1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN KINH TẾ VĨ MÔ ỨNG DỤNG
Giảng viên hướng dẫn: Ts. Nguyễn Phúc Hải
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Thị Hương Lan
Lớp
: CH24S
Hà Nội, ngày 12 tháng 3 năm 2016
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến
động, các giao dịch kinh tế, tiền tệ ngày càng trở nên phức tạp hơn. Trong khi đó, chính
sách tiền tệ ở Việt Nam còn nhiều tồn tại, hạn chế. Cơ chế điều hành chính sách tiền tệ
trong thời gian qua (giai đoạn trước năm 2012) tỏ ra không hiệu quả trong việc kiểm soát
lạm phát. Từ năm 2004 đến năm 2011, lạm phát cao và diễn biến phức tạp. Kinh tế vĩ mô
bất ổn. Từ năm 2012 đến nay, chính sách tiền tệ đã có những thành công nhất định trong
việc kiềm chế lạm phát ở mức một con số, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Để việc điều
hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý
Nhà nước về các hoạt động về tiền tệ, tín dụng cho mục tiêu và ổn định của cộng đồng.
1.2. Chức năng của NHTW.
Ngày nay, tất cả các quốc gia lớn nhỏ trên thế giới đều có một NHTW với những
vai trò đặc biệt quan trọng không thể thiếu được. Một mặt, NHTW đóng vai trò chủ ngân
hàng đối với các NHTM, đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động không trục trặc.
Mặt khác, NHTW còn đóng vai trò chủ ngân hàng đối với chính phủ, gánh trách nhiệm
kiểm soát việc cung ứng tiền tệ và việc tài trợ cho thâm hụt ngân sách Nhà nước của
chính phủ, là cơ quan duy nhất có quyền phát hành tiền.
1.2.1. Phát hành tiền và điều tiết mức cung tiền.
NHTW là ngân hàng độc quyền phát hành tiền và là ngân hàng đóng vai trò quan
trọng nhất trong điều tiết mức cung tiền có nghĩa là NHTW là người duy nhất được phép
4
phát hành tiền theo các quyết định trong luật hoặc được chính phủ phê duyệt nhằm đảm
bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia, mọi hoạt động
cung ứng tiền của NHTW sẽ ảnh hưởng đến tổng phương tiện thanh toán trong xã hội và
do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Trách nhiệm của NHTW ở chức năng này đó là
việc xây dựng số lượng tiền cần phát hành và thời điểm phát hành cũng như phương thức
phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế.
Ba công cụ quan trọng nhất mà NHTW có thể sử dụng để tác động vào lượng cung
ứng tiền tệ đó là: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ suất triết khấu và nghiệp vụ thị trường mở.
1.2.2. NHTW là ngân hàng của các ngân hàng.
Khi thực hiện chức năng này, NHTW cung ứng đầy đủ các dịch vụ của một ngân
hàng cho các Ngân hàng trung gian (NHTG). Bao gồm:
+ Mở tài khoản tiền gửi và quản lý tiền dự trữ của hệ thống NHTM.
tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu về sản lượng, giá cả và công ăn việc làm.
2.1.2. Cơ chế thực hiện CSTT.
Quá trình thực hiện CSTT bao giờ cũng được diễn ra theo một cơ chế nhất định.
Trong cơ chế này, NHTW sẽ là người thiết kế và điều hành CSTT. Một CSTT của một
quốc gia có thể được thực hiện theo hai hướng:
+ CSTT “nới lỏng” là chính sách nhằm tăng thêm khối lượng tiền tệ cung ứng cho nền
kinh tế làm cho tiền trở nên dồi dào, lãi suất hạ xuống từ đó kích thích tiêu dùng và đầu
tư. Kết quả của CSTT “nới lỏng” là sản lượng tăng, nền kinh tế tăng trưởng cao với tỉ lệ
thất nghiệp thấp.
+ CSTT “thắt chặt” là chính sách nhằm giảm khối lượng tiền tệ cung ứng cho nền kinh tế
làm cho tiền tệ trở nên khan hiếm về số lượng, lãi suất bị đẩy lên cao, tổng cầu giảm và
do đó giá cả trên thị trường giảm sút, lạm phát bị đẩy lùi.
2.2. Mục tiêu của CSTT.
Hệ thống chính sách kinh tế (CSKT) vĩ mô là một hệ thống rất đa dạng gồm nhiều
CSKT khác nhau tạo thành. Mỗi chính sách có đặc điểm, nội dung và công cụ điều tiết
khác nhau nhưng chúng đều có chung một mục đích là tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô
lành mạnh, có lợi cho sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế. Trong hệ thống các chính
sách đó, CSTT giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Nhờ có những ưu điểm mà các CSKT vĩ mô
khác không có được cho nên CSTT được coi là công cụ hữu hiệu để điều tiết kinh tế vĩ
mô của Nhà nước. Tuy nhiên là một bộ phận nằm trong hệ thống CSKT vĩ mô, CSTT
cũng như các CSKT vĩ mô khác chỉ có thể phát huy tác dụng một cách đầy đủ khi chúng
được kết hợp chặt chẽ với nhau, được thống nhất với nhau cả về mục tiêu cũng như
6
phương pháp tiến hành. Là công cụ vĩ mô của Nhà nước, CSTT phải phục vụ cho việc
thực hiện những mục tiêu kinh tế vĩ mô sau:
ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Kết quả là tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống.
7
2.2.4. Ổn định thị trường tài chính.
Nền tảng tài chính ổn định là mục tiêu chủ đạo của CSTT ngoài những mục tiêu
nói trên. NHTW phải ổn định hoạt động tài chính của hệ thống tài chính trong nước một
cách gián tiếp. Tăng cường hiệu quả cho nó, kể cả thu thập thông tin, hướng dẫn, ngăn
ngừa rủi ro cho các tổ chức tài chính trong chiều hướng quản lý hoạt động của nó phù
hợp vơí các mục tiêu của nền kinh tế. Bản thân hệ thống tài chính có những mục tiêu
riêng của nó và nhiều khi những mục tiêu này đối chọi với những mục tiêu chung của nền
kinh tế. Vậy vai trò của CSTT là phải hài hoà một cách tối ưu giữa các mục tiêu nói trên
để phục vụ tốt nhất cho lợi ích chung mà không làm tổn hại hay hạn chế khả năng phát
triển của hệ thống tài chính.
2.3. Công cụ của CSTT.
Công cụ của CSTT là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi NHTW nhằm
ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất, từ đó
mà đạt được các mục tiêu của CSTT .
2.3.1. Công cụ gián tiếp.
Khi sử dụng những công cụ gián tiếp, NHTW đã làm thay đổi cơ số tiền và khả
năng tạo tiền của NHTM và do đó làm thay đổi lượng cung ứng tiền. Có các loại công cụ
gián tiếp chủ yếu sau:
+Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM): Nghiệp vụ thị trường mở là các hoạt động của
NHTW trên thị trường mở thông qua việc mua bán chứng khoán. Các hoạt động này ảnh
hưởng trực tiếp đến dự trữ của các NHTM và ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất. Khi
NHTW đem chứng khoán ra thị trường mở để bán, nó thu tiền về cho nên: 1) nó làm
giảm lượng cung ứng tiền mặt trong lưu thông từ đó làm giảm khả năng cho vay của
NHTW nhiều và dễ dàng như trước. Do vậy nó phải giảm bớt cho vay để đảm bảo dự trữ
trở lại. Như vậy, tác động thứ nhất là nó trực tiếp làm tăng dự trữ, giảm cho vay và hiệu
quả là tổng cầu và sản lượng giảm theo. Tác động thứ hai là nó làm cho NHTM ý thức
rằng trong trường hợp khẩn cấp cần vay nóng của NHTW, NHTM phải trả lãi suất cao,
do vậy các NHTM sẽ từ từ nâng lãi suất lên theo để khỏi thiệt hại nặng khi phải vay của
NHTW. Lãi suất tăng tiếp tục thắt chặt cung ứng tiền và tác động đến nền kinh tế. Khi
NHTW tuyên bố giảm lãi suất chiết khấu, nó khuyến khích các NHTM đến vay nhiều
hơn, điều này trước hết làm tăng cung ứng tiền, tăng dự trữ. Dự trữ tăng kích thích các
NHTM cho vay nhiều hơn, dễ dàng hơn và điều này làm tăng nhanh hơn nữa cung ứng
tiền. Bên cạnh đó, khi NHTM có thể vay tiền của NHTW với lãi suất hạ, nó sẽ sẵn sàng
hạ lãi suất khi cho sản xuất và tiêu dùng vay. Toàn bộ lãi suất, do vậy sẽ giảm theo, kích
thích đầu tư và mở rộng sản lượng.
+ Dự trữ bắt buộc: Dự trữ bắt buộc của NHTM bị tác động trực tiếp bởi tỷ lệ dự trữ bắt
buộc quy định bởi NHTW. Bằng việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHTW đã làm thay
đổi những khoản tiền ký gửi không kỳ hạn của NHTM, làm thay đổi số nhân tiền và do
đó
9
làm thay đổi lượng cung tiền. Cụ thể, khi NHTW giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các
NHTM, sẽ làm tăng số nhân tiền và từ đó làm tăng cung ứng tiền. Ngược lại, khi NHTW
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các NHTM sẽ làm giảm số nhân tiền và từ đó làm giảm
cung ứng tiền.
2.3.2. Công cụ trực tiếp.
Ngoài các công cụ truyền thống kể trên của CSTT , NHTW còn sử dụng một số
công cụ có tính chất can thiệp trực tiếp vào thị trường tiền tệ. Đó là công cụ hạn mức tín
dụng và lãi suất tiền gửi.
+Hạn mức tín dụng: Hạn mức tín dụng là việc NHTW ấn định một khối lượng tín dụng
phải cung cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định và sau đó tìm cách để đưa nó
thị trường. CSTT có tác động nhanh chóng đến các biến số tiền tệ, có ảnh hưởng sâu rộng
đến tất cả các lĩnh vực hoạt động.
+ Chỉ khi có một CSTT đúng đắn thì các CSKT vĩ mô khác mới được sử dụng hiệu quả,
chi phối việc thực hiện các chính sách khác.
+ Khi có sự bất ổn bên trong nền kinh tế hay cú sốc từ bên ngoài thì CSTT bao giờ cũng
được sử dụng đầu tiên.
PHẦN 2
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
1. Thực trạng chính sách tiền tệ ở Việt Nam giai đoạn từ năm 1986 - 2000:
1.1 Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam (giai đoạn 1986-2000):
Sau đại hội Đảng lần thứ VI nền kinh tế nước ta chuyển từ chế độ kế hoạch hoá
tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Chúng ta phải đi những
bước đầu tiên, vừa xây dựng và cải cách tổ chức hoạt động hệ thống ngân hàng, vừa định
hướng chính sách tiền tệ. Từ năm 1990, sau khi hai pháp lệnh ngân hàng được ban hành
(pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước và pháp lệnh Ngân hàng – Hợp tác xã tín dụng –
11
Công ty tài chính ), hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển đổi từ một cấp sang hai cấp,
phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước và chức năng kinh
doanh tiền tệ của các tổ chức tín dụng, bước đầu thích ứng dần với hệ thống ngân hàng
của nền kinh tế thị trường. Chính sách tiền tệ đã được xác định thông qua xây dựng các
chính sách cụ thể: chính sách tín dụng tạo ra các công cụ huy động vốn, mở rộng cho vay
đến mọi thành phần kinh tế; chính sách lãi suất thực hiện thông qua xoá bỏ bao cấp vốn,
thực hiện chính sách lãi suất thực dương, điều chỉnh lãi suất cho vay phù hợp với sự biến
động của lạm phát...; chính sách quản lí ngoại hối và một số công cụ hỗ trợ khác. Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam hoạt động ngày càng có hiệu quả, thể hiện vai trò quản lí thông
qua: ban hành và hoàn thiện cơ chế chính sách, điều hành các chính sách ấy hoạt động có
hiệu quả; đổi mới hệ thống tổ chức của hệ thống ngân hàng theo hướng gọn nhẹ có khoa
1.2.2 Giai đoạn 1989 – 1991:
Các chính sách tiền tệ mới đã có ý nghĩa quyết định cắt được cơn sốt lạm phát cao.
Nhưng lạm phát ở mức trên 66% năm 1990 –1991 là không thể tránh khỏi vì nguồn lực
cho nền kinh tế đang ở trong quá trình chuyển đổi thích nghi hướng theo hệ thống kinh tế
thị trường. NHNN áp dụng công cụ tỷ giá hối đoái chính thức do NHNN công bố cộng
biên độ dao động. Đi đôi với các biện pháp thắt chặt chi tiêu tài chính, tiết kiệm chi và
giảm bội chi, việc tăng cường động viên tài chính và hoạt động của các ngân hàng nhằm
đảm bảo nguồn vốn cần thiết cho tăng trưởng kinh tế cũng được quan tâm thích đáng.
Đặc biệt cải cách hệ thống thuế, áp dụng chính sách thuế thống nhất đối với tất cả các
thành phần kinh tế từ năm 1990 đã có tác động tích cực trong mở rộng và tập trung kịp
thời nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
1.2.3 Giai đoạn 1992 – 1995:
Đây là giai đoạn nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, sự ổn định đã đi vào
chế độ dừng. Việc cung ứng tiền tệ cho bội chi ngân sách đã chấm dứt, cải cách thuế đã
thay đổi cơ bản thu chi ngân sách Nhà nước, các chính sách kinh tế đưa ra phú hợp vứi
nền kinh tế đã chuyển đổi sang cơ chế thị trường làm cân bằng tổng cung và tổng cầu
hàng hoá. Việc điều hành quản lý kinh tế tuy vậy vẫn ở dạng thô. Do vậy nền kinh tế
không tránh khỏi những giao động về lạm phát. Trong giai đoạn này có nhiều yếu tố
quyết định chiếu hướng thuận lợi cho chính sách tiền tệ. Chính phủ luôn chú trọng ổn
định kinh tế vĩ mô, quan tâm đến chính sách tiền tệ và giữ lạm phát ở mức thấp. Các công
cụ CSTT được sử dụng:
- Hạn mức tín dụng
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Chính sách chiết khấu
- Thực hiện cơ chế lãi suất thực dương, áp dụng khung lãi suất theo trần và sàn.
13
khó khăn cho các NHTM. Mặc dù công cụ này đã được áp dụng từ năm 1994 và đã có
14
những tác đọng hiệu quả nhưng từ quý II năm 1998 NHNN đã không áp dụng công cụ
này như là một công cụ thường xuyên trong điều hành chính sách tiền tệ.
- Từ quý II/1998 – T3/2000: dỡ bỏ hạn mức tín dụng.
- Dự trữ bắt buộc: theo quy chế dự trữ bắt buộc được ban hành theo Quyết định số
1991/1999/QD-NHNN1 năm 1997, NHNN quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng chung
cho các tổ chức tín dụng (6%_đối với tiền gửi ngắn hạn và không kỳ hạn;6% trung và dài
hạn). Đồng thời cũng qui định trả lãi cho dự trữ vượt quá, mức phạt nếu tổ chức tín dụng
thiếu khoản dự trữ bắt buộc. Những quy định này khuyến khích các tổ chức tín dụng chủ
đọng trong điều hành nguồn vốn kinh doanh và thực hiện dự trữ bắt buộc đúng như quy
định phù hợp mục tiêu hành chính sách tiền tệ.
- Tái cấp vốn: thông qua hình thức cho vay thế chấp chứng từ và cho vay thế chấp bằng
tiền gửi ngoại tệ của các NHTM, NHNN thực hiện tái cấp vốn ngắn hạn nhằm bù đắp
khó khăn tạm thời về thanh toán cho các NHTM. Năm 1998 lãi suất tái cấp vốn được
điều chỉnh từ 1% tháng lên 1,1% tháng. Năm 1999, cùng với việc giảm trần lãi suất cho
vay lãi suát tái cấp vốn cũng được giảm xuống mức 0,85% tháng.
- Lãi suất: duy trì lãi suất trần, xóa bỏ lãi suất sàn: thời kì này đánh dấu sự thay đổi căn
bản về điều hành lãi suất thích ứng với nhịp độ cải cách kinh tế của Việt nam. NHNN
điều hành chính sách lãi suất thông qua mức lãi suất trần theo thời hạn cho vay và khống
chế theo tỷ lệ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động là 0,35% tháng. Trong
phạm vi trần lãi suất và tỷ lệ chênh lệch lãi suất được công bố, các ngân hàng thương mại
được điều chỉnh linh hoạt các mức lãi suất cho vay và huy động vốn phù hợp với quan hệ
cung cầu về vốn và đặc điểm kinh doanh riêng.
- Nghiệp vụ thị trường mở: ngày 12/7/2000 nghiệp vụ thị trường mở do NHNN chủ trì đã
mở phiên giao dịch đầu tiên. Công cụ thị trường mở được coi là công cụ quan trọng nhất
của chính sách tiền tệ vì nó có ưu điêmr hơn hẳn các công cụ khác, cho phép NHNN chủ
động linh hoạt điều hành chính sách tiền tệ. Do vậy việc áp dụng công cụ thị trườnt mở
phát xuất hiện, đặc biệt là năm 2000. Mặc dù 2 tháng đầu năm 2000, lạm phát là 2,0%
nhưng cả năm giảm phát là 0,6%.
Như vậy, những năm vừa qua, CSTT và việc điều hành CSTT của NHNN Việt
Nam có thể coi là bàn tay hữu hiệu đẩy lùi và kiềm chế lạm phát. Lạm phát bị đẩy lùi
trước hết làm cho giá cả ổn định, đời sống của nhân dân nói chung và người lao động nói
riêng có xu hướng được cải thiện, ngoài ra nó còn tạo môi trường đầu tư lành mạnh cho
các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước.
1.3.2 CSTT với tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu kinh tế vĩ mô đồng thời cũng là mục tiêu của
CSTT. Kết quả đổi mới kinh tế trong thời gian qua đặc biệt là đổi mới CSTT được đánh
dấu bằng sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Bức tranh toàn cảnh trên được thể
hiện qua một số số liệu sau:
17
(Nguồn: Thời báo kinh tế VN 2000-2001)
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao và
tương đối ổn định. Có được kết quả như vậy là nhờ NHNN đã có những điều chỉnh, quyết
định đúng đắn, đặc biệt là về vấn đề lãi suất đã có những cải cách và điều chỉnh hợp lý.
Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định từ năm 1992 đến 1997 (tốc độ tăng trưởng bình quân
của nền kinh tế là 8,45% từ 1992 đến 1998). Kể từ 1991 trở đi, năm 1998 và 1999 tuy có
tăng trưởng, song ở mức thấp nhất và có xu hướng chậm lại ở một số ngành. Năm 2000,
tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 6,7%, vượt mức chỉ tiêu đầu năm do Quốc hội đề ra là 5,5 6% và cao hơn nhiều so với năm 1999 là 4,8%. Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp cả
năm tăng 15,5% (kế hoạch là 10,5 - 11%) giá trị sản xuất nông, lâm, ngư, nghiệp 4,9%
(kế hoạch là 3,5 - 4%), dịch vụ tăng 6% (kế hoạch là 5 - 5,5%). Tốc độ tăng trưởng kinh
tế năm 2000 tăng dần qua từng quý và với kết quả như vậy, năm 2000 nước ta đã chặn đà
giảm sút về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Bình quân GDP trên đầu người năm 2000 đạt
khoảng 400 USD/người.
(năm 1999 là 1500 USD/người) vượt qua ngưỡng 1700USD/người được xếp vào loại các
nước có nền ngoại thương phát triển.
- Góp phần ổn định tỷ giá hối đoái : Trong một thập kỷ qua, tỉ giá hối đoái nói chung ổn
định (có biến động nhưng ở mức có thể chấp nhận được). Kết quả đó là do những cố
gắng của Nhà nước và của hệ thống Ngân hàng Việt Nam trong quản lý và kiểm soát thị
trường. Sau hai quyết định số 64 và 65/1999/QĐ-NHNN7 của NHNN Việt Nam, cơ chế
tỷ giá được cải tiến một bước mới: về cơ bản NHNN chỉ công bố tỷ giá giao dịch bình
quân qua thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng và biên độ dao động rất thấp. Như vậy, tỷ
giá không còn là được điều chỉnh, mà là được hình thành trên thị trường. Thông qua can
thiệp và công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng,
NHNN đã đIều chỉnh tăng tỷ giá giữa đồng Việt Nam và Đôla Mỹ (USD) dần dần, đều
đặn qua các phiên giao dịch, không gây ra các cú sốc về tăng đột biến tỷ giá, gây bất lợi
cho các doanh nghiệp và thị trường. Trong các tháng cuối năm 2000, bình quân mỗi
phiên giao dịch tỷ giá tăng từ 5 đồng đến 7 đồng/USD và tỷ giá trên ba thị trường đã tăng
19
so với đầu năm như sau: thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng tăng 3,5%, thị trường mua
bán của các NHTM tăng 3,4%, thị trường tự do tăng 3,5%. Mặc dù tăng như vậy, nhưng
mức mất giá của đồng Việt Nam vẫn thấp hơn mức mất giá của các đồng tiền khác trong
khu vực so với đôla Mỹ. Bên cạnh đó, trong nhiều năm qua, NHNN Việt Nam đã không
ngừng đẩy mạnh và phát triển mối quan hệ với các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế và
với Ngân hàng các nước, nhằm tranh thủ các nguồn tài trợ, các nguồn vốn vay từ các tổ
chức này nhằm: một mặt tăng cường vốn đầu tư để khôi phục và phát triển kinh tế trong
nước, mặt khác, đẩy nhanh quá trình thiết lập và hội nhập với cộng đồng tài chính, tiền tệ
quốc tế của Việt Nam.
Ngoài những thành tựu kể trên, quá trình thực thi CSTT của hệ thống Ngân hàng
Việt Nam những năm qua còn góp phần đáng kể vào các quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo.
tế vẫn chưa có chuyển hướng mạnh mẽ.
- Những tồn tại của sử dụng lãi suất:
Những tháng đầu năm 1999, do đầu tư giảm sút, tăng trưởng kinh tế chững lại, để “ kích
cầu” NHNN Việt Nam quyết định giảm trần lãi suất đối với các TCTD. Nhưng sau nhiều
lần giảm lãi suất, đầu tư vẫn chưa tăng mạnh. Hơn nữa, việc NHNN liên tiếp điều chỉnh
lãi suất trong một khoảng thời gian ngắn (từ 1/06/1999 đến 4/09/1999 đã 3 lần giảm lãi
suất cho vay ), đã gây khó khăn cho các TCTD: chưa kịp ổn định việc hạ trần lãi suất lần
trước đã phải đối phó với lần sau. Từ đó nảy sinh hiện tượng: các TCTD thì e dè trong
việc huy động vốn (đặc biệt là vốn dài hạn), vì sợ lãi suất còn hạ nữa thì sẽ bị lỗ nhiều
hơn, còn về phía các tổ chức kinh tế thì cũng có ý chờ lãi suất hạ nữa thì mới xin vay
tiếp. Việc ban hành lãi suất cơ bản của NHNN Việt nam mới chỉ được thực hiện chưa đầy
một năm, vì thế mà những tồn tại của nó chưa bộc lộ ra bên ngoài và chưa được thống kê.
- Những tồn tại của sử dụng hạn mức tín dụng:
Công cụ hạn mức tín dụng chỉ phù hợp với quá trình chuyển đổi kinh tế trong giai đoạn
đầu, nhưng trong tương lai sẽ không còn phù hợp nữa. Nếu trong thời kỳ đầu của quá
trình đổi mới, công cụ này có tác dụng tích cực đối với việc kiểm soát cung tiền nhằm
đẩy lùi lạm phát, thì nay, hiệu quả của nó đã giảm hẳn. Vì vậy từ quý II/1998, NHNN đã
bỏ việc ấn định hạn mức tín dụng đối với các TCTD.
1.4.3 Sự yếu kém của hệ thống Ngân hàng.
Với chính sách và thành tựu đổi mới nền kinh tế, Việt Nam đã xây dựng được
những cơ sở quan trọng cho một nền tiền tệ và một hệ thống Ngân hàng đang được nhanh
chóng đổi mới, có tính bước ngoặt phù hợp với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, trong quá
trình đổi mới ngành Ngân hàng và quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, hệ thống Ngân
hàng Việt Nam đã bộc lộ những yếu kém bên trong về khuôn khổ pháp lý, hiệu quả quản
21
lý và kinh doanh đòi hỏi phải có những biện pháp cải cách mạnh mẽ và hết sức cấp bách
không thể trì hoãn được.
trong một số thời điểm đã tác động đến việc hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ
22
của Ngân hàng Nhà nước, chính sách tiền tệ đôi khi còn bị động và chậm phản ứng với
những thay đổi của thị trường.
- Quá nhiều mục tiêu trung gian: Ngân hàng Nhà nước chưa xác định rõ ràng mục tiêu
trung gian nên trong thực tế, nên bên cạnh Tổng phương tiện thanh toán (M2)64 đóng vai
trò là mục tiêu trung gian, việc điều hành các công cụ chính sách tiền tệ nhiều lúc hướng
vào kiểm soát tín dụng, lãi suất thị trường và tỷ giá. Với việc chính sách tiền tệ hướng
vào nhiều mục tiêu trung gian như vậy nên nhiều khi việc điều hành CSTT còn bị động,
hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ chưa cao, điều tiết thị trường không đạt được mục
tiêu mong muốn.
- Ngân hàng Nhà nước chưa xác định rõ được cơ chế truyền dẫn các tác động của chính
sách tiền tệ: Việc xác định rõ cơ chế truyền dẫn có ý nghĩa quan trọng trong quá trình
điều hành chính sách tiền tệ (CSTT). Cơ chế truyền dẫn rõ ràng cho phép Ngân hàng
Trung ương có các quyết sách đúng trong điều hành các công cụ CSTT để hướng tới mục
tiêu mong muốn. Trên thực tế, hiện nay Ngân hàng Nhà nước chưa có những phân tích
lượng hóa cụ thể mức độ tác động của sự thay đổi cung tiền của Ngân hàng Nhà nước
đến mục tiêu cuối cùng của CSTT, và sự thay đổi cung tiền này có tác động ở mức độ
nào đến tín dụng nền kinh tế, đến tổng phương tiện thanh toán, đến lãi suất hay tỷ giá....
Việc chưa xác định được cơ chế truyền dẫn đã hạn chế phần nào đến các quyết định của
Ngân hàng Nhà nước khi thị trường có những biến động.
- Hệ thống các tiêu chí tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước chưa thực sự rõ ràng để truyền tải
tác động của các quyết định chính sách đến mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian và
mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. Cụ thể: Tác động của Tổng phương tiện thanh
toán (M2) đến các biến số của nền kinh tế chưa rõ ràng. Diễn biến của tổng phương tiện
thanh toán M2 với ý nghĩa là mục tiêu trung gian không phù hợp với tốc độ tăng trưởng
kinh tế và mức lạm phát. Ngân hàng Nhà nước không hoàn toàn chủ động trong việc
kiểm soát M2, cũng như tốc độ tăng M2 thực tế; Tương quan giữa lượng tiền cung ứng
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong điều hành chính sách tiền tệ
- Tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước với vai trò là Ngân hàng Trung ương còn hạn
chế.
- Thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu phát triển ở mức độ thấp, thiếu năng động, thiếu
tính linh hoạt, chưa phản ánh được cung, cầu vốn, các công cụ thị trường còn rất ít và sử
dụng không hiệu quả nên hạn chế khả năng điều tiết tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước
thông qua các công cụ chính sách tiền tệ. Thị trường tiền tệ còn có sự phân tách, chưa có
sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngân hàng. Đồng thời, thái độ và khả năng liên kết hệ
thống của các TCTD để hỗ trợ nhau đảm bảo an toàn thanh toán còn yếu, thậm chí một số
ngân hàng lợi dụng lúc khó khăn để cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lãi suất lên cao. Vì
vậy, vào một số thời điểm, vốn khả dụng xét trên toàn hệ thống dư thừa, về nguyên tắc,
Ngân hàng Nhà nước cần thu hút tiền về. Nhưng trên thực tế, NHNN vẫn phải hỗ trợ vốn
cho một số TCTD để đảm bảo duy trì ổn định tiền tệ. Điều này đã làm cho NHNN gặp
khó khăn khi thực hiện vai trò điều tiết cuối cùng trên thị trường. Nói cách khác, thị
trường tiền tệ chưa đảm nhiệm có hiệu quả là phương tiện để Ngân hàng Nhà nước điều
24
chỉnh tổng lượng tiền tệ trong nền kinh tế, chưa tạo ra khả năng thanh toán cho các doanh
nghiệp, lãi suất trên thị trường tiền tệ chưa thể sử dụng làm lãi suất tham khảo để định giá
các tài sản nợ khác. Nguyên nhân của thực trạng trên là do hệ thống thông tin giữa các cơ
quan quản lý nhà nước với nhau, giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các doanh
nghiệp còn nhiều bất cập, qua đó ảnh hưởng nhiều đến các quyết định chính sách, đến
điều tiết thị trường tiền tệ. Cơ sở pháp lý cho các công cụ thị trường hoạt động còn chưa
được ban hành đầy đủ. Thiếu các quy định để tăng cường tính thanh khoản của các giấy
tờ có giá và hạn chế các ngân hàng thương mại phát hành các công cụ mới. Trình độ quản
trị của một số ngân hàng thương mại còn hạn chế. Thị trường ngoại tệ
liên ngân hàng còn thiếu các công cụ và những công cụ hiện có cũng chưa hoàn chỉnh.
Thị trường trái phiếu Chính phủ chưa tạo được đường cong lãi suất chuẩn để làm cơ sở
xác định các mức lãi suất cho các tài sản tài chính khác.
hai lần so với mức dự trữ ngoại hối vào cuối năm 2006, NHNN đã thực hiện can thiệp vô
hiệu thông qua thị trường mở và đã trung hòa khoảng 90% lượng tiền đưa ra. Tuy nhiên,
số liệu tiền tệ cho thấy, năm 2007, M2 vẫn tăng tới 46% và tín dụng tăng trên 50% so với
cuối năm 2006, điều này chứng tỏ khi nền kinh tế còn tình trạng Đô la hóa thì khả năng
kiểm soát tiền tệ khó khăn hơn nhiều.
Tăng trưởng cung tiền, tín dụng và lạm phát, 2000-2012
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước)
- Sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác chưa chặt chẽ, còn
thiếu một hệ thống thông tin kết nối giữa bộ phận dự báo thị trường và các Bộ, ngành
khác. Sự phối hợp với các Bộ, ngành để dự báo về kinh tế vĩ mô, luồng vốn đầu tư nước
ngoài làm chưa tốt. Hệ thống thông tin phục vụ việc hoạch định chính sách còn yếu và
chưa kịp thời. Trong thời gian gần đây, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành đã được cải thiện
hơn nhưng vẫn chưa thực sự đồng bộ. Sự hạn chế trong trao đổi thông tin giữa các Bộ,
ngành quản lý kinh tế vĩ mô như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Công