Vận dụng và luyện tập các kĩ năng cơ bản để làm tốt một bài văn miêu tả cho học sinh lớp 6 - Pdf 34

Trường THCS Hoàn Kiếm

Sáng kiến kinh nghiệm

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN HOÀN KIẾM
TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HOÀN KIẾM

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Vận dụng và luyện tập các kĩ năng cơ bản để
làm tốt một bài văn
miêu tả cho học sinh lớp 6.

GIÁO VIÊN THỰC HIỆN : PHẠM VÂN ANH
MÔN
: NGỮ VĂN

NĂM HỌC 2013-2014

Phạm Vân Anh

1

Năm học 2013- 2014


Trường THCS Hoàn Kiếm

Sáng kiến kinh nghiệm

PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN I: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:


2

Năm học 2013- 2014


Trường THCS Hoàn Kiếm
- Kể chuyện tƣởng tƣợng.

Sáng kiến kinh nghiệm

Phần thực hành:
- Kể lại một truyện đã học.
- Kể lại truyện đời thƣờng.
- Kể chuyện tƣởng tƣợng.
2. Văn miêu tả:
Phần lý thuyết:
- Tìm hiểu chung về văn miêu tả.
- Quan sát, tƣởng tƣợng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả.
- Phƣơng pháp tả cảnh.
- Phƣơng pháp tả ngƣời.
Phần thực hành:
- Luyện nói về quan sát, tƣởng tƣợng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả.
- Luyện nói về văn miêu tả.
- Viết bài miêu tả: tả ngƣời , tả cảnh, miêu tả sáng tạo.
Quả thực môn Tập làm văn là kết quả của hai phân môn Văn – Tiếng Việt, nó
có vai trò hết sức quan trọng trong việc đánh giá quá trình học tập của một học
sinh. Thế nhƣng, phân môn này lại bị rất nhiều học sinh không yêu thích, thậm
chí sợ và ngại thực hành. Ở lớp 6A (2013-2014) của tôi, trong các giờ học các
văn bản, các em học sinh rất hào hứng, sôi nổi, rất thích thú khi tự mình khám

một vài tìm tòi, thử nghiệm của mình trong đề tài : “ Vận dụng và luyện tập
các kỹ năng cơ bản để làm tốt một bài văn miêu tả cho học sinh lớp 6” . Tôi
cũng mong muốn chia sẻ với đồng nghiệp những cách làm hay, đồng thời cũng
muốn đƣợc các đồng nghiệp góp ý kiến, trao đổi thêm để chúng ta có thể giúp
học sinh làm đƣợc những bài văn miêu tả có chất lƣợng tốt nhất.

Phạm Vân Anh

4

Năm học 2013- 2014


Trường THCS Hoàn Kiếm

Sáng kiến kinh nghiệm

NỘI DUNG
PHẦN II – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
A. CƠ SỞ ĐỂ VẬN DỤNG VÀ LUYỆN TẬP CÁC KỸ NĂNG CƠ BẢN ĐỂ
LÀM TỐT MỘT BÀI VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 6
Văn miêu tả là loại văn giúp ngƣời đọc hình dung ra những đặc điểm, tính
chất nổi bật của sự vật, sự việc, con ngƣời, phong cảnh “làm cho những vật,
việc, ngƣời, cảnh đó nhƣ hiện lên trƣớc mắt ngƣời đọc”. Văn miêu tả rất cần với
tuổi thơ. Miêu tả giúp các em diễn tả lại đƣợc cảnh, vật, ngƣời trong cuộc sống.
Miêu tả còn giúp các em làm văn kể chuyện hay hơn và sinh động hơn. Trong
chƣơng trình lớp 6, văn miêu tả không phải là một thể loại mới, các em đã đƣợc
làm quen với thể loại này ở bậc tiểu học. Nhƣng ở cấp II, yêu cầu làm văn miêu
tả của học sinh cao hơn rất nhiều. Với quan điểm chú trọng tới việc rèn luyện,
nâng cao kĩ năng thực hành tạo lập văn bản nói và viết tiếng Việt, phân môn Tập

làm gì đề các em thấy đƣợc văn miêu tả không khó, không quá sức, cách diễn tả
trong từng bài văn cũng trở nên đơn giản, nhẹ nhàng hơn và hơn nữa là tạo cho
các em hứng thú khi học Tập làm văn?
Theo tôi, trƣớc khi viết bài văn hoàn chỉnh, học sinh sẽ làm các dạng bài
tập khác nhau để hiểu những kỹ năng cơ bản trong văn miêu tả, mặt khác rèn các
thao tác nhỏ để hoàn thành một bài hoàn chỉnh. Bởi khi có những bƣớc đi cụ thể,
những phƣơng pháp rõ ràng, học sinh thực hành và hoạt động theo hƣớng dẫn
của thầy cô giáo thì sẽ tạo ra một văn bản hoàn chỉnh và có chất lƣợng.
Từ đó, tôi đã xác định các bƣớc khi vận dụng và luyện tập các kỹ năng cơ
bản để làm tốt một bài văn miêu tả cho học sinh lớp 6 nhƣ sau:
1- Hƣớng dẫn học sinh nhận diện thể loại, bài, đoạn văn miêu tả.
2- Tìm hiểu đề và tìm ý cho bài văn miêu tả.
3- Lập dàn ý
4- Viết bài
5- Liên kết đoạn
6- Sửa lỗi sai
B. CÁC BƢỚC THỰC HÀNH ĐỂ VẬN DỤNG VÀ LUYỆN TẬP CÁC KĨ
NĂNG:,
I. HƢỚNG DẪN HỌC SINH NHẬN DIỆN THỂ LOẠI, BÀI VÀ ĐOẠN VĂN MIÊU
TẢ:

1. Sự khác nhau giữa văn miêu tả với văn tự sự và thuyết minh:
a) Văn miêu tả và văn tự sự: thƣờng đƣợc kết hợp chặt chẽ trong quá trình nói
hoặc viết. Điểm khác nhau giữa chúng là:
Văn tự sự ( kể chuyện)

Phạm Vân Anh

Văn miêu tả
6

âu yếm và bảo: “ Sao thế được, tất nhiên là bà phải yêu các cháu bà hơn rồi.
Những cái cây này chỉ là thú vui của bà thôi. Đây là những cái cây mà ông để
lại khi mất nên bà thay ông chăm sóc chúng.”
( Bài làm của học sinh)
b) Văn miêu tả và văn thuyết minh: tuy đều chú ý tới những đặc điểm, tính
chất của các sự vật, sự việc những giữa chúng cũng có sự khác nhau:
Văn miêu tả

Văn thuyết minh

- nhằm làm nổi bật những đặc điểm - nhằm cung cấp những tri thức về đặc
tính chất của các sự vật, sự việc, tạo ấn điểm tính chất của các sự vật, sự việc
tƣợng cho ngƣời đọc.

để ngƣời đọc, ngƣời nghe nắm chắc
đƣợc về sự vật, sự việc.

- đòi hỏi ngƣời viết phải quan sát, - đòi hỏi ngƣời viết phải khách quan,

Phạm Vân Anh

7

Năm học 2013- 2014


Trường THCS Hoàn Kiếm
tƣởng tƣợng, liên tƣởng khi trình bày.

Sáng kiến kinh nghiệm


Phạm Vân Anh

8

Năm học 2013- 2014


Trường THCS Hoàn Kiếm
Sáng kiến kinh nghiệm
gần đâu đó lắng nghe. Hót xong, nó xù lông rũ hết những giọt sương rồi nhanh
nhẹn chuyền từ bụi nọ sang bụi kia, tìm vài con sâu ăn lót dạ, đoạn vỗ cánh bay
vút đi.
(Con chim họa mi hút – Ngọc Giao)
Đoạn 2: “Mùa hè mới là mùa đầy sức quyến rũ của Sa Pa. Màn mây vén lên
cùng với tiếng sấm động tháng tư, để biểu hiện bộ mặt thiên nhiên như mới tinh
khôi: sóng núi nhấp nhô vô tận, rừng xanh lên trong nắng, suối rì rào, thác xối,
chim mở dàn hợp xướng khắp cánh rừng và hoa tưng bừng nở. Những ngày hè
đổ lửa ở đồng bằng thì ở Sa Pa không khí trong lành mát rượi. Những cơn mưa
rào thoắt đến, ồn ào một chốc rồi đi, đủ cho núi rừng cỏ cây tắm gội, cho các
suối dào dạt nước, cho các búp hoa xoè nở, cho cảnh vật biếc xanh”.
( Lãng văn - Đọc văn và luyện văn)
Đoạn 3: Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn
cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn
sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh, hùng vĩ.
(Vượt thác-Đỗ Quảng)
a. Các đoạn văn trên tái hiện điều gì?
b. Tìm các đặc điểm tiêu biểu để làm nổi rõ những đối tƣợng đƣợc nhắc tới?
c. Mỗi đoạn văn dùng phƣơng thức biểu đạt nào?
Với kiến thức đã học ở trên lớp, học sinh dễ dàng nhận thấy rằng:

đạt chủ yếu. Chính vì thế, tôi đã đƣa ra một số đề bài sau để học sinh vận dụng
và luyện tập kỹ năng tìm hiểu đề một cách nhanh và chính xác nhất.
Bài tập:
Trong những đề bài sau, đề nào là đề văn miêu tả:
Đề 1: Mùa đông, cảnh vật như cũng cố gắng tránh những đợt gió mùa lạnh lẽo.

Hãy tả lại cảnh nơi em ở vào một sớm mùa đông.
Đề 2: Một lần, em đó mắc lỗi làm bố mẹ phiền lòng. Hãy kể lại chuyện đó.
Đề 3:Hãy viết thư cho một người bạn ở xa để giới thiệu về ngày Tết Nguyên đán

ở Hà Nội.
Với 3 đề trên, học sinh sẽ dễ dàng nhận biết đề 1 là đề văn miêu tả vì đề có yêu
cầu trực tiếp “Hãy tả lại”. Với đề văn số 2, học sinh cũng dễ dàng nhận thấy
rằng đây là một đề văn tự sự ( kể chuyện đời thƣờng). Riêng đề số 3, học sinh
rất lúng túng và có nhiều ý kiến khác nhau. Nhƣng đa số học sinh đều biết đây là
đề văn miêu tả, yêu cầu tả lại không khí ngày Tết Nguyên đán, tuy nhiên đề văn
chƣa có từ ngữ yêu cầu miêu tả trực tiếp nhƣ những đề trên, mà yêu cầu gián
tiếp qua từ “giới thiệu”. Và để thực hiện đƣợc yêu cầu của đề bài, học sinh phải
làm rõ không khí ngày Tết để bạn có thể hình dung ra một cách cụ thể, sinh
động nhƣ mình đã đƣợc chứng kiến. Vậy có thể khẳng định đề số 3 là đề văn
miêu tả nhƣng đƣợc viết dƣới dạng một bức thƣ.
b.Tìm hiểu đề:

Phạm Vân Anh

10

Năm học 2013- 2014



làm một bài tập làm văn đúng và hay. Để tìm ý đƣợc đầy đủ, có hệ thống khoa
học, học sinh phải trải qua những kĩ năng rất quan trọng trong văn miêu tả, đó
là: quan sát, tƣởng tƣợng, so sánh và nhận xét. Nhƣng trong thực tế, với học sinh

Phạm Vân Anh

11

Năm học 2013- 2014


Trường THCS Hoàn Kiếm
Sáng kiến kinh nghiệm
lớp 6, những kĩ năng này còn rất chung chung, khó hiểu. Hệ thống bài tập trong
sách Giáo khoa chƣa phong phú để các em có thể nhận biết và tìm ý một cách
đơn giản và dễ dàng. Vịêc miêu tả ngƣời có thể còn khả thi hơn nhƣ : tả hình
ảnh mẹ ( hoặc cha), hình ảnh cô giáo đang giảng bài, ngƣời bạn thân mà em yêu
quí...Điều đó cũng rất dễ hiểu bởi các em thƣờng xuyờn đƣợc tiếp xúc với
những đối tƣợng miêu tả trên. nhƣng phải tả cảnh thiên nhiên nhƣ cánh đồng
lúa quê hƣơng, khu vƣờn hoặc một phiên chợ quê ... thì quả là không có hoặc ít
có sự quan sát trực tiếp. Vì lẽ đó bài làm của các em thƣờng sơ sài, thiếu kiến
thức từ thực tế.
Vì vậy, tôi đã xây dựng một hệ thống bài tập để học sinh có thể vận dụng
và luyện tập kỹ năng tìm ý qua các bƣớc: quan sát, tƣởng tƣợng, so sánh và nhận
xét.
a. Vận dụng và luyện tập kỹ năng quan sát, ghi chép:
Quan sát để ghi nhận, để khám phá và để hiểu về thế giới quanh mình. Quan
sát kĩ đối tƣợng miêu tả để tìm ra những đặc điểm, tính chất, tiêu biểu, đặc sắc
nhất của đối tƣợng. Điều này cũng giống nhƣ việc lựa chọn các sự việc, chi tiết
khi làm văn tự sự. Đối với các nhà văn, kĩ năng quan sát đóng một vị trí hết sức

đƣợc để làm tƣ liệu làm bài. Ở các tiết học văn miêu tả, tôi thƣờng dành khoảng
5-10 phút để kiểm tra sự ghi chép của 3-5 em . Từ đó nhận xét những chi tiết mà
các em đã quan sát và cảm nhận cuộc sống, cho điểm khuyến khích đối với các
em có ghi chép tốt, đầy đủ, khoa học. Các học sinh lớp 6A tôi dạy rất hào hứng
trong việc quan sát và ghi chép vào sổ tay của mình để có tƣ liệu làm bài và tôi
thƣờng cho điểm để động viên, khuyến khích các em. Tuy nhiên, tôi không yêu
cầu quá cao ở HS trong bƣớc quan sát đối tƣợng, chủ yếu là HS ghi chép đƣợc
những gì cơ bản nhất, đặc trƣng nhất của đối tƣợng miêu tả.
Ví dụ: tƣ liệu ghi chép của em Phạm Minh Phƣơng nhƣ sau:
*Đặc điểm ngôi nhà của em:
-Ngôi nhà nhỏ ba tầng xinh xắn.
-Tƣờng đƣợc sơn màu hồng tím nhạt .
-Cánh cửa màu trắng sữa với những ô kính màu trẻ trung.
-Phòng khách yên tĩnh, cổ điển với các vật dụng cần thiết để tiếp khách, giải trí,
thƣ giãn.
-Phòng ăn sạch sẽ với những bữa ăn ngon, vui vẻ của gia đình.
-Phòng ngủ của em nhƣ một “vƣơng quốc nhỏ bé” đƣợc sơn màu kem với bàn
học kê ngay ngắn cạnh cửa sổ, giá sách, giừơng ngủ
-Đi ra ban công là đƣợc chạm tới cây hoa sữa với hƣơng thơm ngọt ngào của
mùa thu Hà Nội.
Ví dụ 2: tƣ liệu ghi chép của em Hà My nhƣ sau:
*Hình ảnh mẹ em:
-Dáng ngƣời thon thả, cân đối
-Mái tóc dài, suôn mềm, đƣợc uốn nhẹ nhƣ những làn sóng nhỏ, êm dịu

Phạm Vân Anh

13

Năm học 2013- 2014


Hình ảnh về khu vƣờn

Phạm Vân Anh

15

Năm học 2013- 2014


Trường THCS Hoàn Kiếm

Sáng kiến kinh nghiệm

Hình ảnh về khu vƣờn

Phạm Vân Anh

16

Năm học 2013- 2014


Trường THCS Hoàn Kiếm

Sáng kiến kinh nghiệm

Hình ảnh cây bàng và quả bàng

Phạm Vân Anh


Trường THCS Hoàn Kiếm

Sáng kiến kinh nghiệm

Hình ảnh con đường làng

Hình ảnh ông chăm sóc cho cây bưởi

Phạm Vân Anh

20

Năm học 2013- 2014


Trường THCS Hoàn Kiếm

Sáng kiến kinh nghiệm

Hình ảnh về cây quất

Phạm Vân Anh

21

Năm học 2013- 2014


Trường THCS Hoàn Kiếm

tuơng đồng nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt”. So sánh là một
biện pháp tu từ phổ biến mà các em đã đƣợc làm quen nhiều từ bậc Tiểu học. Và
ở chƣơng trình lớp 6, các em đã đƣợc học kỹ hơn về biện pháp tu từ này. Vì vậy,
việc rèn kỹ năng so sánh trong văn miêu tả không mấy phức tạp. Bởi các em đã

Phạm Vân Anh

22

Năm học 2013- 2014


Trường THCS Hoàn Kiếm
Sáng kiến kinh nghiệm
hiểu rõ thế nào là so sánh, tác dụng của so sánh trong từng văn bản cụ thể, các
hình ảnh và sự vật so sánh đều phải có nét tƣơng đồng nào đó.
Trong văn miêu tả, so sánh chính là hệ quả của quá trình liên tƣởng, tƣởng
tƣợng. Khi quan sát một đối tƣợng nào đó, hình ảnh của đối tƣợng ấy ( từ màu
sắc tới hình dáng, kích thƣớc) thƣờng gợi cho ngƣời quan sát nghĩ tới hình ảnh
khác có nét tƣơng đồng nào đấy. Chính sự liên tƣởng, so sánh này làm cho văn
miêu tả hay hơn, đối tƣợng miêu tả hiện lên sinh động, hấp dẫn hơn.
Tôi đã yêu cầu từng nhóm học sinh tìm và ghi lại những đoạn văn, câu văn có
sử dụng nghệ thuật so sánh mà nhóm cho là hay và đặc sắc nhất. Qua đó, các em
học cách vận dụng nghệ thuật so sánh để tạo lập văn bản. Ngay trong các văn
bản của sách giáo khoa, các em đã tìm đƣợc các câu văn, đoạn văn có sử dụng
hình ảnh so sánh sau:
- “ Dòng sông Năm căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như
thác .Cá nước bởi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa
những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng, con sông rộng hơn ngàn thước,
trông hai bên bờ rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô

các hình ảnh, sự vật ấy với những gì? Hãy điền vào dấu ba chấm“
- Mặt trời…
- Bầu trời…
- Những hàng cây…
- Những dãy nhà...
- Đƣờng phố...
- Xe máy, xe đạp…
- Nƣớc chảy vào cống…
- Không gian mƣa rơi...
- Ngƣời đi đƣờng…
Đối với học sinh, để làm đúng 2 bài tập này thì không khó khăn phức tạp
lắm, nhƣng tƣởng tƣợng và so sánh để câu văn gợi hình, gợi cảm thì học sinh
khá giỏi thì mới đạt yêu cầu đó. Đối với những học sinh trung bình, yếu, tôi chỉ
yêu cầu làm bài đúng, đối với học sinh khá giỏi, các em phải có những câu văn
đúng và hay. Với hai bài tập này có những câu viết nhƣ sau:
Bài tập 1
a. Mùa đông cây hồng trụi hết lá, chỉ còn hàng trăm quả trĩu trịt trên cành như
hàng trăm chiếc đèn lồng màu hồng ấm áp.
b. Bầu trời đầy sao như ai đó làm vơi vãi hàng trăm hạt kim cương óng ánh.
c. Những quả dừa lủng lỉu trên cao như những chùm bóng bay xanh ôm chặt lấy
thân cây.
d. Trong buổi bình minh, chim chóc đua nhau cất tiếng hót ríu ran như một dàn
đồng ca.
Bài tập 2

Phạm Vân Anh

24

Năm học 2013- 2014

ra những cành dẻo dai, khỏe khoắn. Chiếc áo xanh sẫm của cây được kết từ
muôn vàn chiếc lá. Lá bưởi dày, trông chẳng khác gì bàn tay trẻ nhỏ. Những
chùm hoa trắng ngần, hương thơm dìu dịu. Hoa héo dần để nhường chỗ cho
những trái bưởi chín vàng tươi. Những quả bưởi trĩu trên cành như những trái
bóng tròn to.
+Những bông hoa gạo rơi từ trên cao, đài hoa nặng chúi xuống những
cánh hoa đỏ rực quay tít như chong chóng, nom thật đẹp.

Phạm Vân Anh

25

Năm học 2013- 2014



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status