SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD & ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ MINH KHAI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO KĨ NĂNG THỰC HÀNH LUYỆN VIẾT BÀI VĂN
MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 6 THÔNG QUA
TIẾT TRẢ BÀI
Người thực hiện: Dương Thị Tố Nga
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị : Trường Trung học cơ sở Minh Khai
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn
THANH HÓA, NĂM 2018
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Trong chương trình Ngữ Văn THCS tích hợp, phân môn Tập làm văn
đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các tri thức cơ bản về các kiểu
văn bản, hình thành cho học sinh các kỹ năng nói (kể chuyện, tóm tắt), hiểu
khái quát về văn bản, bố cục chung và nội dung các phần trong bố cục cũng
như thực hành viết bài văn. Bản thân hoạt động tập làm văn là một hoạt động
tích hợp, tích hợp tri thức Văn học và Tiếng Việt vào việc tạo lập các văn bản
mới. Với môn Ngữ Văn, về kiến thức Văn học, không chỉ là tìm hiểu nội
dung, ý nghĩa của một tác phẩm hay hiểu, thuộc các khái niệm, làm được bài
tập cũng như lấy được các ví dụ về phân môn Tiếng Việt mà ngoài các kĩ
năng trên, học sinh còn phải có kĩ năng viết bài văn một cách thành thạo. Mặt
khác, Ngữ Văn từ lâu là một bộ môn khoa học xã hội hay song cũng là môn
sinh phương pháp, kĩ năng khi viết bài văn miêu tả. Đây cũng chính là lí do
khiến tôi chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
- Khắc phục khó khăn trong quá trình viết bài văn miêu tả cho học sinh
lớp 6.
- Giúp học sinh có được kĩ năng viết văn miêu tả có hiệu quả hơn.
- Định hướng cho giáo viên trong việc chữa lỗi viết bài văn miêu tả cho
học sinh để kết quả dạy học đạt kết quả tốt hơn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh lớp 6
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
1.4.1
Nghiên cứu lí thuyết
1.4.2. Phương thức quan sát
1.4.3. Phương thức đọc, chấm, chữa bài cho học sinh
1.4.4. Phương thức thực hành: thông qua trực tiếp giảng dạy phân môn
Tập làm văn lớp 6
1.4.5. Trao đổi với đồng nghiệp .
1.5. Những điểm mới của Sáng kiến kinh nghiệm.
Tìm ra được những điều kiện để tổ chức một tiết trả bài có hiệu quả cao
nhất, nhằm phát triển một trong bốn kỹ năng quan trọng mà môn Ngữ Văn
hướng tới.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của Sáng kiến kinh nghiệm :
Chương trình Tập làm văn 6 đặt trọng tâm ở thực hành: Xây dựng bài
qua thực hành, thực hành nhận biết và thực hành làm văn bản. Thực hành qua
phần luyện nói tạo điều kiện cho học sinh lớp 6 quen bạo dạn phát biểu miệng
trả bài chưa được đánh giá đúng mức. Chính vì vậy, đôi khi còn được thực
hành một cách đơn giản hoá, nhiều khâu, nhiều mục bị cắt bỏ, đơn giản trả bài
chỉ để... phát bài, gọi điểm, nhắc qua một số lỗi dễ thấy. Thậm chí, còn được
dùng để... dạy bù cho kịp chương trình khi bị mất tiết. Bản thân học sinh cũng
chưa có tâm thế và sự chuẩn bị cần thiết để học tiết trả bài. Suốt một thời kỳ
dài từ khi chưa đổi mới chương trình, tiết trả bài phần Tập làm văn chỉ được
ghi "Trả bài viết số..." và chấm hết. Điều đó đồng nghĩa với việc học sinh
không phải soạn bài, chuẩn bị cho tiết học này. Và thế là tiết trả bài chỉ do
giáo viên soạn - giảng - trả bài. Học sinh nhận bài, nghe nhận xét. Đôi khi ,
các em không nhớ đề bài mình làm, không biết mình đã viết gì nhất là đối với
những học sinh học lực trung bình, yếu và kém . Vậy thì làm sao các em có
thể tìm thấy lỗi của mình. Làm sao có thể nâng cao kỹ năng thực hành viết
được. Nhưng, có điều đáng mừng là hiện nay, chương trình SGK Ngữ Văn
đổi mới đã rất coi trọng tiết trả bài . Ở SGK, tiết trả bài được thể hiện bằng hệ
thống câu hỏi về nội dung, về hình thức và bố cục bài làm cần phải đạt được
trong tiết trả bài. Điều này đã tạo cho học sinh một thói quen soạn trước tiết
trả bài ở nhà, do vậy, việc nắm, nhớ lại đề, nội dung mình đã viết là hoàn toàn
có thể được. Hơn nữa, tạo tâm thế tốt để các em đón nhận một tiết trả bài
hoàn toàn chủ động, bình tĩnh . Như vậy là để viết tốt một bài Tập làm văn,
học sinh được thực hành nhuần nhuyễn nhiều lần. Viết bài khi soạn ở nhà ,
4
viết vào giấy kiểm tra và cuối cùng là khắc sâu, củng cố ở tiết trả bài khi được
giáo viên chấm, chữa cụ thể trong bài của mình cũng như qua tiết trả bài trên
lớp .
Nghiên cứu, đề xuất những cải tiến mới trong phương pháp dạy học
theo hướng tích hợp đang là vấn đề quan tâm của mọi cấp, mọi ngành và của
toàn xã hội. Với phạm vi đề tài nhỏ này, tôi chỉ xin đóng góp kinh nghiệm
nhỏ của mình khi dạy tiết trả bài Tập làm văn cho học sinh lớp 6. Mong muốn
các bài viết cần chấm một lượt rồi đưa ra một thang yêu cầu chung để cho
điểm. Bởi thực tế, chấm Tập làm văn không chỉ cần nắm chắc thang điểm
trong đáp án, mà đôi khi cần phải căn cứ vào sự sáng tạo của học sinh trong
5
từng bài làm cụ thể của toàn lớp, giữa lớp này với lớp khác; hơn thế còn phải
căn cứ vào sự tiến bộ hay không tiến bộ của học sinh để có sự khuyến khích
cần thiết. Những con số là vô tri nhưng khi nó thành điểm số thì quả thật
chúng biết nói, nói được nhiều hơn tất cả những gì chúng ta tưởng. Nhưng
như vậy không có nghĩa là cho điểm theo cảm tính, chủ quan. Sự nâng niu
trân trọng nếu có, phải được thực hiện trong sự thống nhất, tránh đánh giá
nhầm, thiên lệch làm mất lòng tin ở học sinh.
+ Một cách để giáo viên tạo được sự công bằng trong chấm bài là có sổ
theo dõi chấm bài trong toàn năm. Số lần làm bài kiểm tra Tập làm văn ở lớp
6 trong một năm không nhiều. Do vậy, việc lập sổ theo dõi là có thể tiến hành
được. Trong sổ theo dõi, ta chia làm 4 bậc điểm: điểm giỏi, khá, trung bình,
yếu. Lần thứ nhất em A có bậc điểm trung bình, lần thứ 2 ở bậc điểm khá.Như
vậy, ta có thể đưa nhận xét về bài làm: có tiến bộ. Tuỳ theo sự tăng hay giảm
con điểm, mức tăng nhanh hay tăng chậm mà đưa ra lời nhận xét chính xác.
Điều này rất có ý nghĩa bởi vì thật buồn cười nếu học sinh được điểm 7 được
coi là "có tiến bộ" trong khi bài trước em được điểm 9.
Cách làm này áp dụng rất tốt khi giáo viên chưa nắm vững tên và lực
học của học sinh và phát huy hiệu quả tối ưu trong việc ghi nhận xét ở học bạ
cuối năm hay sổ liên lạc. Bởi vì thực tế, bằng cách này, giáo viên đã hoàn toàn
theo dõi và nắm được từng bước tiến (lùi) của học sinh về kỹ năng Tập làm
văn.
+ Chấm bài chu đáo còn là gọi đúng tên lỗi của từng học sinh. Bởi vì
chỉ có giáo viên đọc bài kỹ mới phát hiện ra lỗi dù là nhỏ của học sinh. Và
cùng với việc phát hiện ra lỗi cũng có nghĩa là giáo viên đã giúp cho các em
những bài kém, sai nhiều lỗi ở tất cả các mặt. Hình thức kiểm tra sau tiết trả
bài bắt buộc giáo viên phải dành nhiều thời gian hợp lý để chấm cẩn thận và
theo dõi sự tiến bộ của học sinh so với bài trước. Chính vì vậy, đòi hỏi giáo
viên phải nhiệt tình , có trách nhiệm trước học sinh. Bởi vì yêu cầu này không
mang tính pháp chế nhưng hiệu quả rèn luyện kỹ năng viết văn cho học sinh
lại rất cao, nhất là đối với học sinh yếu kém.
- Giáo viên xây dựng đáp án cụ thể, chi tiết về nội dung cần đạt so với
đề bài ra để giúp học sinh nhận ra những khuyết điểm trong bài làm của mình
và bổ sung, rút kinh nghiệm để hoàn thiện bài làm sau tiết trả bài.
2.3.2. Các bước tiến hành của giờ trả bài Tập làm văn 6:
( Lớp 6D – Trường THCS Minh Khai – TP Thanh Hóa.)
Các bước tiến hành của giờ trả bài Tập làm văn bao gồm cả những công
việc trên lớp và sự chuẩn bị của cô, trò ở nhà. Cụ thể:
- Sự chuẩn bị cho tiết trả bài : Về phía học sinh, cần yêu cầu các em
soạn trước tiết trả bài ở nhà. Chỉ có như vậy, các em mới có tâm thế chủ động
và làm việc tích cực trong tiết học. Về phía giáo viên, phải chấm và hoàn
thiện mọi yêu cầu để đưa ra nhận xét đúng, hiệu quả nhất trong giờ học. Do
vậy, giáo viên phải soạn giáo án trả bài một cách tỉ mỉ, dẫn chứng cụ thể cho
từng nhận xét.
- Chép lại đề: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại đề (theo trí nhớ) và ghi đề
bài lên bảng. Yêu cầu này tiến hành thường xuyên, giúp học sinh có ý thức
đọc và tìm hiểu kỹ đề bài trước khi viết. Đây là yếu tố vô cùng quan trọng để
có được bài viết đúng.
- Phân tích đề (bước này tiến hành khoảng 7 - 10 phút): giáo viên đưa ra
hệ thống câu hỏi để học sinh tìm hiểu những yêu cầu của đề bài:
+ Yêu cầu về kiểu văn bản: (Tự sự, miêu tả hay có sự kết hợp hai kiểu
này...).
+ Nội dung của bài viết yêu cầu những gì? Kể lại một câu chuyện đã
học, một sự việc diễn ra trong tưởng tượng, trong thực tế hay miêu tả cảnh sắc
gian đã học ( truyền thuyết, cổ tích ) bằng lời văn của em .
* Yêu cầu cần đạt :
+ Hình thức:
- Bài viết có bố cục 3 phần rõ ràng: MB, TB, KB.
- Diễn đạt lưu loát, dùng từ ngữ chính xác, không mắc lỗi chính tả, trình
bầy bài sạch sẽ.
+ Nội dung:
- Xác định đúng kiểu bài: Tự sự.
- Lời kể : Kể bằng lời văn của em.
- Đối tượng, phạm vi kể: một truyện dân gian đã học ( truyền thuyết, cổ
tích)
- Nội dung kể: Phải đảm bảo các nội dung chính của truyện dân gian
đó, không thêm hay bỏ bớt các nội dung chính của truyện .
- Ngôi kể : Ngôi thứ 3.
+ Cụ thể:
- Mở bài: Giới thiệu về truyện truyền thuyết sẽ kể. (trực tiếp hoặc gián
tiếp)
- Thân bài: Lần lượt kể lại nội dung của truyện bằng lời văn của em.
( không viết lại nguyên lời của tác giả)
- Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của truyện và suy nghĩ của em về truyện đó.
9
* Giáo viên có thể nhận xét, sửa lỗi về:
+ Kiểu văn bản mà học sinh xây dựng so với yêu cầu đề bài là đúng
hay sai . Lấy dẫn chứng từng bài của học sinh cụ thể.
- Bài của em Nguyễn Tuấn Minh đã xác định sai kiểu văn bản so với
yêu cầu của đề bài . Em thiên về miêu tả nhân vật Thạch Sanh nhiều hơn kể
việc làm của Thạch Sanh và nội dung truyện. Cụ thể có đoạn là : Thạch Sanh
là người rất to cao, khỏe mạnh,đẹp trai,thân hình rắn chắc với các cơ bắp cuồn
- Diễn đạt lưu loát, dùng từ ngữ chính xác, không mắc lỗi chính tả, trình
bầy bài sạch sẽ.
10
+ Nội dung:
- Xác định đúng kiểu bài: Tự sự .
- Lời kể: Kể bằng lời văn của em.
- Ngôi kể : Ngôi thứ 1.
- Đối tượng, phạm vi kể: một việc tôt em đã làm .
- Nội dung : Việc làm tốt đó là gì? Diễn ra ở đâu? Lúc nào? Diễn biến
của việc làm tốt mà em đã làm. Cảm nghĩ của em về việc mình đã làm và lời
khuyên đối với mọi người .
+ Cụ thể:
- Mở bài: Giới thiệu về việc làm tốt của em . (trực tiếp hoặc gián tiếp)
- Thân bài: Lần lượt làm rõ các nội dung kể : Việc làm tốt đó là gì? Diễn
ra ở đâu? Lúc nào? Diễn biến của việc làm tốt mà em đã làm.
- Kết bài: Cảm nghĩ của em về việc mình đã làm và lời khuyên đối với
mọi người .
* Giáo viên có thể nhận xét, sửa lỗi về:
+ Bố cục: Nêu những bài viết đúng, đủ, bố cục ba phần rõ ràng, đồng
thời nêu tên những học sinh còn thiếu hoặc bố cục chưa rõ ràng. Với học sinh
lớp 6, bố cục văn bản nhiều khi các em không biết bắt đầu của phần mở bài là
từ đâu và kết thúc ở chỗ nào? Cách viết một đoạn (ở mở bài và kết bài) hay
những đoạn (thân bài) phải đảm bảo những yêu cầu ra sao. Nhiều khi , các em
viết cả một phần thân bài chỉ bằng một đoạn văn mặc dù diễn đạt nhiều ý
khác nhau.Do vậy, để khắc phục lỗi này, giáo viên cần phải chỉ ra, nhấn mạnh
cách viết một đoạn văn, cách liên kết giữa các đoạn và việc sắp xếp theo một
thứ tự hợp lý các ý trong bài như thế nào.
Khi tiến hành khâu này, giáo viên nên chọn bài của học sinh : bài
- Nội dung: Thời gian, không gian tả, quang cảnh thiên nhiên, con người
trên đường. Cảm nghĩ của em về con đường.
+ Cụ thể:
- Mở bài: Giới thiệu về con đường từ nhà em đến trường . (trực tiếp hoặc
gián tiếp)
- Thân bài: Lần lượt làm rõ các nội dung tả : Thời gian, không gian tả,
quang cảnh thiên nhiên, con người, loài vật trên đường.
- Kết bài: Cảm nghĩ của em về con đường.
* Giáo viên có thể nhận xét, sửa lỗi về:
Bài của em Nguyễn Phương Anh, có bố cục 3 phần nhưng viết nội dung
phần mở bài trong bài viết lại không phù hợp .
* Mở bài : Con đường từ nhà em đến trường vào buổi sáng đẹp trời
trông rất thơ mộng, thanh bình với những làn gió nhè nhẹ thổi làm đung đưa
cành lá hai hàng cây bên đường cùng với tiếng họa mi hót chào ngày mới .
Sau đây, em xin tả về con đường ấy .
- GV sửa lỗi : Phần nội dung trên nên đưa xuống phần thân bài tả chi
tiết về con đường . Phần mở bài chỉ cần dẫn dắt để giới thiệu về con đường .
Ví dụ : Trong suốt quãng thời gian cắp sách tới trường, tôi đã yêu mến và gần
gũi với nhiều đồ vật : cặp sách, chiếc mũ đội đầu ...Nhưng có lẽ, quen thuộc,
gắn bó với tôi nhất là con đường từ nhà đến trường .
VD : Ở tiết 115 : Trả bài Tập làm văn tả người với đề : Tả về người
thân của em.
12
* Yêu cầu cần đạt :
+ Hình thức:
- Bài viết có bố cục 3 phần rõ ràng: MB, TB, KB.
- Diễn đạt lưu loát, dùng từ ngữ chính xác, không mắc lỗi chính tả, trình
bầy bài sạch sẽ.
vậy, khi diễn đạt, người viết cần phải chú ý sắp xếp từ ngữ để ý văn được chặt
chẽ :Vì phải vất vả bươn chải cuộc sống để lo cho tôi ăn học nên mới ở độ
tuổi 34 nhưng trên khuôn mặt của mẹ đã xuất hiện nhiều nếp nhăn và chấm
13
đồi mồi, cùng với đôi bàn tay gầy gò,chai sần,tôi thấy mẹ già nhiều hơn so với
tuổi .
+ Ngữ pháp: Nhận xét về cách dùng các dấu câu.Yêu cầu học sinh nhắc
và nhớ lại cách dùng dấu phẩy, dấu chấm, hỏi chấm, chấm lửng ... và sau các
dấu chấm, chấm hỏi, chấm lửng... ta phải viết ra sao. Tránh tình trạng viết
không dùng dấu câu, dùng không đúng hoặc sau dấu chấm không viết hoa ,
viết hoa những chữ không phải là danh từ riêng hoặc không đứng ở đầu câu.
Giáo viên nên chọn nêu những lỗi phổ biến của nhiều học sinh để sửa.Như
vậy,sẽ tạo điều kiện để sửa được nhiều lỗi cho nhiều học sinh hơn trong một
tiết trả bài.
Bài của em Nguyễn Như Quỳnh mắc lỗi viết hoa từ không phải danh từ
riêng,danh từ riêng và sau dấu chấm không viết hoa .Cụ thể đoạn văn tả về chị
gái :Chị có cái tên rất dễ mến phùng thị thương thương . tên chị giống với
giọng nói nhẹ nhàng và tính cách thùy mị của Chị .
- GV sửa lỗi : Khi viết, danh từ riêng và sau dấu chấm phải viết hoa .
Ví dụ : Chị có cái tên rất dễ mến Phùng Thị Thương Thương .Tên chị ....chị .
Bài của em Vũ Hoàng Yến mắc lỗi dùng dấu hỏi chấm không phù hợp
với nội dung diễn đạt của câu văn : Anh sở hữu làn da trắng hồng,đôi mắt
tròn, đen láy ... .
- GV sửa lỗi : Khi miêu tả về người anh thì người viết phải tả chi tiết
những đặc điểm của người anh để người đọc ( nghe ) hình dung được đối
tượng miêu tả như đang hiện ra trước mắt mình . Nếu tả một hai đặc điểm
rồi dùng dấu chấm lửng biểu thị ý còn nhiều chi tiết khác chưa tả thì người
đoc (nghe ) không thể biết được chi tiết mình muốn miêu tả là gì .
dùng từ nào mà mình nhớ chính xác hình thức ngữ âm. Nếu không hiểu hoặc
chưa hiểu rõ thì chưa dùng, có thể dùng từ điển tra cứu để nắm rõ nghĩa.
Bên cạnh việc chỉ ra lỗi, với những học sinh có sử dụng từ ngữ độc đáo
và hay,giáo viên cũng phải đọc minh hoạ để biểu dương các em, đồng thời để
các bạn khác học tập.
Như vậy, các em không chỉ biết dùng từ chính xác, có sức gợi hình, gợi
cảm mà còn biết vận dụng các biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh để làm nổi
bật cảnh vật được tả.
Bài của em Dương Yến Nhi dùng từ chính xác , có sức gợi hình, gợi
cảm, biết vận dụng các biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh để làm nổi bật cảnh
vật được tả.Ví dụ đoạn văn : Mới 5 giờ sáng, ông mặt trời còn đang ngái ngủ
nhưng không khí của phiên chợ quê tôi đã đông vui như một lễ hội . Người đi
chợ tấp nập vào ra, các mặt hàng được bầy bán rất phong phú . Tiếng chào
mua hàng của người bán, tiếng hỏi giá của người mua mỗi lúc rôm rả hơn .
Bài của em Nguyễn Thị Huyền Trang mắc lỗi dùng từ không đúng
nghĩa .Cụ thể câu : Quang cảnh phiên chợ ở quê tôi thật mĩ lệ .
- GV sửa lỗi : Từ “ mĩ lệ ” là chỉ cảnh vật có vẻ đẹp trang trọng nên dùng
từ này tả chợ quê là không đúng.Thay từ “mĩ lệ ” bằng từ “ thanh bình” hoăc
“ thơ mộng” thì hợp hơn .
Bài của em Lê Thị Hồng Hạnh có câu nhầm lẫn giữa các từ gần âm. Cụ
thể câu : Trời còn chưa sáng tỏ, những tiếng bước chân của người đi chợ sớm
đã xua tan không khí tịch mịt bí ẩn của buổi đêm .
- GV sửa lỗi : Từ “ tịch mịt “ không có trong từ điển tiếng Việt mà chỉ có từ
“ tịch mịch“chỉ sự vắng vẻ, yên tĩnh, không có hoạt động diễn ra.Vì không
nhớ chính xác hình thức ngữ âm của từ nên dẫn đến viết sai từ.Khi dùng từ,
15
phải nhớ chính xác nghĩa và hình thức ngữ âm của từ; nếu không nhờ, phải tra
từ điển tiếng Việt .
công và hiệu quả cuả tiết trả bài. Vì vậy, giáo viên cần tiến hành chu đáo, cẩn
thận. Chính sự cẩn trọng, tỉ mỉ và nhiệt tình của giáo viên ở khâu này sẽ giúp
học sinh phấn đấu và rèn luyện kỹ năng viết.
2.4. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trưởng.
16
Nâng cao kết quả rèn luyện kỹ năng viết là công việc đầy khó khăn, vất
vả, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của cả giáo viên và học sinh. Cả hai nhân
tố này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của quá trình rèn luyện. Thực tế ở lớp
6 đầu cấp, việc uốn nắn kỹ năng viết đúng, viết hay có điểm rất dễ nhưng
cũng rất khó. Dễ vì các em đều ngoan, chịu khó và nghe lời. Nhưng khó bởi
vì các em mau quên, sự kiên nhẫn và cẩn thận chưa trở thành một thuộc tính
cần thiết. Do vậy, người giáo viên phải biết nắm vững tâm lý của từng em, có
những kiểu nhận xét và uốn nắn riêng.Việc hình thành, rèn luyện và phát triển
kỹ năng viết Tập làm văn không chỉ được tiến hành qua tiết trả bài mà còn
được kết hợp trong các phân môn Tiếng Việt và Văn học.Tuy vậy, hơn tất cả
các phân môn khác, Tập làm văn đúng như tên gọi của nó, có ảnh hưởng rất
lớn đến kỹ năng viết nói chung của học sinh.Trong đó, làm bài đặc biệt là tiết
trả bài Tập làm văn lại có ảnh hưởng rõ rệt nhất, tích cực nhất.
Áp dụng những yêu cầu và các bước tiến hành giờ trả bài Tập làm văn
trên vào học sinh lớp 6D trường THCS Minh Khai, tôi đã thu nhận được sự
tiến bộ đáng mừng của học sinh.
Như vậy, kỹ năng viết đúng của các em có sự tiến bộ rõ rệt. Cùng với
kỹ năng viết đúng, tránh được các lỗi mắc phải trước đây, nhiều em đã vươn
lên viết hay.Cụ thể như em: Lê Hồng Hạnh, Vũ Thị Ngọc Huyền, Nguyễn Phi
Hùng , Chu Trịnh Thùy Dung, Hoàng Thị Quỳnh, Nguyễn Ngọc Nhất,
Nguyễn Thị Hồng Minh, Hồ Quang Huy, Lê Ngọc Thiện...
%
SL
%
SL
%
Đầu năm
7
0.16
12
0.27
23
0.5
3
0.07
Giữa kỳ I
2
0.04
Giữa kỳ II
14
0.31
21
0.47
9
0.2
1
0.02
Kỳ II
17
0.38
24
môn Tập làm văn và nhất là qua tiết trả bài vẫn được xem là con đường tập
trung, có hệ thống và mang tính quyết định nhất.
Dạy học Tập làm văn nói riêng và dạy học Ngữ Văn nói chung là một
việc làm vất vả , đòi hỏi cả thầy và trò đều phải nỗ lực không ngừng. Bởi khác
với môn học khác, đây là môn học đòi hỏi giáo viên và học sinh không chỉ
cần đến trí tuệ mà còn phải phát huy yếu tố tình cảm, cảm xúc. Muốn làm
được điều đó, người giáo viên phải nghiên cứu, tính toán, nghiền ngẫm công
phu qua từng công đoạn, qua mỗi khâu, mỗi biện pháp, cách thức để khơi dậy
18
niềm say mê trí tuệ, tâm hồn giúp các em chủ động tiếp xúc với tác phẩm và
hơn thế, sáng tạo ra những tác phẩm mới. Đấy là một quá trình hoạt động đa
dạng, phức tạp, mang tính khoa học và nghệ thuật sâu sắc.Chương trình Ngữ
Văn đổi mới theo hướng tích hợp, chú trọng đề cao sự phát triển tích cực sáng
tạo của học sinh, tránh xu hướng hàn lâm, quá tải, nặng về lý thuyết , ít ứng
dụng, thực hành.Vì vậy, SGK Ngữ Văn không chỉ chú ý cung cấp kiến thức
mà còn chú ý hình thành kỹ năng, những kỹ năng tối ưu cho việc đọc hiểu văn
bản và ứng dụng trong đời sống.
Vì vậy với "Nâng cao kỹ năng thực hành luyện viết bài văn miêu tả
cho học sinh lớp 6 thông qua tiết trả bài " mong muốn tìm ra được những
điều kiện để tổ chức một tiết trả bài có hiệu quả cao nhất, nhằm phát triển một
trong bốn kỹ năng quan trọng mà môn Ngữ Văn hướng tới. Đây cũng là một
cách để hướng tới, tiếp cận gần hơn với phương pháp dạy học tích hợp. Bởi
suy cho cùng, kỹ năng viết của học sinh chỉ có được khi các em có sự vận
dụng những gì mình đã được đọc, nghe, cảm nhận ...Các em cũng chỉ viết
đúng, viết hay khi các em tích cực học tập, tìm tòi và sáng tạo.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2
1.5. Những điểm đổi mới của Sáng kiến kinh nghiệm
2. Nội dung Sáng kiến kinh nghiệm
2
2.1. Cơ sở lí luận của Sáng kiến kinh nghiệm
2
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm
3
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
4
2.4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
nghiệp và nhà trường
3. Kết luận, kiến nghị
- Kết luận
16
17