triển du lịch bền vững 42
2.3.2. Kinh nghiệm trong nước về vai trò của chính quyền địa phương trong
phát triển du lịch bền vững 45 iv
2.3.3. Bài học kinh nghiệm cho chính quyền địa phương tỉnh Ninh Bình về
phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh 46
Chương 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH
TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TỈNH NINH BÌNH 48
3.1. TIỀM NĂNG, CÁC NGUỒN LỰC VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU
LỊCH TỈNH NINH BÌNH 48
3.1.1. Tiềm năng và các nguồn lực phát triển du lịch Ninh Bình 48
3.1.2. Tình hình phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005 - 2013 58
3.2. HIỆN TRẠNG VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH TRONG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TỈNH NINH BÌNH 62
3.2.1. Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong xây dựng chiến lược
phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình 62
3.2.2. Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong việc ban hành các văn
bản pháp quy tạo dựng hành lang pháp lý cho phát triển du lịch bền vững tỉnh
Ninh Bình 71
3.2.3. Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong xây dựng tổ chức bộ
máy và quản lý phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình 83
3.2.4. Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong thanh tra, kiểm tra
phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình 98

trong xây dựng cơ chế vận dụng Luật pháp và chính sách của Nhà nước về
phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình theo tiêu chí phát triển bền vững 133
4.3.3. Giải pháp liên quan đến vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh
trong xây dựng tổ chức bộ máy quản lý và phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình
theo tiêu chí phát triển bền vững 137
4.3.4.Giải pháp liên quan đến vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh
trong thanh tra, kiểm tra công tác tổ chức, quản lý và kinh doanh du lịch tỉnh
Ninh Bình theo tiêu chí phát triển bền vững 148
4.3.5. Nhóm các giải pháp điều kiện 148
4.4. KIẾN NGHỊ 157
4.4.1. Kiến nghị đối với ủy ban Nhân dân Tỉnh 157
4.4.2. Kiến nghị đối với Sở VH-TT-DL và các huyện, thị 158
KẾT LUẬN 159
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO vi
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu á
APTA Association for Promotion of
Tourism to Africa
Hiệp hội xúc tiến Du lịch Châu Phi
BCG Boston Consulting Group Tập đoàn tư vấn Boston
BOO Build - Owner – Operate Xây dựng-Sở hữu-Vận hành
BOT Built-Operation-Transfer Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao
BT Built-Transfer Xây dựng-Chuyển giao
BTO Built-Transfer-Operation Xây dựng-Chuyển giao-Vận hành
CTA Caribbean Travel Association Hiệp hội du lịch Caribe

UNCED United Nations Conference on
Environment and Development
Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường
và phát triển
UNDP United Nations Development Chương trình phát triển Liên hợp quốc vii
Programme
UNESCO United Nations Educational,
Scientific and Cultural
Organization
Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa
Liên hợp quốc
UNWTO United National World Tourist
Organization
Tổ chức du lịch Thế giới
VCTV1 Vietnam Cab Television 1 Truyền hình cáp VCTV1
VTOS Vietnam Tourism Occupational
Standards
Tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam
VTV1 Vietnam Television 1 Đài truyền hình VTV1
WB World Bank Ngân hàng thế giới
WCED World Commission on
Environment and Development
Ủy ban môi trường và phát triển thế giới
WTO World Tourism Organization Tổ chức Du lịch thế giới
WTTC World Travel and Tourism
Council
Hội đồng lữ hành và du lịch thế giới

Bảng 2.3: Các chỉ tiêu đặc thù của điểm du lịch 26
Bảng 2.4: Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh 27
Bảng 2.5: Vai trò chính quyền địa phương 30
Bảng 3.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngành du lịch Ninh Bình thời kỳ
2005 -2013 61
Bảng 3.2: Công suất phòng khách sạn Trung bình cả nước 2006-2013 62
Bảng 3.3: Tổng hợp các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ năm 2001-2013 85
Bảng 3.4: Cơ sở lưu trú của tỉnh Ninh Bình 93
Bảng 3.5: Đánh giá của khách du lịch về dịch vụ lưu trú 94
Bảng 3.6: Đánh giá của du khách về chất lượng dịch vụ ăn uống 95
Bảng 3.7: Đánh giá của khách du lịch về dịch vụ vận chuyển 96
Bảng 3.8: Lao động ngành du lịch Ninh Bình 98
Bảng 3.9: Số lượng khách du lịch đến Ninh Bình 100
Bảng 3.10: Doanh thu từ hoạt động du lịch tại Ninh Bình 101
Bảng 4.1: Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 118
HÌNH VẼ
Hình 2.1: Tam giác phát triển bền vững 18
Hình 2.2: Mô hình lục giác với 6 yếu tố 31
Hình 2.3: Cơ cấu của quá trình kinh doanh du lịch 32
Hình 4.1: Mô hình phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 119
Hình 4.2: Các hướng chiến lược có thể lựa chọn cho danh mục sản phẩm du lịch 126

SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Bản đồ du lịch tỉnh Ninh Bình 48 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài Luận án

ngõ từ miền Bắc vào miền Trung và miền Nam đất nước, nơi đây vừa là gạch nối, 2
vừa là ngã ba của ba nền văn hoá lớn: sông Hồng - sông Mã - Hoà Bình. Ninh Bình
có 3 đường quốc lộ chính (1A, 10, 12A) và đường sắt xuyên Bắc - Nam chạy qua,
tạo cho Ninh Bình vị trí là cầu nối giữa hai miền Nam Bắc, giữa các tỉnh miền núi
Tây Bắc với miền xuôi, giữa các tỉnh duyên hải Bắc bộ với Hải Phòng. Vùng đất
này lại được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi, tạo nên nhiều danh lam thắng cảnh
kỳ thú với những dòng sông thơ mộng, những hồ nước mênh mông, tất cả như đang
thầm thì câu chuyện muôn đời của non và nước. Bên cạnh đó Ninh Bình còn có
nhiều di tích lịch sử nhân văn và danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước như
Cố đô Hoa Lư, khu du lịch sinh thái Tràng An được ví như "Hạ Long trên cạn" (
khu hang động Tràng An, khu Tam Cốc - Bích Động), Chùa Bái Đình, quần thể
Nhà thờ đá Phát Diệm, Vườn quốc gia nguyên sinh Cúc Phương, khu thiên nhiên
ngập nước Vân Long, suối nước nóng kênh gà, phòng tuyến Tam Điệp Biện Sơn…
Tất cả những điều kiện đó đã tạo cho Ninh Bình một tiềm năng to lớn để phát triển
đa dạng các loại hình du lịch hấp dẫn.
Thực tế trong những năm qua, ngành du lịch Ninh Bình đã có những đổi mới,
có bước phát triển nhanh đang dần trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động, cải thiện đời
sống nhân dân, mở rộng các mối quan hệ, hợp tác của tỉnh, làm thay đổi hình ảnh
Ninh Bình trong nhận thức của bạn bè trong nước và quốc tế. Hạ tầng du lịch của tỉnh
được đầu tư lớn, các khu du lịch được hình thành và phát triển. Lượng khách du lịch
đến Ninh Bình giai đoạn 2005-2013 ngày càng tăng. Tuy nhiên, những kết quả đã đạt
được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế; hiệu quả hoạt động kinh doanh du
lịch còn thấp, chất lượng dịch vụ chưa cao; khách lưu trú, đặc biệt là khách quốc tế
còn rất ít. Tại một số điểm tài nguyên có giá trị, mặc dù đã có được sự đầu tư khai
thác, song thời gian qua những giá trị tài nguyên này chưa phát huy được để tạo thành
sản phẩm du lịch hấp dẫn tương xứng. Nguyên nhân là do việc thu hút đầu tư còn

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm
phương pháp nghiên cứu cơ bản. Đồng thời, sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: trừu tượng hóa khoa học, lôgic-lịch sử, phân tích-tổng hợp,
thống kê, mô hình hóa, phỏng vấn sâu, điều tra khảo sát
5. Những đóng góp mới của luận án
- Nghiên cứu lý luận chung về phát triển du lịch bền vững; ý nghĩa, mục tiêu,
các yêu cầu, các nguyên tắc, các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững; vai
trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong phát triển du lịch bền vững; kinh
nghiệm phát triển du lịch bền vững của một số quốc gia trên thể giới và một số địa
phương trong nước, từ đó rút ra bài học cho phát triển bền vững du lịch Ninh Bình;
- Nghiên cứu và xác định được những vấn đề cơ bản liên quan đến vai trò của
chính quyền địa phương cấp tỉnh trong phát triển du lịch bền vững ở Ninh Bình bao
gồm: xây dựng quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển du lịch; tổ chức triển khai
thực hiện các chính sách, pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực du lịch; xây dựng
cơ chế, chính sách nhằm thu hút đầu tư phát triển du lịch và ban hành văn bản quy 4
phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương; hỗ trợ
nâng cao năng lực cho doanh nghiệp du lịch địa phương; tổ chức và hỗ trợ đào tạo,
bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch; quảng bá, xúc tiến du lịch, mở rộng thị trường
khách du lịch; mở rộng liên kết, hợp tác phát triển du lịch; thanh tra, kiểm tra đối
với hoạt động du lịch, Từ đó, khái quát được những vấn đề đặt ra đối với phát
triển du lịch bền vững trên các mặt kinh tế - xã hội – môi trường;
- Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ và cụ thể đã được nghiên cứu
nhằm phát huy những lợi thế và hạn chế bất cập để góp phần đảm bảo sự phát
triển du lịch bền vững ở Ninh Bình theo những nguyên lý đã được xác định. Các
giải pháp cụ thể này được phân tích và đưa ra trong các nhóm giải pháp cơ bản
liên quan đến các góc độ đảm bảo phát triển du lịch bền vững bao gồm: Nhóm các
giải pháp về xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình; Giải

với tiềm năng to lớn của mình, du lịch ngày càng được xem là một trong những
ngành kinh tế lớn của thế giới. Tuy nhiên, cũng như các ngành kinh tế khác, phát
triển của ngành du lịch ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm hơn của mỗi quốc
gia, cũng như mỗi vùng địa phương và đã được đặt trong bối cảnh của sự phát triển
hướng tới tính bền vững. Vì thế, chủ đề phát triển du lịch bền vững đang được nhiều
nhà khoa học, các nhà quản lý trong và ngoài nước hết sức quan tâm. Liên quan đến
chủ đề nghiên cứu, có thể chia thành các nhóm sau:
Nhóm 1: Nhóm các nghiên cứu về phát triển vùng địa phương và vai trò
của Chính quyền địa phương cấp tỉnh trong phát triển các ngành và lĩnh vực
tại địa phương. Liên quan đến nội dung này, trước hết phải kể đến Lý thuyết phát
triển vành đai nông nghiệp (Thunen, 1833); lý thuyết về điểm trung tâm
(Christaller, 1933); Lý thuyết cực phát triển (Perroux, 1949); Lý thuyết về phân bố
doanh nghiệp trong phát triển lãnh thổ (Schoon). Tại Việt Nam, có một số công
trình nghiên cứu về vấn đề này như bài viết “Đổi mới nội dung hoạt động của các
cấp chính quyền địa phương trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế”
(Nguyễn Ký và cộng sự, 2006). Các tác giả tập trung phân tích làm rõ vai trò của
nhà nước trong nền kinh tế thị trường, trong đó có sự so sánh giữa vai trò của Nhà
nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, từ đó các tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước trong thời kỳ đổi mới. Tác giả Lương
Xuân Quỳ (2002) tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, trong đó
tác giả đặc biệt chú ý đến thẩm quyền, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong
việc xây dựng, triển khai quy hoạch, kế hoạch, nhất là đối với quy hoạch vùng. Các
tác giả trong cuốn “Đổi mới nội dung hoạt động của các cấp chính quyền địa
phương trong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” thì tập trung nghiên cứu quá
trình hình thành các cấp hành chính và điều chỉnh quy mô các đơn vị hình chính địa
phương ở Việt nam cũng như đòi hỏi của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
phát triển hay sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự gia tăng ô nhiễm môi
trường. Tuy vậy, đến Hội nghị của Liên hợp quốc (LHQ) về Môi trường con người
(năm 1972 tại Stockholm), tầm quan trọng của vấn đề môi trường mới chính thức
được thừa nhận. Trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” (còn được gọi là
Báo cáo Brundtland) của Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) 7
năm 1987, người ta đã thừa nhận mối liên kết chặt chẽ giữa môi trường và phát triển
và lần đầu tiên khái niệm phát triển bền vững mới được hiểu một cách đầy đủ "phát
triển bền vững là sự phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà
không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng các yêu cầu của họ"
(Brundtland, 1987) . Từ đó đến nay, khái niệm này liên tục được phát triển và hoàn
thiện, đặc biệt kể từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển
(năm 1992 tại Rio de Janeiro, Braxin) và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát
triển bền vững (năm 2002 tại Johannesburg, Nam Phi). Vấn đề cốt lõi nhất của phát
triển bền vững chính là sự phát triển bảo đảm sự bền vững trên cả ba mặt kinh tế, xã
hội và môi trường.
Ở Việt Nam, do sớm nhận thức được tầm quan trọng, tính bức thiết của vấn đề
môi trường và phát triển bền vững, ngay sau Tuyên bố Rio, Đảng và Nhà nước đã
ban hành hệ thống các cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và phát
triển bền vững và các chính sách, pháp luật đó đã bước đầu đi vào cuộc sống. Học
giả Ngô Doãn Vịnh (2005) cũng có một số công trình nghiên cứu liên quan. Trong
tác phẩm "Bàn về phát triển kinh tế (Nghiên cứu con đường dẫn tới giàu sang)", học
giả đã tập trung luận giải những vấn đề liên quan đến phát triển bền vững và đã đưa
ra khái niệm "phát triển đến ngưỡng cho phép"; đồng thời những vấn đề cơ sở lý
luận và thực tiễn liên quan đến cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững cũng đã được phân tích,
làm sáng tỏ phần nào. Gần đây, được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, một số
công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề nêu trên đối với Vùng kinh tế

triển kinh doanh du lịch lữ hành trên địa bàn Hà Nội (Nguyễn Văn Mạnh, 2002);
Phương hướng và một số giải pháp để đa dạng hoá loại hình và sản phẩm du lịch ở
Quảng Nam- Đà Nẵng (Trương Sỹ Quý, 2003); Khai thác và mở rộng thị trường du
lịch quốc tế của các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Hà Nội (Phạm Hồng
Chương, 2003). Điều kiện và các giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch
Campuchia thành ngành kinh tế mũi nhọn (Ouk Vanna, 2004); Một số giải pháp
nâng cao chất lượng chương trình du lịch cho khách du lịch quốc tế đến Hà Nội của
các công ty lữ hành trên địa bàn Hà Nội (Lê Thị Lan Hương, 2004); Phát triển kinh
doanh lưu trú du lịch tại Vùng du lịch Bắc bộ của Việt Nam (Hoàng Thị Lan
Hương, 2011),…
Nhóm 4: Nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững. Các nghiên cứu này có
thể nêu thành một số nội dung sau:
Thứ nhất, quan điểm về du lịch bền vững và du lịch không bền vững. Du lịch
bền vững được một số công trình đề cập đến như Ecotourism and Sustainable
Development: Who Owns Paradise? (Honey, 1998); Sustainable Tourism in
Protected Areas: Guidelines for Planning and Management (Eagles và cộng sự,
2002); "Du lịch bền vững Cái gì là thực sự?"; Tourism and Environment (Hens,
1998); Báo cáo của WCED (WCED, 1996); Sustainable Tourism Management
(Swarbrook, 1999); 9
Tổ chức Du lịch thế giới (United National World Tourist Organization,
(UNWTO) định nghĩa như sau: "Sự phát triển bền vững của ngành du lịch đáp ứng
nhu cầu hiện tại của du khách và của địa phương du lịch, đồng thời bảo vệ và thúc
đẩy cơ hội phát triển cho tương lai. Butler (1993) cho rằng phát triển du lịch bền
vững là quá trình phát triển và duy trì trong một không gian và thời gian nhất định
(ở đó tồn tại cộng đồng, môi trường), thêm nữa sự phát triển sẽ không làm giảm khả
năng thích ứng môi trường của con người trong khi vẫn có thể ngăn chặn những tác
động tiêu cực tới sự phát triển lâu dài. Đây là quan điểm đã nhận được sự đồng

giá trị văn hoá của vùng được bảo vệ.
Trong nhiều trường hợp, các hoạt động du lịch đại chúng trong quá khứ có thể
mang đến những tác động xấu đến bảo tồn cảnh quan do việc thiếu các điều khiển
quản lý và cơ chế lập kế hoạch hiệu quả. Ngược lại, du lịch bền vững có những kế
hoạch được tính toán cẩn thận để giảm thiểu các tác động xấu của du lịch, đồng thời
còn đóng góp vào công tác bảo tồn và sức khoẻ của cộng đồng về cả mặt kinh tế và xã
hội. Du lịch bền vững cũng tạo ra lợi nhuận như du lịch đại chúng, tuy nhiên cộng đồng
địa phương được hưởng nhiều hơn từ lợi tức đó, và các nguồn lợi tài nguyên thiên
nhiên và văn hoá của vùng được bảo vệ. Trong một số trường hợp, các hoạt động du
lịch đại chúng trước đây đã gây ra những đe doạ cho bảo tồn biển do thiếu các cơ chế
quản lý và các kế hoạch hiểu quả. Ngược lại, du lịch bền vững cân nhắc tìm kiếm để
giảm thiểu đến mức tối thiểu các tác động xấu của du lịch, trong khi đóng góp cho bảo
tồn và các giá trị tốt cho cộng đồng địa phương, cả về kinh tế và xã hội. Du lịch đại
chúng không cung cấp nguồn quỹ tài trợ cho cả các chương trình bảo tồn lẫn cộng
đồng địa phương bảo vệ vùng tránh khỏi những hoạt động và phát triển mà có thể gây
hại đến cảnh đẹp tự nhiên của vùng. Những cơ hội và các đe doạ có thể chỉ được điều
khiển thông qua du lịch bền vững đã được lập kế hoạch và quản lý cẩn thận.
Muốn củng cố khái niệm du lịch bền vững, nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên
cứu tác động của du lịch và so sánh các yếu tố được coi là bền vững với các yếu tố
được coi là không bền vững. Có một số cuộc nghiên cứu đã chỉ ra tác động của du
lịch trên cả ba lĩnh vực kinh tế, môi trường, xã hội đã đưa ra so sánh các yếu tố
được coi là không bền vững và các yếu tố được coi là bền vững trong phát triển du
lịch (Eagles và cộng sự, 2002; Hens, 1998; Machado, 2003).
Thứ hai, các nghiên cứu khẳng định vai trò của phát triển du lịch bền vững:
Ngay từ những năm 1980, khi các vấn đề về phát triển bền vững bắt đầu được đề
cập đã có nhiều nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm phân tích những ảnh
hưởng của du lịch đến sự phát triển bền vững. trọng tâm của các nghiên cứu này
nhằm giải thích cho sự cần thiết phải đảm bảo tính vẹn toàn của môi trường sinh
thái trong khi tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên phục vụ phát triển du
lịch tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững. Krippendorf (1975) và Jungk (1980)

những nguyên tắc của Agenda 21 vào du lịch, phối hợp xây dựng một chương trình
hành động với tên gọi “Chương trình nghị sự 21 về du lịch: Hướng tới sự phát triển
về môi trường”. Chương trình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các doanh
nghiệp du lịch, các chính phủ, các cơ quan du lịch quốc gia, các tổ chức thương mại
và người đi du lịch.
Chương trình nghị sự 21 về du lịch đã đưa ra các lĩnh vực ưu tiên hành động
với mục đích xác định và dự kiến các bước tiến hành. Chương trình này nhấn mạnh
sự cần thiết phối hợp hành động giữa các chính phủ, phân tích tầm quan trọng về
chiến lược và kinh tế của ngành du lịch, đồng thời nêu bật những lợi ích to lớn của
việc phát triển du lịch theo hướng bền vững. 12
Thứ ba, các nghiên cứu nêu những nguyên tắc cơ bản đảm bảo phát triển du
lịch bền vững. Có lẽ hơn bất cứ hoạt động nào khác, ngành du lịch phụ thuộc rất
nhiều vào chất lượng của môi trường cũng như tài nguyên du lịch thiên nhiên và
nhân văn. Nhìn chung, ngành du lịch mang đặc tính phát triển nhanh, ngắn hạn và
hội chứng "bùng nổ" thường làm tổn hại đến "tài sản" của chính ngành du lịch. Du
lịch thường tìm mọi cách khai thác triệt để tài nguyên du lịch vì mục đích lợi nhuận
và khi "tài sản du lịch" ở một nơi nào đó bị tổn thương nghiêm trọng, tàn lụi thì
cách làm của du lịch đơn giản là chuyển hoạt động du lịch đi nơi khác. Nếu du lịch
không muốn làm tăng thêm sự xuống cấp của môi trường và tự phá huỷ mình trong
quá trình hoạt động, nhất là trong tương lai, thì ngành du lịch cũng giống như các
ngành kinh doanh khác phải nhận biết được trách nhiệm của mình đối với môi
trường, kinh tế, xã hội và phải biết làm thế nào để du lịch trở nên bền vững hơn. Để
cho sự phát triển du lịch được bền vững, đòi hỏi phải đề cập đúng mức đến môi
trường rộng hơn về kinh tế, chính trị, xã hội. Chính vì lẽ đó, phát triển du lịch bền
vững cần phải tuân thủ các nguyên tắc của mình. Các công trình của các tác giả đề
cập đến vấn đề này như: Tourism and Environment (Hens, 1998); Tourism and
Sustainability: New Tourism in the Third World (Mowforth và Munt, 1998).

mà du lịch phụ thuộc vào. Việc kinh doanh mà được thực hiện dựa trên 3 tiêu chí
này có thể tăng cường việc bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, đánh giá cao giá trị văn hoá
và mang lợi tức đến cho cộng đồng và có thể cũng sẽ thu lợi tức. Wall và cộng sự
(1993) đề ra một số chỉ tiêu đánh giá cho phát triển du lịch bền vững. Có thể xem là
các tiêu chuẩn chung cho đánh giá sự thành công của phát triển du lịch bền vững, cụ
thể là: i) Nhóm loại hình du lịch nằm trong phạm trù du lịch bền vững, bao gồm: Du
lịch sinh thái: hướng đến các điểm thiên nhiên, bảo tồn tài nguyên môi trường và cải
thiện phúc lợi cho người dân địa phương; Du lịch bền vững: không làm giảm nguồn
lực của thiên nhiên. Du lịch trách nhiệm: làm giảm thiểu các yếu tố tiêu cực của du
lịch ảnh hưởng đến môi trường; Du lịch thiên nhiên: các hoạt động du lịch và trải
nghiệm tập trung vào thiên nhiên; Du lịch văn hóa: du khách trải nghiệm nền văn
hóa tại điểm đến; Du lịch khám phá. Du lịch sức khỏe và spa: các hoạt động vật lý
trị liệu, giải pháp xả căng thẳng…
Theo nghiên cứu của tổ chức chuyên gia cao cấp Hà Lan (PUM), hiện có 12
quốc gia tham gia xu hướng du lịch bền vững là Mỹ, Anh, Đức, Úc, Pháp, Thụy
Điển, Hà Lan, Đan Mạch, Na Uy, Áo, Canada và Ireland. Đặc điểm đi du lịch của
du khách các nước này là đi một vài cá nhân hoặc nhóm người, có độ tuổi trên 60,
lập kế hoạch và tự tổ chức, tìm hiểu thông tin du lịch tại các điểm đến chủ yếu qua
internet; thường tham gia các hoạt động du lịch ngoài trời gắn với thiên nhiên, khám
phá, trị liệu, tham quan các bản làng dân tộc, vùng hoang sơ…
Thứ năm, các nghiên cứu chỉ ra những tiêu chí đánh giá tính bền vững của du
lịch. Là một ngành kinh tế trọng yếu của thế giới, du lịch phụ thuộc rất nhiều vào sự
thành công của các lĩnh vực kinh tế khác, đồng thời du lịch có thị trường biến động
rất nhanh. Chính vì vậy, du lịch là ngành kinh tế đặc biệt mong manh, rất dễ bị tổn 14
thương dưới tác động không chỉ của các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội mà còn
chính trị và cả thiên nhiên. Một thảm hoạ thiên tai, một vụ khủng bố, một cuộc nổi
loạn, một thay đổi về chính trị hay một vụ việc nhỏ như ô nhiễm một bãi biển nào

cho du lịch; Cách sử dụng khác nhau sẽ dẫn đến tác động khác nhau. Tác động của
100 người đi bộ thì khác với 100 người đi xe đạp; 10 nhà nhiếp ảnh thì có tác động 15
khác với 10 tay thợ săn; Các nền văn hoá khác nhau có mức độ nhạy cảm khác nhau
với thay đổi. (Machado, 1990; Manning, 1996)
Boullón (1985) đã đưa ra một công thức chung đơn giản để xác định sức chứa
của một khu du lịch. Đánh giá tính bền vững của các hoạt động du lịch dựa vào bộ
chỉ tiêu môi trường của Tổ chức du lịch thế giới UNWTO. Ngoài các chỉ tiêu chung
cho ngành du lịch, một số chỉ tiêu đặc thù của điểm du lịch cũng đã được UNWTO
đưa ra, nhằm đánh giá tính bền vững của một điểm du lịch cụ thể. Bộ chỉ tiêu của
UNWTO đã được sử dụng nhiều nơi để đánh giá tính bền vững của một điểm du lịch
và hoạt động du lịch. Tuy nhiên, nhiều chỉ tiêu không xác thực, khó đánh giá và rất
khó xác minh chính xác như mức độ thoả mãn của du khách dựa trên phiếu thăm dò,
loại bảo vệ điểm du lịch, tỷ lệ động vật trên bờ biển động vật dưới biển, độ xói mòn
đất, lượng tiền rò rỉ… Chính vì vậy, việc áp dụng các chỉ thị này chưa thật rộng rãi.
Tháng 10/2008, nhà sáng lập đồng thời là chủ tịch Quỹ tài trợ Liên hợp quốc
(United Nations Foundation), ông Ted Turner, đã tập hợp Liên minh Rừng nhiệt
đới, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) và Tổ chức Du lịch Thế giới
Liên hợp quốc (UNWTO) nhằm công bố tiêu chí du lịch bền vững toàn cầu lần đầu
tiên tại Hội nghị Bảo tồn Thế giới của IUCN. Bộ tiêu chí mới này được xây dựng
dựa trên cơ sở hàng nghìn các tiêu chí đã được áp dụng thực tiễn hiệu quả trên khắp
thế giới. Các tiêu chuẩn này được phát triển để cung cấp một khung hướng dẫn hoạt
động du lịch bền vững, giúp các doanh nhân, người tiêu dùng, chính phủ, các tổ
chức phi chính phủ và các cơ sở giáo dục bảo đảm rằng hoạt động du lịch là nhằm
giúp đỡ chứ không làm hại cộng đồng và môi trường địa phương. Dự án xây dựng
Tiêu chuẩn toàn cầu về du lịch bền vững là một nỗ lực nhằm hướng đến mục tiêu
giúp mọi người hiểu biết thấu đáo về du lịch bền vững. Đối với các nhà kinh doanh
du lịch đó là những tiêu chí đầu tiên cần đạt đến. Tiêu chuẩn du lịch bền vững toàn

- Trên thế giới, lĩnh vực du lịch và du lịch bền vững đã được nhiều nhà khoa
học và các tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu. Các ấn phẩm về lý luận và thực tiễn
về vấn đề phát triển du lịch bền vững là những tài liệu bổ ích cho việc nghiên cứu và
vận dụng cho các quốc gia bắt đầu tham gia tìm hiểu về loại hình du lịch này.
- Ở Việt Nam, du lịch bền vững là một lĩnh vực còn mới mẻ, các vấn đề về lý
luận của du lịch bền vững đang tiếp tục được thảo luận để đi đến thống nhất về nhận
thức và quan điểm trong các nhà nghiên cứu và điều hành du lịch. Từ đó, Luận án
lựa chọn hướng nghiên cứu là vai trò của Chính quyền địa phương cấp tỉnh trong
phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, trong đó đi sâu vào trường hợp cụ thể là địa
phương tỉnh Ninh Binh.
- Vận dụng cơ sở lí thuyết vai trò kinh tế của Nhà nước trong kinh tế thị
trường áp dụng vào phân tích vai trò của Chính quyền địa phương cấp tỉnh trong
phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình, Luận án đánh giá thực trạng và đề xuất
định hướng nhằm tăng cường vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong
phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh để đảm bảo sự đóng góp tích cực của du
lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội và sử dụng bền vững tài nguyên, môi
trường địa phương.

Trích đoạn KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC VỀ NÂNG CAO VAI TRÒ Kinh nghiệm trong nước về vai trò của chính quyền địa phương trong GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Nhóm các giải pháp điều kiện Kiến nghị đối với Sở VH-TT-DL và các huyện, thị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status