SƠ THẢO LẦN 1 ĐỀ ÁN MODULE TỔNG
QUAN DU LỊCH
Đề tài: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch MICE tại thành
phố Hà Nội
Giáo viên hướng dẫn: Ths. Phùng Thị Hằng
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Huyền
MSSV: CQ531691
Lớp: POHE A – K53
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
-Xu hướng phát triển du lịch MICE trên thế giới.
-Những bước phát triển mạnh mẽ của du lịch MICE đến Việt Nam nói chung,
thành phố Hà Nội nói riêng.
-Mặc dù đã có kinh nghiệm phát triển du lịch nhưng thành phố Hà Nội vẫn còn gặp
phải nhiều hạn chế trong việc phát triển du lịch MICE và chưa khai thác tốt loại
hình du lịch mang lại giá trị kinh tế cao này.
2. Mục đích
-Hiểu rõ khái niệm,đặc điểm và vai trò của du lịch công vụ (MICE).
-Nắm được bản chất, thực trạng phát triển du lịch công vụ trong thời gian gần đây
tại thành phố Hà Nội.
- Từ những hạn chế và thách thức đã tìm hiểu, đề xuất ra ra 1 số biện pháp, chính
sách, kiến nghị để mở rộng và cải thiện chất lượng du lịch công vụ tại thành phố
Hà Nội.
3. Đối tượng nghiên cứu
-Hoạt động du lịch MICE ở thành phố Hà Nội.
4. Phạm vi nghiên cứu
-Thời gian: 5 năm kể từ ngày xây dựng đề tài
1
cao hơn và các nhà tổ chức cũng ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn.
Sự phát triển kinh tế, xã hội cũng đồng nghĩ với việc nâng cao mức sống và điều
kiện sống, làm nảy sinh nhu cầu du lịch và làm gia tăng các loại hình du lịch, các
2
dịch vụ sản phẩm du lịch. Trong xã hội hiện đại, du lịch trở thành một nhu cầu của
xã hội, trở thành trào lưu và xã hội háo ngày càng cao.
Sự phát triển song hành của 2 nhu cầu: nhu cầu giao lưu, trao đổi kinh tế, văn hóa
và nhu cầu thưởng lãm, tìm hiểu, nghỉ dưỡng du lịch gặp nhau và kết hợp lại đã
hình thành nên 1 loại hình du lịch mới: du lịch MICE.
MICE là từ viết tắt của các chữ cái tiếng anh:
M - MEETING (Hội nghị)
I - Incentives (Khuyến mãi, khen thưởng)
C - Conferences/Conventions (Hội thảo, hội họp)
E - Exhibitions/Events (Triển lãm,sự kiện)
Do đó, loại hình du lịch MICE là loại hình kinh doanh du lịch kết hợp với việc cá
nhân hay các tổ chức tham dự các hội nghị (Meetings), tham gia các chương trình
khuyến mãi, khen thưởng (Incentives), dự hội thảo (Conferences/Conventions) và
tham gia vào các cuộc triển lãm, các sự kiện (Exhibitions/Events) về chính trị, văn
hóa, xã hội.
Các loại hình du lịch MICE
Meeting (Hội nghị)
2
1
Đây là loại hình du lịch kết hợp với việc gặp gỡ giữa các cá nhân hoặc tổ chức
nhằm trao đổi, thảo luận về những vấn đề hoặc chủ đề riêng biệt như thông tín mới
về 1 loại sản phẩm hoặc việc tìm ra giải pháp cho 1 vấn đề đang tồn tại…Hoạt
các người khác có quyền lợi hay công việc liên quan đến 1 công ty hoặc 1 tập
đoàn, quá đó động viên các thành tích, thúc đẩy sự đoàn kết, gắn bó giữa các cá
nhân với nhau và với công ty.
Ngày nay thì Incentives tour đã mở rộng hơn, ngoài những người làm việc trực tiếp
cho hãng còn có thể có những nhân viên thuộc các công ty con, đại lý hay các công
ty có liên quan và gắn bó mật thiết với lợi ích của hãng. Đó có thể là giám đốc các
chi nhánh hay trưởng phòng kinh doanh…Do đó, kích thước tập khách của
Incentive tour cũng vì thế được mở rộng hơn.
Các tour du lịch như vậy do hãng tài trợ là 1 hình thức khuyến khích, thưởng cho
nhân viên của mình về những đóng góp của họ cho sự phát triển củ công ty. Chính
đặc điểm như vậy mà số lượng khách tham gia thường khá lớn. Thông thường 1
tour du lịch lớn trung bình, số lương khách thường chỉ dao động từ 100 – 150
khách, kéo dài từ 4-5 ngày hoặc từ 8-9 ngày với những hoạt động mang tính tập
thể, được tổ chức trong nhà hoặc ngoài trời phụ thuộc vào thời tiết. Tuy vậy cũng
4
có những đoàn có thể lên tới 200 khách, hoặc cũng chỉ từ 30-50 khách, nhưng
những đoàn này thường không nhiều.
Conferences/Conventions (Hội thảo, hội họp)
3
Là loại hình du lịch kết hợp với hoạt động hội nghị, hội thảo giữa những chuyên
gia có trình độ ngang hàng nhằm trao đổi thông tin với nhau. Số lượng tham gia từ
khoảng 300-1500 người, thông thường khoảng 800 người, thời gian chuẩn bị
không dưới quá 2 năm. Thông thường, hoạt động này được tổ chức trước thềm các
sự kiện quốc gia, quốc tế lớn và bao gồm 2 loại:
-
dùng sản phẩm, hàng hóa cũng như lợi ích khi sử dụng các sản phẩm, hàng
-
hóa đó.
Event tour: là hoạt động tổ chức các chương trình có quy mô, tầm cỡ không
cố định và thu hút sự quan tâm, chú ý của một lượng lớn các đối tượng
khách nhau nhằm đạt được những mục đích cụ thể như xúc tiến, quảng bá
hay tôn vinh 1 giá trị nào đó…thông qua đó cũng đạt được những mục tiêu
về phát triển du lịch. Các hội thi, các chương trình liên hoan, chương trình
năm du lịch…là những ví dụ tiêu biểu của loại hình này.
Đặc điểm của du lịch MICE
Các yếu tố cấu thành
3
1
Tiêu chuẩn để các nhà tổ chức lựa chọn địa điểm tổ chức MICE:
-
Uy tín và danh tiếng của địa điểm tổ chức, của đơn vị đăng cai tổ chức
Vị trí, khoảng cách hợp lý, thuận tiện giao thông đi lại
Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ MICE tốt ( phòng họp, thiết bị phục
vụ tổ chức, cơ sở lưu trú, ăn uống, tham quam, giải trí, đội ngũ nhân viên
-
phục vụ tốt, cảnh quan thiên nhiên và văn hóa giàu bản sắc…)
An ninh và an toàn cao
Tổng chi phí cho chuyến đi và chi phí tại địa phương (nơi tổ chức MICE) ít
những người được mời, được những nhà tổ chức quan tâm một cách chu đáo.
Khách MICE là những khách sử dụng những dịch vụ cao cấp và có những yêu cầu
mang tính đa dạng bao gồm yêu cầu cả lợi ích kinh tế của tổ chức lẫn lợi ích hưởng
thụ cá nhân. Yêu cầu về lợi ích kinh tế là yêu cầu sau chuyến đi, nhà tổ chức phải
đạt được mục đích kinh tế của chuyến đi.Yêu cầu về lợi ích hưởng thụ cá nhân là
yêu cầu được gia tăng kiến thức, kinh nghiệm sống thông qua việc khám phá
những nét đặc trưng về con người, phong cách sống, cách làm việc, phong tục tập
quán, các món đặc sản của địa phương.Đây là yêu cầu được trải qua những cảm
xúc mới lạ tại những địa hình, phong cảnh thiên nhiên riêng biệt của điểm đến và
được săn sóc phục vụ chu đáo về tâm sinh lý sau những chuyến đi mệt mỏi.
Các đoàn khách MICE thường rất đông, từ vài trăm đến vài nghìn khách, với mức
chi tiêu cuả họ cao hơn rất nhiều so với khách tour bình thường. Do họ luôn đặt
phòng tại khách sạn 4-5 sao, sử dụng các dịch vụ cao cấp, các chương trình sau hội
nghị được thiết kế chuyên biệt theo yêu cầu. Vì vậy, cơ sở vật chất để đáp ứng
những yêu cầu của khách MICE phải đạt chất lượng cao
Vai trò, tác động của du lịch MICE đến:
Kinh tế, chính trị
MICE là một loại hình du lịch mới xuất hiện nhưng đã trở thành mũi nhọn phát
4
1
triển kinh tế ở nhiều quốc gia vì mang lại nguồn thu ngoại tệ dồi dào. Khách du
lịch MICE mang theo tiền từ nhiều quốc gia; điều này có hiệu quả giống như một
ngành xuất khẩu và du khách có trách nhiệm mang ngoại tệ vào giúp cải thiện cán
cân thanh toán. Bất kỳ một quốc gia nào đều mong muốn cải thiện nền công
7
nghiệp, hệ thống giao thông, nguồn năng lượng…của mình nhưng phải đối mặt với
nhu cầu ngoại tệ khổng lồ để chi trả cho việc nhập khẩu công nghệ. Du khách
quốc tế. Cũng nhờ có sự giao lưu văn hóa này mà các quốc gia có cái nhìn thân
thiện hơn về văn hóa của nước còn lại cũng như hòa nhịp theo xu hướng toàn cầu
hóa và hội nhập kinh tế
3
Hoạt động kinh doanh và phát triển du lịch
Ông Nguyễn Hữu Thọ (Tổng giám đốc công ty Sài Gòn Tourist) cho biết: “Chi
tiêu của khách MICE cao gấp 6 lần chi tiêu của khách du lịch thông thường. Chi
tiêu của họ không chỉ trong các hội nghị mà còn ở bên ngoài hội nghị. Theo một số
liệu nghiên cứu cho thấy, một du khách chi 1 đồng khi họ tham dự một sự kiện nào
đó của MICE, thì bên ngoài họ chi đến 15 đồng. Đó là chi tiêu ở nước phát triển,
còn những nước kém phát triển thì mức chi tiêu cao hơn là 25 đồng ở bên ngoài.”
Từ đó, chúng ta có thể thấy được tiềm năng và sự tác động của du lịch MICE đến
hoạt động kinh doanh và phát triển du lịch của 1 khu vực, cũng như là 1 nước. Phát
triển loại hình du lịch MICE sẽ cho phép:
-
Khai thác một cách hiệu quả về vị trí, cảnh quan thiên nhiên và văn hóa địa
-
phương.
Cho phép kinh doanh, khai thác du lịch liên tục suốt tuần và cả năm, góp
-
phần làm giảm tính mùa vụ trong du lịch.
Tăng cường và làm phong phú các sản phẩm du lịch địa phương.
Tăng cường thu hút khách quốc tế và nội địa (nhất là khách quốc tế).
Tăng cường thời gian lưu trú của du khách tại điểm đến.
Tăng doanh thu cho nghành du lịch địa phương.
quan trọng của Việt Nam.
2.1.2. Địa hình, cảnh quan, khí hậu
Hà Nội có hai dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi. Địa hình đồng bằng
chủ yếu thuộc địa phận Hà Nội cũ và một số huyện phía đông của Hà Tây (cũ),
chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên, nằm bên hữu ngạn sông Đà, hai bên sông
Hồng và chi lưu các sông. Phần lớn địa hình đồi núi thuộc địa phận các huyện Sóc
Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức. Một số đỉnh núi cao như: Ba Vì 1.281m; Gia Dê
10
707m; Chân Chim 462m; Thanh Lanh 427m; Thiên Trù 378m; Bà Tượng 334m;
Sóc Sơn 308m; Núi Bộc 245m; Dục Linh 294m…
Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc bộ với đặc điểm của khí hậu
nhiệt đới gió mùa ấm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít. Nằm
trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh nǎm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất
dồi dào và có nhiệt độ cao. Lượng bức xạ tổng cộng trung bình hàng nǎm ở Hà Nội
là 122,8 kcal/cm2 và nhiệt độ không khí trung bình hàng nǎm là 23,6ºC. Do chịu
ảnh hưởng của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn. Ðộ ẩm tương đối
trung bình hàng nǎm là 79%. Lượng mưa trung bình hàng nǎm là 1.800mm và mỗi
nǎm có khoảng 114 ngày mưa. Ðặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi
và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa.
Nhiệt độ trung bình mùa này là 29,2ºC. Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa
đông thời tiết khô ráo. Nhiệt độ trung bình mùa đông 15,2ºC. Giữa hai mùa đó lại
có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) cho nên Hà Nội có đủ bốn mùa
Xuân, Hạ, Thu, Ðông. Bốn mùa thay đổi làm cho thời tiết Hà Nội mùa nào cũng có
vẻ đẹp riêng. Mùa tham quan du lịch thích hợp nhất ở Hà Nội là mùa thu. Phần địa
hình của Hà Tây (cũ) sáp nhập với Hà Nội, có những đặc điểm riêng nên hình
thành những tiểu vùng khí hậu: vùng núi, vùng gò đồi và đồng bằng. Nhưng nói
chung sự khác biệt thời tiết và chênh lệch về nhiệt độ giữa các địa phương của Hà
đạt danh hiệu Top 10 điểm đến Du lịch hấp dẫn nhất Châu Á.
Khi Thủ đô được mở rộng, tiềm năng du lịch của Hà Nội vốn dồi dào càng thêm đa
dạng, phong phú với quy mô lớn hơn rất nhiều, đủ sức kéo dài thời gian lưu trú và
tăng mức chi tiêu của du khách. Nếu như trước đây, tour khám phá Thủ đô chỉ gói
gọn trong 1 ngày với những điểm đến là Hồ Tây, đền Quán Thánh, Hồ Gươm, đền
Ngọc Sơn, chợ Đồng Xuân, phố cổ, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Khu di tích Chủ
12
tịch Hồ Chí Minh, thăm bảo tàng và kết thúc là xem múa rối nước, thì nay hành
trình đó được kéo dài hơn đủ để du khách thỏa sức chiêm ngưỡng cả một vùng sơn
thủy hữu tình với Ao Vua, Thác Đa, hồ Ngải Sơn, Đồng Mô, Suối Hai, Vườn quốc
gia Ba Vì, núi Tản Viên, Thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm, chùa Hương…
Đầu tư phát triển sản phẩm du lịch theo hướng khai thác lợi thế văn hóa, sinh thái,
nhân văn của Thủ đô nghìn năm tuổi nhằm thu hút đông đảo du khách trong và
ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu là một trong những mục tiêu chính của ngành
du lịch Hà Nội trong thời gian tới. Bên cạnh việc tiếp tục phát triển du lịch
Homestay (một loại hình du lịch cộng đồng) tại Ba Vì, ngành sẽ tập trung phát
triển du lịch tại một số điểm di sản văn hóa, làng nghề, ẩm thực trên địa bàn thành
phố.
2.1.4. Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch
- Cơ sở lưu trú:
Bảng 1: Hệ thống các cơ sở lưu trú trên địa bàn Thành phố Hà Nội tính đến tháng
6/2011
Khách sạn
Đơn vị
Số cơ sở
Số phòng
5 sao
Khách sạn
2007
2010
13
2015
TP.HCM
6.500
Số lượng phòng
12.500
Hà Nội
5.100
14.500
25.500
Cả nước
29.000
49.000
92.000
thuộc hai quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng. Nhà hát Lớn của thành phố, nằm tại
số 1 phố Tràng Tiền, quận Hoàn kiếm do người Pháp xây dựng và hoàn thành vào
năm 1911. Ngày nay, đây là nơi biểu diễn các loại hình nghệ thuật cổ điển như
opera, nhạc thính phòng, kịch nói, cũng là trung tâm của các hội nghị, gặp gỡ. Nằm
tại số 91 phố Trần Hưng Đạo, Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội cũng là một địa
điểm biểu diễn quan trọng, nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thời
trang, các cuộc thi hoa hậu… cùng các hoạt động khoa học, hội thảo, hội nghị,
triển lãm.
Dành cho sân khấu kịch, thành phố có Nhà hát Tuổi trẻ tại số 11 phố Ngô Thì
Nhậm quận Hai Bà Trưng với 650 chỗ ngồi, Nhà hát Chuông Vàng tại 72 Hàng
Bạc quận Hoàn kiếm với 250 ghế ngồi, Nhà hát Kịch Việt Nam nằm trên con
đường nhỏ sau Nhà hát Lớn với 170 ghế. Các môn nghệ thuật truyền thống của
Việt Nam cũng có sân khấu riêng. Nhà hát Hồng Hà tại 51 Đường Thành dành cho
sân khấu tuồng. Nhà hát Cải lương Trung ương nằm tại 164 Hồng Mai, quận Hai
Bà Trưng. Môn nghệ thuật chèo cũng có riêng Nhà hát Chèo Việt Nam ở khu Văn
công Mai Dịch, huyện Từ Liêm, và từ năm 2007 thêm một điểm biểu diễn ở Kim
Mã, Giang Văn Minh. Rạp múa rối nước Thăng Long ở phố Đinh Tiên Hoàng, bờ
hồ Hoàn Kiếm, thường được nhiều khách du lịch tìm đến.
Hà Nội là thành phố có hệ thống bảo tàng đa dạng bậc nhất Việt Nam. Một phần
lớn trong số đó là các bảo tàng lịch sử, như Bảo tàng Lịch sử Quân sự, Bảo tang
Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Chiến thắng B52, Bảo tang Cách mạng… Các lĩnh
16
vực khác có thể kể tới Bảo tang Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tang Dân tộc học Việt
Nam, Bảo tang Phụ nữ Việt Nam. Tổng cộng, Hà Nội có hơn 10 bảo tàng, so với
hệ thống gần 120 bảo tang của Việt Nam. Năm 2009, tại Hà Nội có 32 thư viện do
địa phương quản lý với lượng sách 565 nghìn bản. Như vậy, số thư viện địa
phương của Hà Nội hiện nay lớn hơn Thành phố Hồ Chí Minh – 26 thư viện với
2.420 ngàn cuốn – nhưng lượng sách chỉ bằng khoảng một phần tư. Ngoài hệ
Mua sắm là thú vui của du khách là một yếu tố cấu thành trong sản phẩm du lịch,
đặc biệt là các đô thị du lịch như Hà Nội. Với lượng khách du lịch trong nước và
quốc tế đến Hà Nội ngày một tăng, cộng với sức tiêu thụ nội địa lớn, đã thúc đẩy
hoạt động thương mại phát triển và thu hút nhiều nhà đầu tư vào lĩnh vực này.
Hiện Hà Nội có 10 trung tâm thương mại lớn với 84 siêu thị các cửa hàng với đủ
các chủng loại hàng hóa phong phú phục vụ nhu cầu đa dạng của các tầng lớp nhân
dân và du khách đến Hà Nội. Chi tiêu cho mua sắm của khách chiếm tỷ trọng khá
lớn từ 15% đến 26% (nhất là khách Pháp, khách ASEAN, Châu Á và khách nội
địa). Phát triển du lịch làng nghề và mua sắm là một trong định hướng phát triển
du lịch Hà Nội. Hà Nội có nhiều các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thông như
đồ gốm sứ, thêu, thổ cẩm, sơn mài, khảm trai, tranh sơn dầu được khách du lịch ưa
chuộng, mua sắm làm quà tặng, đồ lưu niệm. Việc tổ chức nghiên cứu mẫu mã sản
phẩm, mạng lưới bán hàng gắn với việc bảo tồn nâng cấp phát triển các làng nghề
truyền thống thành những điểm du lịch thu hút khách thăm quan mua sắm đang
được Ngành Du lịch Hà Nội quan tâm khuyến khích đầu tư phát triển. Có thể kể
đến các trung tâm thương mại mua sắm lớn ở Hà Nội như: khu mua sắm dưới lòng
đất lớn nhất Đông Nam á Royal City, Vincom, Tràng Tiền Plaza, The garden…
2.1.5. Tiềm lực kinh tế, chính trị
18
Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi
con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu. Hà Nội là một trong những địa phương nhận
được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và 290 dự
án. Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14 khu
công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp.
2.1.6. Kinh nghiệm tổ chức hoạt động du lịch
Với cơ sở vật chất hiện có, với kinh nghiệm tổ chức các hội nghị quốc tế lớn như
Hội nghị Thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp, Hội nghị Thượng đỉnh các nước
Tên Khách
Sạn
Quy mô – Số lượng phòng họp
Dưới 20
chỗ
1
2
Grand Plaza
Melia
7
3
Horison
3
4
5
Sheraton Hanoi
Daewoo
3
7
Trên 100 chỗ
618
306
3
4
1 (1200 chỗ)
2 (500 chỗ)
1 (1000 chỗ)
2 (500 chỗ)
1 (400 chỗ)
1 (800 chỗ)
1 (400 chỗ)
1 (250 chỗ)
2
1 (600 chỗ)
323
2
6
4
1 (400 chỗ)
1 (600 chỗ)
1 (400 chỗ)
khách sạn có phòng hội nghị, hội thảo với quy mô sức chứa trên 1500 người, nếu
vượt quá thì sẽ hội nghị, hội thảo đó sẽ diễn ra tại nơi khác (như tại các trung tâm
hội nghị, trung tâm thi đấu thể thao). Điều này lại đưa đến khó khăn về việc tổ
chức đưa đón khách từ khách sạn đến nơi diễn ra hội nghị. Việc mở rộng về quy
mô sức chứa các phòng hội nghị, hội thảo tại các khách sạn là điều không thể thực
hiện được nên việc chúng ta có thể làm để cạnh tranh với dịch vụ hội họp của các
nước bạn trong khu vực và nâng cao vị thế của du lịch MICE Việt Nam trong lòng
khách MICE quốc tế đó là yếu tố nâng cao chất lượng dịch vụ và đầu tư vào yếu tố
con người – nguồn nhân lực.
Một điều đáng nói ở đây là phòng hội nghị có sức chứa lớn (như phòng Ballroom
của khách sạn Melia có sức chứa tối đa 1200 khách) nhưng mà số phòng khách sạn
lại không đủ để phục vụ nhu cầu lưu trú của khách (306 phòng). Khi có một hội
nghị, hội thảo có quy mô lớn diễn ra ở đây thì một phần khách MICE lại phải sang
lưu trú tại một khách sạn khác. Điều này làm tốn thời gian và ảnh hưởng đến tâm
lý của khách, cũng do lý do này mà một lượng lớn khách quốc tế MICE ban đầu đã
21
chọn Hà Nội làm điểm đến nhưng đã phải dời địa điểm tổ chức sang các quốc gia
lân cận khác. Đây cũng là một điểm khó khăn cho việc Hà Nội đăng cai các hội
nghị, hội thảo quốc tế có quy mô lớn.
Một số phòng hội nghị tại các khách sạn 5 sao tại Hà Nội:
Phòng hội nghị tại khách sạn Melia.
Khách sạn Melia trước năm 2010 là khách sạn có phòng hội họp quy mô lớn nhất
tại Hà Nội, có sức chứa đến 1200 khách (về sau có phòng hội nghị của khách sạn
Grand Plaza có sức chứa 1500 khách). Đó là phòng Ballroom tại tầng 2 của khách
sạn và phòng Thăng Long tầng 4.
Hình 1: Phòng Ballroom của khách sạn Melia (Hà Nội)
Phòng Ballroom có thể chia làm ba phòng nhỏ theo thứ tự là Room 1, Room 2 và
Khách sạn Daewoo là nơi đón tiếp các vị chủ tịch, bộ trưởng, thủ tướng chính phủ
như ngài Bill Clinton, HEV Putin, Ngài Hu Jin Tao và gần đây là ngài Luiz Inacio
Lula da silva, tổng thống của Brasil khi những người này đến thăm Việt Nam. Và
khách sạn cũng là khách sạn chính thức của hội nghị APEC 2006, cuộc thi hoa hậu
hoàn vũ 2008.
Phòng hội nghị khách sạn Nikko.
So với hai khách sạn trên thì khách sạn 5 sao Nikko có số phòng hội nghị ít hơn và
quy mô sức chứa cũng nhỏ hơn. Phòng hội nghị có sức chứa lớn nhất là 200 khách.
Tuy nhiên do nằm ở trong khu vực trung tâm thành phố nên khách sạn Nikko vẫn
được nhiều công ty, doanh nghiệp lựa chọn làm nơi tổ chức các hội nghị, hội thảo
quy mô nhỏ.
Hình 5: Sơ đồ phòng họp tại khách sạn Nikko (Hà Nội)
25