luân văn du lịch lữ hành vài nét về nghệ thuật ca trù và vai trò của nó trong du lịch văn hóa - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền âm nhạc truyền thống của dân tộc, chúng ta đã từng biết
tới những làn điệu quan họ mượt mà, những tích trò hấp dẫn của múa rối,
chèo trống… Nhưng bên cạnh đó còn một loại hình nghệ thuật ngày nay
dường như đã bị lãng quên - dó là Ca trù. Nhắc đến Ca trù - người ta chỉ
lờ mờ hiểu về nó như một thể loại âm nhạc rất khó nắm bắt, rất khó để
thẩm thấu. Khác với quan hệ, múa rối… là những loại hình nghệ thuật dân
dã gần gũi với cuộc sống - Ca trù là một loại hình nghệ thuật bác học.
Một loại hình âm nhạc đã đạt đến trình độ hoàn thiện cao, đòi hỏi người
thưởng thức phải am hiểu và tìm tòi về những giá trị tinh hoa của nó. Tại
sao lại có sự khác biệt đó? Tại sao ca trù lại rất khó để cảm thụ được vẻ
đẹp tinh anh của nó? Và hơn nữa trước thực trạng ca trù đang đứng trước
bờ vực thẳm của sự mai một đã là động lực để tôi tiến hành tìm hiểu về
loại hình nghệ thuật này. Hy vọng đó có thể là một đóng góp nhỏ cho việc
gìn giữ vẻ đẹp ca trù.
Ca trù đã trở thành đề tài nghiên cứu hấp dẫn của nhiều nhà nghiên
cứu âm nhạc, nhà văn hoá lớn. Cái nhìn về ca trù toàn diện, sâu sắc có lẽ
đã được nhắc tới rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà
khoa học. Bởi vậy, tôi chọn đề tài “Vài nét về nghệ thuật ca trù và vai
trò của nó trong du lịch văn hóa” với một đề tài tiểu luận và sự am hiểu
của mình, tôi chỉ dám bàn tới ca trù ở những điểm khái quát nhất trong
kiến thức thu nhặt được. Với mong muốn sau khi đọc bá cáo này, người
xem sẽ phần nào hiểu được thế nào là ca trù, ca trù ra đời khi nào và hát
ca trù ra sao?
Với phương pháp nghiên cứu:
-Phương pháp tổng hợp tư liệu từ các nguồn sách, báo, phươg tiện
thông tin điện tử, Internet.
-Phương pháp thực địa.
1



3. Ca trù
Đây là một khái niệm chỉ một lối hát mà trong đó có rất nhiều điệu
hát (theo 2 nhà nghiên cứu Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ trọng Huề thì ca trù có
46 điệu chính) như thét nhạc, non mai, hồng hạnh, hát nói…
Ca trù còn có các cách gọi khác như: hát ả đào, hát nhà trò, hát cô
đầu, hát nhà tơ… ở Thanh hoá ca trù còn được gọi là hát ca công, hát gõ.
Nhưng tên gọi ca trù là phổ biến nhất.
3


Giải thích tên gọi ca trù theo nghĩa chữ thì hát ca trù là hát thẻ. Thẻ
gọi là “trù”. Thẻ làm bằng tre và dùng để thưởng cho đào hát thay cho trả
bằng tiền mặt trực tiếp. Khi ả đào hát, các quan iên thị lễ - một bên đánh
trống, bên kia đánh chiêng. Trống đánh chát và chiêng đánh lên khi đào
hát hay và đào được thưởng một thẻ trù, xong tiệc hát thì đào - kép ứng
theo số thẻ đã được thưởng mà nhận tiền theo quy định.
Khái niệm ca trù sớm nhất hiện được biết đến là ở thế kỷ XVI trong
bài “Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải răn” của Lê Đức Mao.
4. Cầm chầu
Người đánh trống cho ả đào hát gọi là cầm chầu. Dìu trống (còn gọi
là roi chầu) làm bằng gỗ quý. Cầm chầu cũng có khổ, có tiếng trống
khoan, trống mau như đàn, phách.
Người cầm chầu phải là người am hiểu về ca trù bởi ngoài nhiệm vụ
đánh trống cho đào hát còn có nhiệm vụ là chấm thưởng mỗi khi đào
nương hát hay, hay đến câu văn hay. Ngoài ra người cầm chầu còn chấm
cả đàn hay, phách hay. Chính từ vai trò này mới sinh ra các khái niệm như
“thưởng hơi, thưởng ý, thưởng đàn, thưởng phách”. Cầm chầu đánh “cắc”
là chấm thưởng. Điểm thưởng thể hện tính cách, khả năng âm nhạc, văn
học của người cầm chầu. Cầm chầu giỏi là phải tinh không thưởng sai,
thưởng liều.

-Hát nơi mưỡu kép (hát mưỡu bằng 2 câu thơ lục bát.
8. Giáo phường
Đây là tổ chức của hát ca trù gồm nhiều họ. Người đứng đầu giáo
phường gọi là “ông chùm”. Giá phường có hệ thống qui ước mà các thành
viên phải tuân thủ. Hằng năm, giáo phường đều tổ chức lễ tế tổ vào ngày
11 tháng Chạp. Sau ngày tế tổ thì ông chùm giải quyết các công việc nảy
sinh trong giáo phường. Nơi lễ tế tổ có thể làm ở nhà thờ hay muựơn đình
của xã để làm lễ. Trong lễ tế tổ, đào nương kép hát của các họ ở các vùng
khác nhau tề tựu, đông đủ hát đủ các điệu và đặt tiệc mời khách quý - gọi
là đám “thánh sư”. Giáo phường còn được hiểu là nơi dạy những người đi
hát.
9. Hãm

5


Hãm là một điệu hát của ca trù hát ngâm hãm để chuốc rượu chúc
mừng trong tiệc vui khúc hát hãm có từ một mừng đến 10 mừng.
10. Lạc nhạn, xuyên tâm, thuỳ châu
Các khái niệm này chỉ khổ nhạc của trống, đàn và phách. Nó được
chia thành 5 khổ theo thứ tự như sau:
-Chính diện (dùng vào những câu hát bằng phẳng).
-Xuyên tâm có xuyên thưa, xuyên mau.
-Lạc nhạn (dùg vào câu hát trầm ngâm)
-Quán châu ( dùng vào các khổ thơ).
-Thương mã (dùng vào các khổ xếp, khổ dồn).
-Thuỳ thâu: chỉ 3 tiếng trống vào giữa câu thứ 11 hoặc câu thứ 10.
Xuyên thưa chỉ ba tiếng trống đánh vào đầu câu thứ 4.
Xuyên mau là ba tiếng trống đánh bào đầu câu thứ 8.
11. Hát ả đào

Theo “Việt sử tiêu án” của Ngô Thời Sĩ thì vào đầu Vua Lý Thái tổ
(1010 - 1028) có người ca nhi tên là Đào Thị hát hay đàn giỏi từng được
vua ban thưởng. Về sau vì ái mộ danh tiếng Đào Thị nên con hát gọi là
Đào nương. Sách “Khâm đinh viết sử” cũng ghi : “năm Thuận Thiên thứ
16 (1925) vua Lý Thái Tổ đặt chức Quản giáp cho giới con hát. Như vậy,
từ các cứ liệu trên, ca trù ít nhất cũng có từ đời Lý. Tuy nhiên đây cũng
chỉ là tương truyền mà chưa có các căn cứ chính xác.
Đến đời nhà Hồ (1400 - 1407) lại có sách (Công dư tiệp ký” chép
lại chuyện một đào nương ở tại thôn Đài Xá, huyện Tiên Lữ - Hưng Yên
múa giỏi hát hay. Thời điểm đó, quân Minh sang xâm chiếm nước ta gây
bao cảnh tang thương. Nàng đã cùng dân làng lập mưu hạ được nhiều tên
giặc Minh giúp làng Đài Xá được yên ổn. Về sau người làng nhớ ơn nên
đã lập đến thờ và thôn nàng ở trước đây gọ là thôn “Ả đào”.
Lại có truyền thuyết khác về Tổ cô đầu mà hiện nay được nhiều
người ghi nhớ nhất. Đời nhà Lê có người tên là Đinh Lễ tự là Nguyễn
Sinh, quê ở làng Cổ Đạm - Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Là con nhà gia thế song
tính tình phóng khoáng, thích ca hát gảy đàn. Một lần Đinh Lễ được một
cụ già đưa cho một khúc gỗ ngô đồng và tờ giây vẽ hình một cây đàn bảo
rằng về làm cây đàn sẽ giúp trừ hoạ và mang lại an lành cho nhân dân.
7


Quả nhiên cây đàn đã giúp cho cuộc sống của bà con hạnh phúc vui tươi
hơn. Một hôm, Đinh Lễ đi qua châu Thường Xuân - tỉnh Thanh Hoá ngồi
gảy đàn vô tình tiếng đàn đã giúp cho Bạch Hoa - con gái quan châu Bạch
Đình Sa bị câm từ nhỏ bỗng cất tiếng nói sau khi nghe đàn. Cảm tạ ơn đó
Bạch Hoa được gả cho Đinh Lễ. Từ đấy hai vợ chồng sống hạnh phúc, ca
hát và còn dạy cả dân làng cách đàn, cách múa. Khi hai vợ chống mất đi,
dân làng Cổ Đạm và đệ từ nhớ ơn lập đền thờ gọi là đền tổ cô đầu, hay
đền bà Bạch Hoa công chúa. Hàng năm đến ngày 11 tháng Chạp có giỗ tổ

nguồn gốc sản sinh ra Ca trù, là trung tâm đỉnh cao của nghệ thuật ca trù.
Từ đây, ca trù phát triển rộng khắp hai miền Bắc - Trung. Ngày nay, sinh
hoạt ca trù cũng đang dần được khôi phục ở Cổ Đam với việc hình thành
các câu lạc bộ ca trù ở Nghi Xuan.
Tóm lại, cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng nào về thời
gian cũng như gốc gác của ca trù. Mọi sự công bố đều là phỏng đoán dựa
vào các tư liệu cổ và truyền thuyết chưa rõ ràng. Để có được tài lệu đích
xác và đầy đủ cần phải có thời gian. Theo giáo sư Trần Văn Khê thì hiện
nay ta tạm coi hát ả đào xuất hiện vào đầu thế kỷ XV xuất phát từ vùng
Thanh, Nghệ, Tĩnh.

9


CHƯƠNG II
NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN CA TRÙ
Ca trù là một loại nhạc truyền thống bác học có đầy đủ quy tắc về
điệu, về nhịp, về nét hoa mĩ, cách biến tấu, ứng tấu. Để hiểu được cả một
hệ thống quy tắc chặt chẽ ấy khi hát là cả một quá trình tìm tòi, thẩm thấu
ở trình độ cao.
Trước khi đi vào nghệ thuật trình diễn, ta cần tìm hiểu các đặc điểm
của một bài ca trù - như một yếu tố nền khi nghe hát ca trù.
I. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC BÀI HÁT CA TRÙ
1. Phân loại
Ngày xưa, ca trù có ba loại chính.
-Hát chơi, biểu diễn tại các nhà của những người hâm mộ ca trù hay
tại nhà ca sĩ.
-Hát cửa đình, biểu diễn tại đình làng.
-Hát thi biểu diễn để tranh giải thưởng.
Phổ biến nhất là hát chơi trong một vùng thân mật với số ít khán giả

Đặc biệt trong các bài hát ca trù ta còn bắt gặp ảnh hưởng của tư
tưởng Lão Trang. Điều này được đề cập tới rất sớm trong sách “Đào
nương ca” của Nguyễn Văn Ngọc. Tư tưởng Lão Trạng tập trung ở những
khía cạnh sau.
-Tinh thần tự do, tự tại, thoát khỏi quy phạm của Nho giáo.
-Thiên nhiên trong ca trù là thiên nhiên tiên giới và mộng ảo.
-Hưởng lạc đã trở thành triết lý để thực hện “võ” hay ra giảng nội
dung nghiêm túc của học thuyết Khổng Mạnh mà chỉ nhằm mục đích
chính đáng là giải trí.
4. Bố cụ một bài ca trù
Theo sách “Ca trù thể cách” thì ta có thể sắp xếp bố cục một bài hát
ca trù gồm 11 câu như sau:
Câu 1 và 2 gọi là tống mạo
Câu 3 và 4 gọi là thừa đề
Câu 5, 6 dùng lối thất ngôn, cổ thi hoặc quốc âm, nói tới đại ý của
toàn bài.
11


Câu 7, 8, 9, 10 nói theo ý của câu 5, 6 để mở rộng thêm.
Câu 11: tổng kết ý nghĩa toàn bài.
Đôi khi, kết thúc câu thứ 11 lại có thêm 2 hoặc 4 câu nữa liền sau
đó để mở rộng thêm ý tứ của bài hát.
5. Âm luật
Ca trù có 5 cung chính là (theo Nguyễn Đôn Phục).
-Cung nam: điệu nhanh, hơi trong nhưng bằng phẳng và xuống thấp.
-Cung bắc: điệu hát khan, hơi đục nhưng rắn rỏi và lên cao.
-Cung huỳnh: điệu xúc, ngặt, hát dính vào nhau.
-Cung pha: trong và đục pha lẫn, hơi ai oán, hát chệch.
-Cung nao: điệu chênh chênh, đục ở dưới, trong ở trên.

kép là người đàn cho ả đào hát.
Phách: là bộ phận nhạc cụ của ả đào dùng cho ả đào gõ nhịp khi hát.
Phách và sênh là hai nhạc cụ của ả đào. Phách làm từ gỗ, khi hát, ả đào
gõ phách vào sênh. Sênh làm từ tre (gỗ). Phách có 4 khổ là: khổ sòng, khổ
đơn, khổ rải, khổ lá đầu.
Trống: có 2 loại trống cửa đình là trống lớn. Dìu lớn bằng gỗ, trống
có chiêng kèm theo. Trống thính phòng là loại nhỏ, cao 22cm, mặt trống
rộng 20cm. Roi bằng gỗ Nguyệt rát quý, dài khoảng 36cm gọi là “roi
chầu”. Trống cũng có 5 khổ như đàn và phách là: chính diện, xuyên tâm,
lạc nhạn, quán châu, thượng mã.
2. Dàn nhạc của ca trù
Dàn nhạc khá đơn giản tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể để bố trí cho phù
hợp.
Ở cung đình trong tế lễ lớn thì dùng bát âm.
Ở đền miếu, tuỳ hoàn cảnh mà dùng lục âm, tứ âm
Ở tiệc chúc tụng thì dùg đàn đáy, phách, trống.
Ở lễ rước, hát múa, hát chầu thì tuỳ từng lễ mà bố trí.
3. Tiếng hát và cách hát ca trù
Trong phạm vi một bài nghiên cứu tổng quát về lối hát ả đào, người
viết không thể trình bày, phân tích một cách rõ ràng về trình tự và sự kết
hợp lẫn nhau giữa tiếng hát - tiếng đàn, tiếng phách và trống trong một
bài hát ca trù. Điều này chỉ có thể hiểu thông qua việc phân tích từng yếu
13


tố đàn, phách, trống sử dụng như thế nào trong một bài hát ca trù. Thật ra
thf ta đã thấy trong một bài hát ca trù, cách đánh phách, đánh trống, gảy
đàn, tiếng hát của mỗi bài gần như đều theo một truyền thống nhất định.
Trong một khúc hát có 3 làn đổi điệu.
Theo truyền thống thì cuộc hát ả đào bắt đầu có “dâng hương, giáo

Đào nương dù hát khuôn hay hát hàng hoa cũng phải đảm bảo các
tiêu chuẩn nh sau đây:
-Hát hay là phải đảm bảo 8 yếu tố
Quan: tiếng hát ăn nhịp với đàn, phách.
Xuyến: hát tròn trĩnh, mượt mà, vững vàng.
Dằn: tiếng hát tròn và đều
Thét: tiếng vút cao như suố vút lên cao
Khuôn: tiếng tròn phẳng, đúng khuôn bậc.
Rấy: tiếng hát rền, tròn
Diệu: tiếng hát tự nhiên, linh hoạt
Vỡi: tiếng hát cao vút, trong sáng.
-Hát kém là măc các lỗi như:
Lơi: hát chệch, sau nhịp đàn- phách.
Ngang: hát không đúng cung bậc.
Cản: sai bằng trắc trong chữ của (bài) câu hát.
Chăn: hát thấp, không lên cao được
Hụt: hát trước nhịp
Sa: hát sau nhịp.
4. Gõ phách
Phách được ví như tiếng hát thứ hai của đào nương. Đào nương vừa
hát phải vửa gõ phách giữ nhịp cho tiếng hát.
Cổ phách cấu tạo đơn giản gồ bàn phach bằng tre, hai lá phách dẹt
cầm ở tay phải tạo nên âm thanh dẹt và một lá phách tròn cầm ở tay trái
tạo nên âm thanh tròn. Phách tròn và dẹt đều làm từ gỗ. Phách ca trù khác
tất cả các loại phách khác ở chỗ, nó không chỉ có nhiệm vụ gõ nhịp mà đã
đạt tới mức “luyến láy” như tiếng hát để diễn tả cảm xúc trong bài hát.
Phách được chia ra các loại: phách rung (đánh lúc đầu khi đào
nương còn ngâm nga chưa vào phách) Phách dóc (đánh theo từng khổ hát)
15



16


và phách vẫn phải đảm bảo kết hợp chặt chẽ với nhau phục vụ tốt nhất
cho tiếng hát.
6. Điệu múa khi hát ca trù
Các điệu múa của ca trù có nhiều loại nhưng nhìn chung đều mang
đặc điểm là nhịp múa có tốc độ chậm. Các động tác khoan thai, mềm mại
mang dáng vẻ các thục nữ chốn khuê các.
Hiện nay có rất nhiều tư liệu nói tới nguồn gốc của các điệu múa
trong ca trù. Tuy nhiên hầu hết đều hướng vào giả thiết múa ca trù có
nguồn gốc từ điệu múa “bài bông” ở miền Nam. Múa “bài bông” tức là
múa tận hoa” - “bài” là từng trận, “bông” là hoa. Theo đó, mỗi bài múa
phải từ 8 người trở lên vừa hát vừa múa sắp xếp thành từng hàng. Y phục
của ả đào nghiêm chỉnh và khá sặc sỡ, đầu đội hoa - họ bước tới trong lúc
chân này chạm chân kia rất khoan thai, nhịp nhàng. Đây là cách phổ biến
nhất tỏng hát ca trù và chỉ dùng trong đại lễ ở cung đình, tế lễ lớn.
Ngoài điệu bài bông, trong ca trù còn các loại múa khác như: múa
giả bợm gái say, bợm gái tỉnh - ả đào vừa hát vừa là bộ ông sư cụ người
đi săn.
7. Đánh trống chầu trong hát ca trù
Trống chầu có nhiệm vụ quan trọng trong một bài hát trù. Cụ thể,
ngoài đánh trống phải đảm nhiệm việc ngắt mạch câu văn, khổ phách,
khen câu thơ hay.
Người đánh trống cũng chính là người cầm chầu. Đây là điểm độc
đáo nhất trong nghệ thuật ca trù. Bời vì người đánh trống, hoà tấu cùng
đàn, phách và tiếng hát không phải là nhạc công mà chính là người khách
mắt tiền thuê đàn hát. Do đó, người cầm chầu vừa phải là người am hiểu
nghệ thuật ca trù , vừa phải là người có trình độ văn hoá, hiểu văn

“phóng diện” (tức là không bịt mặt trống”. Nếu mặt trống trùng hay quá
căng thì đè bàn tay trái lên mặt trống để đánh. Tuyệt đối không dùng roi
trống đánh thử lên mặt trống Trống đánh không được phát ra các âm thanh
lập cập do dự hay hấp tấp.
Cách thưởng đàn, thưởng hát trong ca trù qua tiếng trống khá độc
đáo. Khi đào nương hát trong câu hát mà có chữ gì hay, người cầm cầu sẽ
gõ “cắc” để thưởng chữ. Gặp chữ hay mà đánh “cắc” trúng vào chữ ấy thì
18


gọi là “đánh kịp”, đánh sau chữ hay thì gọi là chậm, vừa sắp đến chữ hay
mà người cầm chầu đoán trước mà gõ “cắc” trước thế là đánh gấp. Người
cầm chầu phải tránh đánh ngay vào tiếng hát, đánh lấp tiếng hát của ả
đào, sẽ làm khán giả không nghe được. Lối đánh đó gọi là trống lấp khẩu.
Trong bài hát, nếu có chữ hay nhưng mà câu hát đang đi liền nhau, không
có chỗ cách nhau mà điểm trống vào được thì sẽ chỉ gõ “cắc” vào chữ ấy
hai ba tiếng (gọi là cắc lèo).
Như vậy, nghệ thuật ca trù là một loại hình nghệ thuật bác học. Để
thẩm thấu hết giá trị cũng như nghệ thuật trình diễn của nó cần phải có
một trình độ hiểu biết âm nhạc nhất định. Học được nghệ thuật hát ca trù
là có một quá trình khổ luyện, dày công tìm tòi, sáng tạo của người nghệ
sĩ. Chính bởi tính bác học đó mà loại hình này ngày xưa chỉ phục vụ cho
các bậc văn nhân tài tử, những người sành nghe hát. Ngày nay, các điệu
hát ca trù còn lưu lại khoảng 50 điệu song hát được các điệu đó đúng âm
luật, nhịp điệu lại có rất ít nghệ nhân. Đây là một vấn đề cần quan tâm để
lưu giữ những giá trị đặc sắc của nghệ thuật ca trù.

19




Sự góp mặt của a trù sẽ là động lực trong hành trình nâng ao giá trị
truyền thống dân tộc trong phục vụ du lịch. Trong nhịp sống hối hả ngày
nay, những giá trị xa xưa, những giá trị như người ta vẫn nói chỉ còn
“vang bóng” rất cần được lưu giữ và bảo tồn. Giữa lúc ấy, ca trù được đưa
vào biểu diễn như một gạch nối quan trọng nối quá khứ - hiện tại và
tương lai. Du lịch văn hoá sẽ thiếu đi sức hấp dẫn và tính truyền thống cội
nguồn nếu du khách không được cảm nhận vẻ đẹp của ca trù.
Việt Nam đang trong quá trình mở cửa, vừa ra nhập tổ chức kinh tế
thế giới WTO - rất nhiều cơ hội mở ra nhất là trong lĩnh vực du lịch. Làm
sao để bên cạnh những tiến bộ, hiện đại của khoa học kĩ thuật, chúng ta
vẫn giữ gìn được những giá trị của bản sắc văn hoá dân tộc . Văn hoá
chính là cội rễ của đời sốg dân tộc. Phát triển du lịch văn hoá chính là
cách để gìn giữ và phát huy những nét đẹp đó. Trong đó ca trù là một
đóng góp không nhỏ trong việc lưu giữ nét xưa hồn cũ của dân tộc.

21


KẾT LUẬN
Trải qua thời gian, theo dòng truyền thuyết, chúng ta thấy rằng ca
trù luôn gắn bó số phận mình với lịch sử dân tộc. Hơn hết thảy, ca trù là
tếng nói đích thực của đời sống tinh thần của người dân. Là một sinh hoạt
âm nhạc gắn với nghi lễ long trọng ở đền miếu, ca trù là niềm thành kính
thiêng liêng của quần chúng. Là một thú chơi tao nhã, ca trù là tiêng nói
cao sang khoáng đạt của đời sống tâm hồn con người trước chiều sâu thăm
thẳm khôn cùng của đời sống.
Bởi vậy, phục hồi và phát huy ca trù là một việc làm rất cần thiết và
có ý nghĩa trong các sinh hoạt lễ hội truyền thống, trong việc giữ gìn bản
sắc văn hoá dân tộc, trong việc làm phong phú đời sống tinh thần của con

Hẹn hoa này, hẹn hoa này chớ phụ khách Đông quân.
Nào ai ngăn đón gió xuẩn.
2. Gửi thư
Bút hoa thảo tình thư một bức
Tâm sự này vằng vặc bóng trăng soi
Chữ nhân duyên đưa lại bởi trời
Duyên hội ngộ thề bồi non với nước
Ta đã sắp đinh ninh từ trước
Nỗi niềm này bao quản bước quan san.
Một châu kiếm, một ngân hoàn,
Ấy đâu để phượng loan làm bạn.
Khách tri âm vốn người viễn hoạn
Chữ chung tình ai dám quên ai.
Gửi hồng nhắn cá chớ đơn sai,
Lòng mây nước há như ai chểnh mảng.
Nay tới tiết trăng thu vẻ sáng,
Bắc cầu ô giữa khoảng sông Ngân.
Cho bõ công then khoá phòng xuân
23


Rủ màn trướng mấy lần chờ đợi…/

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ca trù nhìn từ nhiều phía - Nguyễn Đức Mậu - Nxb Văn hoá thông
tin - Hà Nội 2003.
Các điệu ca trù và một số bài ca trù - Võ Văn Nhung - Thư viện
Viện Văn hoá.
Nét riêng trong hát nói - Đức Mậu - Nxb KHXH - Hà Nội 1992.
Vấn đề tổ quê ca trù - Đức Mậu - Tạp chí Văn hoá số 2/1998.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status