Nghiên cứu thực trạng kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện đa khoa ngô quyền hải phòng năm 2013 - Pdf 34

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn bệnh viện là các nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian nằm
viện và không hiện diện cũng như không ở giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập
viện [ 2 ]. Nhiễm khuẩn bệnh viện thường liên quan đến các thủ thuật xâm lấn,
căn nguyên gây nhiễm khuẩn bệnh viện có thể là vi khuẩn, vi rút, nấm hoặc ký
sinh trùng [ 8 ].
Nhiễm khuẩn bệnh viện không chỉ xảy ra ở các nước chậm phát triển mà
còn xảy ra ở khắp các bệnh viện trên thế giới. Tổ chức y tế thế giới ước tính ở
bất cứ thời điểm nào cũng có trên 1,4 triệu người trên thế giới mắc nhiễm khuẩn
bệnh viện. Nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra những hậu quả nặng nề, làm kéo dài
thời gian điều trị, tăng chi phí cho chăm sóc sức khỏe và là nguyên nhân quan
trọng dẫn tới tử vong. Tại Mỹ, hàng năm có khoảng 90.000 bệnh nhân tử vong
do nhiễm khuẩn bệnh viện, chi phí cho chăm sóc tăng 4,5 tỷ đô la Mỹ. Tại việt
nam, tuy chưa có được bức tranh đầy đủ về hiện trạng nhiễm khuẩn bệnh viện,
song những điều tra của các bệnh viện và của Bộ y tế cho thấy tỷ lệ nhiễm
khuẩn bệnh viện luôn dao động trong khoảng từ 3% đến 68% [3, 7, 9, 13 ]. Một
nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy: tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chiếm
6,7% thời gian nằm viện tăng gấp đôi và chi phí điều trị nhiễm khuẩn vết mổ
tăng 2,1 lần so với bệnh nhân không mắc nhiễm khuẩn vết mổ [14]. Nghiên cứu
của Lê Thị Anh Thư và cộng sự [31] cho thấy: chi phí điều trị cho một
trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ là 2,5 lần cao hơn chi phí cho bệnh nhân không
nhiễm khuẩn vết mổ.
Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là một trong những chỉ số quan trọng phản
ánh chất lượng chuyên môn của bệnh viện, liên quan đến sự an toàn của người
bệnh và nhân viên y tế, vì thế mang tính nhạy cảm về phương diện xã hội[11].
Khoảng 30% các nhiễm khuẩn bệnh viện có thể phòng ngừa được nếu thực hiện
tốt công tác kiểm soát nhiễm khuẩn.
Hoạt động của chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn đóng vai trò rất quan
trọng, góp phần ngăn chặn chống nhiễm khuẩn bệnh viện và mang lại hiệu quả


1.1. Khái quát chung về nhiễm khuẩn bệnh viện
1.1.1 Khái niệm nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiễm khuẩn bệnh viện là những nhiễm khuẩn mắc phải ở bệnh viện, loại
trừ những nhiễm khuẩn ở cơ sở y tế tư nhân, mà sự phòng bệnh cũng dựa trên
nguyên tắc như ở bệnh viện. Để giúp phân biệt NKBV với nhiễm khuẩn ở cộng
đồng trong trường hợp không rõ nguồn gốc nơi bị nhiễm khuẩn hoặc trong
trường hợp không xác định được thời gian ủ bệnh chúng ta coi như những nhiễm
khuẩn mắc phải sau 48 giờ nhập viện là NKBV. Một phần NKBV là do một số
loại vi khuẩn kháng với nhiều loại kháng sinh, những loại vi khuẩn này xuất
hiện trong điều kiện môi trường bệnh viện kém vệ sinh, đòi hỏi phải được điều
trị để làm giảm tỷ lệ tàn tật và tỷ lệ tử vong.
1.1.2. Lịch sử của nhiễm khuẩn bệnh viện
Từ thế kỷ XVIII, các thầy thuốc lâm sàng đã nhận thấy có mối liên quan
giữa sự tăng tỷ lệ tử vong với mức độ bệnh của những bệnh nhân khi nằm điều
trị tại các cơ sở chữa bệnh chật chội, thiếu những điều kiện vệ sinh cần thiết. Từ
đầu thế kỷ XIX Oliver W. Homme và Ignaz Philipp Semmelwei đã khẳng định
có sự lây truyền bệnh nhiễm khuẩn trong khu điều trị sản khoa là qua tay thầy
thuốc khi thăm khám bệnh nhân và qua môi trường bệnh viện. Từ đó họ đưa ra
một số biện pháp nhằm ngăn ngừa sự lây truyền bệnh bằng cách như: rửa tay
trước khi thăm khám hoặc tiến hành thủ thuật, vệ sinh buồng bệnh, cách ly bệnh
nhân với người nhà...
Trong lịch sử chống các bệnh nhiễm khuẩn nói chung và nhiễm khuẩn
bệnh viện nói riêng trước tiên phải kể đến Lui Pasteus, người đã có phát hiện về
sự có mặt của vi khuẩn, đặt nền móng cho môn vi sinh học đồng thời phương
pháp tiệt trùng do ông đề xướng vẫn còn được ứng dụng đến ngày nay. Trên cơ
sở phát minh của L.Pasteus, nhà phẫu thuật Anh Josep Lisler đã nghiên cứu và
kết luận nhiễm khuẩn vết mổ sau phẫu thuật cũng là do vi khuẩn. Ông là người



khuẩn bệnh viện, đặc biệt là nhiễm khuẩn sau phẫu thuật cũng được quan tâm


5
nghiên cứu như: lây nhiễm trong phẫu thuật do dụng cụ y tế, do không khí ô
nhiễm, do quần áo và đồ dùng bệnh nhân, nhất là do các thủ thuật đặt catheter
tĩnh mạch, đặt ổng dẫn lưu, nội khí quản. . .
- Về hậu quả kinh tế: vấn đề này được xem xét trong nhiều năm gần đây khi mà
các căn nguyên vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện ngày một kháng nhiều với
các kháng sinh; việc điều trị trở nên khó khăn và tốn kém.
- Nhiễm tụ cầu vàng là nhiễm khuẩn thường gặp ở các bệnh viện. Theo kết quả
nghiên cứu mới của các nhà khoa học thuộc trường đại học tổng hợp
Northwestem (Mỹ) nhiễm khuẩn ảnh hưởng 1% bệnh nhân nằm viện kéo dài
thời gian nằm viện gấp 3 lần so với bệnh nhân không bị nhiễm và có nguy cơ tử
vong cao gấp 5 lần (l1,2% so với 2,3%). Nếu con số này được áp dụng trên toàn
nước Mỹ thì chi phí phát sinh cho các trường hợp bị nhiễm tụ cầu vàng sẽ tới 9,5
triệu USD. Các nhà khoa học khuyến cáo để giảm thiểu nguy cơ nhiễm tụ cầu
vàng cần thực hiện một số biện pháp như: rửa tay thường xuyên đặc biệt bàn tay
phẫu thuật, sử dụng kháng sinh tại chỗ và cách ly những bệnh nhân nghi ngờ
[29].
1.1.4. Một số loại vi khuẩn thường gặp trong nhiễm trùng bệnh viện
1.1 4.1. Staphylococus
- Các Staphylococcus phân bố rộng rãi trong đất, nước, không khí, đồ dùng…
Chúng có thể phát triển dễ dàng trong các điều kiện dinh dưỡng, chịu được tác
dụng của các hoá chất khử trùng, tẩy uế ở nồng độ diệt khuẩn [10]. Các
Staphylococcus xuất hiện ngay sau khi sản phụ mới đẻ và sống hội sinh trên da
người ở các hốc tự nhiên đặc' biệt là mũi, vùng quanh hậu môn sinh dục. trong
một tập thể khoảng 20% số người mang tụ cầu trên da lành và khoảng 60% ở
mũi; tại ruột tụ cầu có khoảng 30% ở người lớn và 80% trẻ sơ sinh [10]. Tuy
nhiên sự có mặt của tụ cầu trong phân không có ý nghĩa bệnh lý. Từ các vị trí cư

khuẩn sản xuất được men Lartamasa phổ rộng như E.coli, Entrobacter thường
rất hay gây nhiễm khuẩn tiết niệu:
- E. coli gây bệnh chủ yếu ở đường tiết niệu, vết mổ đặc biệt là trong các phẫu
thuật về ổ bụng.


7
- Các chủng Klebsiella gây nhiễm khuẩn bệnh viện có khả năng kháng lại các
kháng sinh thuộc nhóm Lactam và đặc biệt với cả các Cephalosporin thế hệ III,
IV. Theo Lecoutour và Grandbastien.B (Pháp) thì các chủng này chiếm 1,6% số
chủng gram âm và 16% số chủng Klebsiella phân lập được. Các Klebsiella còn
có khả năng đề kháng cao với các kháng sinh thuộc nhóm Aminozit (74% kháng
với Amikacin, 95% kháng với Gentamycin) và có tới 9-10% kháng với
Fluoroquinolon.
- Proteus là loại vi khuẩn gây bệnh cơ hội. Trong nhiễm khuẩn bệnh viện người
ta thường gặp Proteus gây nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn đường mật, đường
tiết niệu, nhất là các nhiễm khuẩn ngược dòng do đặt Kehr, thông niệu đạo tán
sỏi bàng quang, dẫn lưu. . . .
- Citrobacter: loại vi khuẩn này thường xuyên có mặt ở đường tiêu hoá và cũng
là vi khuẩn gây bệnh cơ hội. Chúng có thể gây nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn
tiết niệu.
- Moraxella: là loài vi khuẩn sống khắp nơi trong tự nhiên. Trên cơ thể người vi
khuẩn này sống cùng với các vi khuẩn đường ruột, đường hô hấp. Moraxella gây
bệnh cơ hội nhất là khi cơ thể giảm sức để kháng như sau mổ, sau chấn thương
nặng. Đường vào của vi khuẩn rất đa dạng những thông thường hơn cả là qua
các thủ thuật ngoại khoa, các thao tác tiêm truyền, đặt catheter, ống dẫn lưu dẫn
đến nhiễm khuẩn tại chỗ, nhiễm khuẩn huyết, viêm não, áp xe nội tạng, viêm
đường niệu, viêm đường mật.
- Gần đây người ta còn lưu ý nhiễm khuẩn do sử dụng kháng sinh bừa bãi tạo ra
sự chọn lọc làm vi khuẩn dễ dàng phát triển.

Với hầu hết các vi khuẩn gây bệnh đều có mặt trong nhiễm khuẩn bệnh viện.
Những vấn đề vệ sinh bệnh phòng, vấn đề vô trùng, tiệt trùng dụng cụ y tế, dụng
cụ sinh hoạt tác động trực tiếp lên bệnh nhân, đến thủ thuật, phẫu thuật có ảnh
hưởng rất lớn đến nhiễm khuẩn bệnh viện. Hy vọng rằng nghiên cứu này sẽ
đóng góp một phần nhỏ trong việc phòng ngừa nhiệm khuẩn bệnh viện nhất là
trong lĩnh vực ngoại khoa.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1. Sát khuẩn (Antisepsic): thao tác trên những mô sống, ở đó kết quả nhất
thời cho phép một sự loại bỏ hoặc giết chết vi khuẩn hoặc làm bất hoạt virus tùy


9
thuộc vào sự gắn kết của hóa chất với vi khuẩn. Kết quả của động tác này là làm
giảm thiểu vi khuẩn hiện diện ở cùng thao tác.
1.2.2. Làm sạch (Cleaning): là quá trình sử dụng tác dụng cơ học để làm sạch
những tác nhân nhiễm khuẩn và chất hữu cơ bám trên những dụng cụ mà không
nhất thiết phải tiêu diệt được hết các tác nhân nhiễm khuẩn.
1.2.3. Khử nhiễm (Decontamination - Pre-disinfection): là bước đầu tiên xử lý
hiệu quả trên những đồ vật và dụng cụ bẩn với những chất hữu cơ với mục đích
làm giảm cộng đồng vi khuẩn và dễ dàng cọ rửa về sau. Khử nhiễm cũng là
nhằm mục đích bảo vệ nhân viên y tế khỏi làm thao tác xử lý dụng cụ, và nó cho
phép tránh được ô nhiễm vào môi trường.
1.2.4. Khử khuẩn (Disinfection): là quá trình làm giảm thiểu số vi khuẩn gây
bệnh trên dụng cụ hoặc trên da tới mức không gây nguy hiểm tới sức khỏe, quá
trình khử trùng không diệt nha bào vi khuẩn.
1.2.5. Khử khuẩn mức độ cao (High level disinfectant): Sử dụng tác nhân hóa
học dạng dung dịch có thể tiêu diệt số lượng lớn vi khuẩn, vi rút và một số bào
tử vi khuẩn đối với bào tử vi khuẩn phải có một số điều kiện nhất định.
1.2.6. Tiệt khuẩn (Sterilization): Tiêu diệt tất cả vi sinh vật sống bao gồm cả
bào tử vi khuẩn.

càng lâu thì càng bất lợi. Trong những mối liên quan như vậy thì khâu tiệt trùng,
vô trùng trong các thủ thuật liên quan đến nhiễm khuẩn cũng như vấn đề vệ sinh
khoa phòng là vô cùng quan trọng. Nếu một bệnh viện mà cơ sở vật chất yếu
kém, điều kiện vệ sinh thông khí kém, mật độ người cao (bao gồm cả bệnh nhân
và các nhân viên y tế), các dụng cụ y tế chưa đảm bảo vô trùng hay chưa thực
hiện tốt các khâu vô trùng khi thực hiện phẫu thuật, thủ thuật thì nhiễm khuẩn
bệnh viện là điều khó tránh khỏi.
1.4.3. Hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiễm khuẩn bệnh viện là một vấn đề nghiêm trọng khi xét về mặt hậu
quả; đó là tử vong, là sự thiệt hại về sức khoẻ và kinh tế. Nhiễm khuẩn bệnh
viện là một trong 10 nguyên nhân tử vong hàng đầu ở mỹ. Kết quả nghiên cứu
trên 42 bệnh viện của Mỹ cho thấy nhiễm khuẩn bệnh viện là nguyên nhân trực
tiếp của 7,4% và là nguyên nhân thuận lợi của 6,3 % các trường hợp tử vong. Tử
vong đặc biệt cao ở các bệnh nhân điều trị tại các khoa hồi sức cấp cứu bị nhiễm
khuẩn hô hấp và nhiễm khuẩn huyết. Tử vong của nhiễm khuẩn bệnh viện do
các chủng vi khuẩn kháng thuốc cao gấp 2 lần những chủng vi khuẩn nhạy cảm.
Bảng sau nêu lên tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn bệnh viện ở các dạng nhiễm
khuẩn khác nhau và thời gian kéo dài điều trị do các nhiễm khuẩn đó.


13
Tử vong của các dạng nhiễm khuẩn bệnh viện:
Loại nhiễm khuẩn

Tỷ lệ (%) tử vong liên quan
tới nhiễm khuẩn bệnh viện
Trực tiếp
Gián tiếp

Số ngày trung bình

0,7

1

Nhiễm khuẩn khác

0,8

2,5

4,8

0,9

2,7

4,0

Tổng cộng

Việc kéo dài thời gian điều trị không chỉ kéo theo chi phí về điều trị mà
còn dẫn đến việc giảm khả năng thu nhận bệnh nhân vào điều trị tại các khoa hồi
sức cấp cứu tới 20%. Các chi phí về điều trị do nhiễm khuẩn bệnh viện tuỳ theo
loại nhiễm khuẩn, điều kiện từng nước và tuỳ nghiên cứu của các tác giả khác
nhau. Chi phí cho các trường hợp nhiễm khuẩn huyết hay nhiễm khuẩn hô hấp là
rất lớn và các chi phí điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn do vi khuẩn đa kháng
thuốc lớn hơn là do vi khuẩn nhạy cảm với kháng sinh. Theo Wlkerield chi phí
tăng thêm xê dịch từ 700USD trong trờng hợp không kéo dài ngày điều trị, tới
6.300USD cho các trường hợp kéo dài ngày điều trị; trong đó 71 % là chi phí
gián tiếp, 21 % cho kháng sinh và 2% cho các xét nghiệm.

Nội, bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí, bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện
Chợ rẫy, bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp.
Ở Việt Nam, thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn đã có từ lâu nhưng chưa
thực sự được hệ thống hoá lại thành một lĩnh vực có tính chất chuyên môn sâu.
Công tác kiểm soát nhiễm khuẩn được chỉ đạo bằng các quy chế chuyên môn.
Cho đến năm 1997, Bộ y tế chính thức đưa Quy chế chống nhiễm khuẩn (nay là
thông tư kiểm soát nhiễm khuẩn) vào trong quy chế bệnh viện và xây dựng khoa
kiểm soát nhiễm khuẩn trong hệ thống tổ chức của bệnh viện, từ đó thực hành
kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện mới thực sự được các bệnh viện quan tâm. Vì
bệnh viện là nơi tập trung người bệnh tại một nơi để chữa bệnh có ưu điểm rất
cơ bản là tập trung được các nhà chuyên môn và kỹ thuật cao để tiến hành công
việc điều trị và chăm sóc. Tuy nhiên, chừng nào người bệnh còn được tập hợp.
lại trong một ngôi nhà chung để điều trị thì chừng đó còn nguy cơ nhiễm khuẩn


15
bệnh viện. Ngày nay, kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện và ngăn ngừa sự trỗi dậy
của các dòng vi khuẩn kháng đa kháng sinh đang là một trong những thách thức
của những người quản lý, cũng như những thầy thuốc và điều dưỡng lâm sàng.
Bệnh viện càng ứng dụng công nghệ khoa học tiên tiến vào lĩnh vực điều
trị và chăm sóc lâm sàng như ghép các phủ tạng, phẫu thuật tim hở, nối các
mạch máu... càng đòi hỏi phải nâng cao chuẩn mực về kiểm soát nhiễm khuẩn.
Bệnh viện là trung tâm nghiên cứu khoa học và bảo vệ sức khoẻ, nên sẽ không
thể chấp nhận được nếu bệnh viện chứa đựng các nguy cơ tiềm tàng gây nhiễm
khuẩn chéo có hại cho sức khoẻ người bệnh, nhân viên y tế và môi trường.
Khi bệnh viện đã bắt đầu quan tâm và đầu tư cho lĩnh vực này thì một số
vấn đề mấu chốt nảy sinh là làm thế nào để có thể thực hiện được quy chế kiểm
soát nhiễm khuẩn tốt nhất? Tổ chức, phương tiện con người như thế nào là hợp
lý? bắt đầu từ đâu?
1.5.1.Hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện tập trung vào các trọng

+ Phát hiện, nhận báo cáo các trường hợp nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc
y tế từ các khoa lâm sàng và kết quả nuôi cấy vi khuẩn từ khoa vi sinh (xét
nghiệm) và đề xuất các giải pháp can thiệp kịp thời.
+ Theo dõi và báo cáo các vi khuẩn kháng thuốc.
- Kiểm tra, đôn đốc cán bộ, viên chức, hợp đồng lao động, giáo viên, học sinh
sinh viên, người bệnh, người nhà người bệnh và khách thực hiện đúng quy trình
thực hành kiềm soát nhiễm khuẩn và đề xuất các biện pháp khắc phục nhằm bảo
đảm vô khuẩn trong khám, chữa bệnh.
- Tuyên truyền, huấn luyện, nghiên cứu khoa học và tham gia chỉ đạo tuyến dưới
về công tác kiểm soát nhiễm khuẩn.
- Quản lý các hoạt động khử khuẩn, tiệt khuẩn, giặt là, cung cấp dụng cụ vô
khuẩn hóa chất sát khuẩn, khử khuẩn, đồ vải và vật tư tiêu hao phục vụ công tác
kiểm soát nhiễm khuẩn trong toàn đơn vị.
- Theo dõi, đánh giá, báo cáo phơi nhiễm và tai nạn rủi ro nghề nghiệp liên quan
đến tác nhân vi sinh vật của nhân viên y tế.
- Tham gia cùng với khoa vi sinh, khoa dược và các khoa lâm sàng theo dõi vi
khuẩn kháng và sử dụng kháng sinh hợp lý.


17
- Phối hợp với các khoa, phòng, các thành viên mạng lới kiểm soát nhiễm khuẩn
giải quyết các vấn đề tới công tác kiểm soát nhiễm khuẩn.
1.5.3.Hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện tại Việt nam
Ngày 01/4/2003 Bộ Y tế ban hành tài liệu hướng dẫn quy trình kiểm soát
nhiễm khuẩn bệnh viện xây dựng mô hình tổ chức kiểm soát nhiễm khuẩn ở
Việt Nam , như sau:
1.5.3.1. Ban chỉ đạo kiểm soát nhiễm khuẩn Bộ Y tế
Ban chỉ đạo kiểm soát nhiễm khuẩn Bộ Y tế cần có thành phần gồm: lãnh
đạo Bộ là tưrởng ban và thành viên là đại diện các Vụ liên quan của Bộ y tế. Ban
có tổ thư ký giúp việc. Có các nhiệm vụ:

- Tư vấn cho giám đốc bệnh viện và các khoa về những vấn đề liên quan tới thực
hành kiểm soát nhiễm khuẩn.
- Tham gia huấn luyện nhân viên bệnh viện về thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn
- Tham gia đánh giá hiệu quả chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh vẹn.
1.5.5.Mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn:
1.5.5.1. Tổ chức:
- Bao gồm các thành viên đại diện các khoa lâm sàng và cận lâm sàng; mỗi khoa
cử ít nhất một bác sĩ hoặc một điều dưỡng tham gia mạng lưới kiểm soát nhiễm
khuẩn. Các thành viên này phải thường xuyên được huấn luyện cập nhật chuyên
môn về kiểm soát nhiễm khuẩn.
1.5.5.2. Chức năng:
- Giúp lãnh đạo khoa về công tác kiểm soát nhiễm khuẩn; tham gia, phối hợp
với khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn trong việc giám sát và tổ chức thực hiện Quy
chế kiểm soát nhiễm khuẩn
1.5.5.3. Nhiệm vụ:
- Tham gia, phối hợp tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại đơn
vị
- Tham gia kiểm tra, giám sát, đôn đốc các cán bộ, nhân viên tại đơn vị thực
hiện các quy định, quy trình chuyên môn liên quan đến kiểm soát nhiễm khuẩn.


19
Mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện Đa Khoa Ngô Quyền
Chủ tịch Hội đồng
(Lãnh đạo bệnh viện)

Thư ký thường trực
Trưởng khoa KSNK và ĐD chuyên trách KSNK

Mạng lưới KIỂM SOÁT NK tại các khoa

khoa,
phòng
khác

1.5.6.Công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện tại Bệnh viện Đa Khoa Ngô
Quyền HP
- Hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn ở bệnh viện Đa Khoa Ngô Quyền trong
nhiều năm qua đã được Ban lãnh đạo Bệnh viện đặc biệt chú ý, việc triển khai
và tổ chức thực hiện các qui chế về kiểm soát nhiễm khuẩn được các khoa,
phòng trong bệnh viện thường xuyên quan tâm. Đây là một trong những tiêu chí
chính trong việc đánh giá xếp loại thi đua và trở thành một trong những hoạt
động bắt buộc; việc tổ chức tự đánh giá, định kỳ xét nghiệm, huấn luyện kiến
thức và kỹ năng kiểm soát nhiễm khuẩn cho nhân viên y tế. Điều này thể hiện
qua tỉ lệ bệnh nhân điều trì khỏi ngày một tăng đồng thời rút ngắn được thời
gian điều trị trung bình tại bệnh viện.
- Thực hiện qui định trong qui chế bệnh viện do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành, từ
năm 2008 bệnh viện đã xây dựng mô hình khoa chống nhiễm khuẩn (nay là khoa


20
kiểm soát nhiễm khuẩn) và triển khai mạng lới kiểm soát nhiễm khuẩn trong
toàn bệnh viện. Về tổ chức biên chế, khoa kiểm soát nhiễm khuẩn gồm có 6 cán
bộ gồm 2 thạc sĩ y học, 1 điều dưỡng trung học, 1 dược sĩ trung học, 2 hộ lý.
Hoạt động của khoa do trực tiếp ban giám đốc điều hành với cơ cấu gồm 4 tổ.
Các trang thiết bị chủ yếu gồm máy giặt, bàn là, máy vắt, máy sấy, nồi hấp và xe
đẩy. Khoa được bố trí khép kín 1 chiều.
Cơ cấu gồm 4 tổ: Hành chính giám sát, khử khuẩn tiệt khuẩn, giặt là, quản lý
chất thải
Giám sát:
Chuẩn bị  Thực hiện  Kết luận  Đề xuất

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu:
Công thức:

n  Z12α x
2

s

2

2

n: Cỡ mẫu nnghiên cứu.
s: Độ lệch chuẩn.
Z12 α : Hệ số tin cậy.
2

Δ: Sai số ước lượng.
Tuy nhiên số lượng nhân viên y tế có hạn do đó chúng tôi quyết định chọn
mẫu thuận tiện gồm:
- Nước sinh hoạt (nước rửa tay nhân viên, rửa dụng cụ): tổng số mẫu xét nghiệm
là 15 mẫu.
- Xét nghiệm không khí: tổng số mẫu xét nghiệm là 15 mẫu.
- Dụng cụ y tế sau khử khuẩn - tiệt khuẩn: tổng số mẫu xét nghiệm là 45 mẫu


22
- Bàn tay phẫu thuật viên, kỹ thuật viên (sau khi đã thực hiện thao tác rửa tay):
tổng số mẫu xét nghiệm là 30 mẫu (mỗi khoa, phòng xét nghiệm 2 mẫu).

23
- Thiết kế xây dựng các phòng phẫu thuật, thủ thuật.
- Trang thiết bị, hóa chất tại các khoa, phòng.
- Chức vụ, tuổi và giới của nhân viên y tế
- Nghề nghiệp, thâm niên công tác của nhân viên y tế
- Nghề nghiệp, tuổi, giới của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân
- Phỏng vấn kiến thức chung về kiểm soát nhiễm khuẩn với nhân viên y tế.
- Đặc điểm chung nghiên cứu tại thời điểm giám sát tuân thủ vệ sinh bàn tay, vết
mổ, nhiễm khuẩn huyết, hô hấp, tiết niệu.
- Số lượng vi khuẩn trong không khí phòng phẫu thuật, thủ thuật.
- Nấm mốc có trong không khí phòng phẫu thuật, thủ thuật.
- Xét nghiệm vi sinh dương tính ở dụng cụ y tế.
- Xét nghiệm vi sinh dương tính ở bàn tay phãu thuật viên, nhân viên y tế.
- Xét nghiệm mẫu nước rửa tay nhân viên.
- Thực trạng của cán bộ trong mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn.
- Định kỳ công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các phòng.
2.5. Các tiêu chuẩn và kỹ thuật được sử dụng trong nghiên cứu
2.5.1. Kỹ thuật xét nghiệm vi khuẩn trong không khí
- Các mẫu không khí sẽ được lấy trong điều kiện hệ thống thông gió đang hoạt
động bình thường.
- Đặt 5 đĩa môi trường thạch máu và 5 đã Saubauraud đã được kiểm tra vô
khuẩn vào vị trí giữa phòng và 4 góc, đặt cách nền nhà 1m. Mở nắp đĩa 10 phút.
Sau đó đậy nắp đĩa lại.
- Ủ các đã môi trường vào tủ ấm 370C. Để qua đêm.
- Đếm số lượng khuẩn lạc mọc trên đĩa thạch
- Đo đường kính của đĩa petri
+ Nhân số lượng khuẩn lạc với hằng số tương đương với đường kính đã petri từ
đó ta tính được số lượng vi khuẩn có trong lm3 không khí.
2.5.2. Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh vật trong nước
- Lấy mẫu nước sau khi cho vòi nước chảy tự nhiên 3-5 phút.

- Những trường hợp tháo vòng băng khó khăn thì phải dùng kéo cắt các vòng
băng ở vị trí xa vết thương rồi tháo dần từng lớp.


25
- Băng gạc tháo ra cho ngay vào thùng bẩn: có một túi nylon nhỏ cô lập băng
bẩn cho mỗi bệnh nhân.
- Rửa và băng vết thương
Đối với vết thương sạch.
- Vết thương mới khâu:
+ Dùng dung dịch nước muối sinh lý rửa bên ngoài chỗ da lành.
+ Chính giữa vết thương dùng betadin hoặc dung dịch dễ bay hơi để rửa.
+ Sát khuẩn hay rửa theo hình xoắn ốc từ trong ra ngoài.
+ Rửa bằng cách thấm nhẹ, không nên cọ xát mạnh làm chảy máu các tổ
chức ở vết thương.
+ Gắp gạc miếng đặt vào vết thương.
+ Dùng băng băng lại.
- Vết thương không khâu:
+ Dùng kẹp kocher hoặc kẹp phẫu tích gắp gạc thấm nước muối sinh lý
rửa ngoài vùng da lành, rửa nhiều lần, rửa đến khi sạch.
+ Dùng gạc khác tẩm betadin rửa từ chính giữa vết thương ra ngoài mép
vết thương, rửa đến khi sạch.
+ Gắp gạc hoặc bông kho thấm nhẹ trên mặt vết thương.
+ Gắp gạc miếng đặt vào vết thương.
+ Dùng băng băng lại
Vết thương nhiễm khuẩn.
- Vết thương có khâu: Sau khi tháo băng và gạc trên vết thương, quan sát thấy
vết thương có dấu hiệu: Sưng nề, tấy đỏ, nốt chỉ rất căng:
+ Dùng dung dịch nước muối sinh lý rửa phía ngoài vết thương.
+ Dùng kẹp kocher hoặc kẹp phẫu tích không mấu và một kéo cong nhọn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status