Quyền tiếp cận công lý ở việt nam hiện nay - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THẾ ANH

QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THẾ ANH

QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và Lịch sử
Nhà nước và pháp luật
Mã số
: 60.38.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Giáo viên hướng dẫn khoa học:

GS.TSKH Đào Trí Úc


7

1.1.

Khái niệm công lý

7

1.1.1.

Khái niệm công lý trong lịch sử tư tưởng nhà nước và pháp luật

7

1.1.2.

Mối liên hệ giữa công lý với một số khái niệm khác

19

1.2.

Khái niệm và nội dung quyền tiếp cận công lý

23

1.2.1.

Khái niệm quyền tiếp cận công lý


Việc áp dụng tập quán pháp trong bảo đảm thực hiện quyền tiếp
cận công lý

39
39
44

2.2.

Hệ thống các bảo đảm quyền tiếp cận công lý

47

2.2.1

Vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý

47

2.2.2

Các thủ tục tố tụng

58

2.2.3

Hoạt động tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý

61

90

TÀI LIỆU THAM KHẢO

91


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Công lý không phải là một thuật ngữ mới trong các lĩnh vực xã hội nói
chung và pháp luật nói riêng. Ngay từ buổi đầu xuất hiện, khi con người ý
thức được vai trò, vị trí của mình trong xã hội, ý niệm về công lý đã xuất
hiện. công lý đã là ước mong, nguyện vọng của con người, được đối xử một
cách công bằng, bình đẳng, ở thời sơ khai, nó được thể hiện ở việc chia các
nguồn lợi phẩm (hoa quả, hoang thú) theo sự đóng góp của các cá nhân trong
buổi đi săn bắt,hái lượm.
“Không thể có hòa bình nếu không có công lý” là câu khẩu hiệu thường
thấy của đồng bào Công giáo. Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng thành lập
Ủy ban Công lý và Hòa bình.
Có thể thấy, công lý cũng như cuộc chiến để giành công lý” cũng có lịch sử
thăng trầm riêng của nó, gắn bó một cách mật thiết với lịch sử phát triển của xã hội
loài người. Trải qua những hình thái kinh tế - xã hội, những chế độ chính trị, chế
độ nhà nước, dù là dã man nhất (chế độ chiếm hữu nô lệ) hay chế độ dân chủ nhất
như hiện nay (chế độ dân chủ tư sản hoặc chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa); dù là
xã hội nguyên thủy nhất hay hiện đại nhất, công lý luôn là cái mang tính tinh
thần nhiều nhất trong ý niệm của con người.
Ở kỷ nguyên hiện đại, tiếp cận công lý không chỉ thuần túy là một
mong ước của con người nữa mà nó còn xuất hiện như là một tiêu chuẩn
quan trọng trong đánh giá đối sự phát triển của một quốc gia, một hệ thống
pháp luật. Bởi đây cũng vừa là quyền của con người và cũng là nghĩa vụ của

phần nhỏ của xã hội vì ngoài pháp luật, còn những thể chế khác nhau điều chỉnh,
tác động lên hành vi của con người (phong tục, tập quán, hương ước, lệ làng…)
và nhiều khi, những thiết chế tương ứng của các thể chế này lại hoạt động có hiệu
quả hơn là các thiết chế tư pháp chính thức theo pháp luật.
Xét theo khía cạnh đó, tiếp cận công lý vừa là một trạng thái của xã hội,
vừa là một đòi hỏi, vừa là nghĩa vụ của nhà nước trong việc tổ chức, thực thi,
bảo vệ pháp luật, tạo điều kiện cho các chủ thể nói chung (trong đó cũng có
cả nhà nước) mà quan trong nhất là cá nhân (con người) nói riêng được tiến
lại gần hơn lẽ phải và sự công bằng theo đúng nghĩa đên của nó.
Tiếp cận công lý và những vấn đề liên quan không phải là vấn đề riêng
của một quốc gia, một dân tộc hay một lãnh thổ, mà là vấn đề của “toàn cầu”,

2


“toàn xã hội”. Đặc biệt trong những năm gần đây, vấn đề về tiếp cận công lý
được nghiên cứu, khảo sát dưới nhiều cách thức khác nhau và đã đem lại
những thành công bước đầu trong việc đánh giá được mức độ tiếp cận công lý
của người dân. Việt Nam không đứng ngoài câu chuyện đó, với sự tham gia
của nhiều tổ chức khác nhau, trong và ngoài nước, đã từng bước tiến hành
những bước đầu của tiếp cận công lý. Việc cho ra đời Báo điện tử Công lý của
Tòa án nhân dân tối cao hay việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án “Tăng
cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” do Bộ Tư pháp chủ trì,
phối hợp với các cơ quan pháp luật và tư pháp khác của Việt Nam thực hiện là
các sự kiện thể hiện điều đó.
Vì những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Quyền tiếp cận công lý ở
Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Nhà
nước và Pháp luật của tôi.
1.2. Tình hình nghiên cứu
Công lý và tiếp cận công lý tuy không phải là một nội dung mới nhưng

phải hướng dẫn họ sống thế nào.
- Cuốn sách: “Justice: Whats’s the right thing to do”, hay “Phải trái,
đúng sai” của giáo sư Đại học Harvard Michale J. Sandel (bản dịch Hồ Đắc
Phương, tái bản lần thứ 6, Nhà xuất bản Trẻ, năm 2015). Cuốn sách được
GS.Ngô Bảo Châu nhận xét rằng: “Trang sách chính là cửa sổ mở sang
những cuộc đời khác, những thế giới khác. Và cũng là chỗ để ảnh sáng mặt
trời rọi vào cuộc đời mình”.
Bên cạnh đó, cũng đã có một số tác phẩm nổi tiếng về công lý và tiếp
cận công lý được xuất bản trong nước như:
- Cuốn sách: “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương”, Nhà
xuất bản Sự thật, năm 1962. Đây là cuốn sách gồm tập hợp một số bài viết
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công lý trong giai đoạn 1921-1926.
- Cuốn sách: “Triết học kinh tế trong “Lí thuyết về công lý” của Nhà
triết học Mĩ - John Rawls” của Trần Thảo Nguyên, Nhà xuất bản Thế giới
xuất bản năm 2006. Tác giả tập trung ý nghĩa và khả năng ứng dụng của học
thuyết về công lý của John Rawls tại Việt Nam. Phân tích mệnh đề công lý
như là công bằng của John Rawls, tác giả cho rằng công lý là cái gốc của
công bằng, có ý nghĩa sâu sắc và khái quát hơn công bằng.

4


- Bài viết: “Tiếp cận công lý và các nguyên lý của nhà nước pháp
quyền” của Vũ Công Giao, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 25, năm
2009. Bài viết phân tích khái niệm và đặc điểm của tiếp cận công lý, nền
tảng của tiếp cận công lý và sự tương thích giữa các nguyên tắc của tiếp cận
công lý với các nguyên tắc của nền pháp quyền tại Việt Nam.
- Cuốn sách: “Quyền con người trong thi hành công lý” của Tòa án
nhân dân tối cao, 545 trang, Nhà xuất bản lao động - xã hội, năm 2010. Cuốn
sách gồm 15 chương, cung cấp những thông tin nhằm giúp người đọc mà

1.4.1. Đối tượng của đề tài:
- Hệ thống lý luận về công lý,“quyền tiếp cận công lý”.
- Thực trạng thực hiện quyền tiếp cận công lý hiện nay ở Việt Nam.
- Một số giải pháp nâng cao thực hiện quyền tiếp cận công lý hiện nay.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
“Công lý” là mô ̣t khái niê ̣m rô ̣ng lớn , do đó , nô ̣i dung của quyề n tiế p
câ ̣n công lý cũng rấ t rô ̣ng . Tuy nhiên, để phù hợp với quy mô của một Luận
văn Tha ̣c s ĩ, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quyền tiếp cận công lý trong tư
pháp, tức là gắ n chă ̣t với viê ̣c xét xử của Tòa án.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử - cụ thể trong việc tìm hiểu,
nghiên cứu các quan điểm về công lý qua các tài liệu sưu tầm được.
- Đề tài sử dụng phương pháp điều tra xã hội học trong việc đánh giá
thực trạng tiếp cận công lý ở một số nhóm đối tượng trên địa bàn thành phố
Hà Nội.
- Nguồn số liệu được sử dụng lấy từ các báo cáo về chỉ số công lý của
UNDP, một số cơ quan tư pháp trên địa bàn Hà Nội và qua khảo sát, điều tra
xã hội học của tác giả.
2.Kết cấu nội dung luận văn: bao gồm 3 chương, 8 tiết.

6


Chương 1
NHỮNG QUAN NIỆM CHUNG VỀ CÔNG LÝ VÀ
QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ
1.1. Khái niệm về Công lý
Khái niệm công lý là khái niệm thu hút được nhiều sự quan tâm của các
nhà nghiên cứu khoa học trong nhiều lĩnh vực khác nhau cũng như trong
suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Trong khoa học pháp lý, công lý cần được

sống tâm linh của người Ai Cập cổ đại. Và nữ thần Maat được biết đến là
chủ nhân của Phòng phân xử với tính cách thẳng thắn, đánh giá tất cả bằng
sự xem xét tình cảm thận trọng.
Thần thoại Hy Lạp còn lưu giữ đến ngày nay phần lớn thông qua các
tác phẩm văn học, nghệ thuật, mang tính nhân văn và tư tưởng triết học, giàu
tính duy lý, triết lý. Được cho là sự hòa quyện giữa tư duy cảm tình và tư
duy lý luận, cả hai hòa quyện tạo thành thể thống nhất và tạo nên những tác
phẩm huy hoàng thời cổ đại. Trải qua nhiều biến cố, ngày nay thần thoại Hy
Lạp chỉ còn giới hạn trong quá khứ, văn học và nghệ thuật. Tuy nhiên, chúng
ta không thể phủ nhận được tính giáo dục, triết lý, giá trị sâu sắc và ý tưởng
được thể hiện trong thần thoại Hy Lạp.
Theo truyền thyết, ở thời cổ đại của Hy Lạp, Bầu trời (Uranus) và Mặt
đấy (Gaia) lấy nhau và sinh ra nữ thần Themis, một trong mười hai Titan
(thần) tối cao của đỉnh Olympus. Themis là người làm ra luật định, thiết lập
trật tự và ổn định trên thế gian để đảm bảo công lý. Themis tượng trưng cho
Công lý, là hiện thân của pháp luật và trật tự tự nhiên, khác với luật và trật tự
do con người đặt ra. Themis tham dự các cuộc tranh luận của chư thần, làm
cố vấn cho chư thần trong các dịp đó. Themis thường chủ tọa các cuộc họp
của thường nhân. Những thỏa hiệp kí kết giữa thường nhân đều được sự bảo
trợ của Themis. Sự chính trực, nghiêm minh của bà đã khiến người Hy Lạp
cổ xưa tạc tượng bà tay cầm kiếm, tay cầm cân, mắt bịt một dải băng để
chứng tỏ sự vô tư, không thiên vị của phán quan.
Themis có sáu người con với Zeus, một trong số đó đã kế tục bà trở
thành hiện thân của công lý, đó là nữ thần Dike, thường được gọi là nữ thần

8


của Lẽ phải, Chân lý và Sự thật. Nàng chuyên theo dõi việc tuân thủ quy
định của Zeus dưới trần gian và báo lại cho cha mình biết những trường hợp

luật. Ở đây, công lý dường như tách bạch khỏi công bằng, khi không có sự
xuất hiện của bất kỳ một tầng lớp, hay một giai cấp nào cả. Nó chỉ là quan hệ
giữa cái đúng – sai, cái thiện – ác và pháp luật – sự trừng phạt.
Trong nền văn minh Hy Lạp cổ đại, công lý được cho rằng bắt nguồn từ
trật tự xã hội, một xã hội ổn định, có trật tự sẽ thúc đẩy sự phát triển của
công lý và ngược lại, một nền công lý mạnh mẽ sẽ thúc đẩy một xã hội trật
tự, ổn định. Plato, triết gia vĩ đại của Hy Lạp, người mà ảnh hưởng của ông
được mô tả một cách tuyệt vời bởi nhà triết học thế kỷ 20 Alfred North
Whitehead: “Nét đặc trưng chung rõ ràng nhất của truyền thống triết học
châu Âu là nó bao gồm một chuỗi những phụ chú cho tác phẩm của Plato”,
đã đưa những quan điểm, tư tưởng của mình về vấn đề công lý trong những
tranh luận về vấn đề đạo đức và pháp luật, đặc biệt trong cuốn Luật pháp, tác
phẩm cuối cùng còn dang dở trước khi ông qua đời.
Trong Quyển IV tác phẩm Luật pháp, khi bàn về cuộc sống đức hạnh,
Platon cho rằng, công lý hay những nguyên tắc tôn giáo cùng những đạo đức
đóng vai trò dẫn dắt cuộc sống của họ:
Này các bạn, Thượng đế, theo truyền thuyết, nắm giữ trong tay
Ngài cái đầu, cái giữa và cái cuối của mọi sự vật, nghĩa là chúng vận
hành theo luật tự nhiên do Ngài xếp đặt trên một đường thẳng cho đến
lúc kết thúc. Công lý luôn đi theo Ngài và sẽ trừng phạt những kẻ không
thực hành đến nơi đến chốn luật của Thượng đế…hắn bị luận phạt vì
công lý không có gì khác hơn là phải thuận nhận mà thôi. [2, tr. 818]
Như vậy, khi nói về pháp luật, Platon nhấn mạnh đến luật tự nhiên, theo
đó, công lý với nghĩa trừng phạt những kẻ vi phạm luật tự nhiên cũng mang
tính tự nhiên. Ngoài ra, sự “thuận nhận” hay “tâm phục khẩu phục” cũng
mang lại ý nghĩa tốt đẹp cho công lý. Tức là kẻ làm sai cũng nhận thấy cái

10




Hay tóm lại, “Nếu các người trở nên xấu xa thì sẽ phải vào chốn xấu xa,
còn nếu tốt thì sẽ vào chỗ tốt. Đó là công lý của trời, mà dù các ngươi hay
bất kỳ kẻ bất hạnh nào đó sẽ được vẻ vang khi tránh thoát; và là cái mà
quyền lực ban bố đã đặc biệt ban bố; hãy lưu tâm đến những điều ấy, vì sẽ có
ngày chúng sẽ lưu tâm đến các người”. [2, tr.846]
Ở đây, cũng cùng tư tưởng với các phần trên, Platon cho rằng, công lý
nằm ở chỗ các vị thần. Khi tiếp xúc với tư tưởng này, chúng ta có thể thấy có
điểm giống với tư tưởng của Phật giáo phương Đông về “luật nhân – quả”.
Gieo nhân gì, gặp quả nấy, và cũng tuân theo cái lý tự nhiên, hay công lý tự
nhiên mà thôi.
Còn theo Aristotle, vị triết gia mà ảnh hưởng và uy tín của ông mang
tính quốc tế và vượt lên trên mọi trường phái, thì công lý được chia thành
“công lý cải tạo” - nơi mà toà án với các quyết định của mình nhằm sửa chữa
một lỗi lầm do một bên gây ra đối với bên khác và “công lý phân phối” –
cách thức phân chia thành quả làm ra để công bằng với mỗi người, đúng theo
những gì mà người đó xứng đáng được hưởng. Theo Aristotle, công lý phân
phối chính là mối quan tâm chủ yếu, hàng đầu của các nhà lập pháp. Tuy
nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng luật pháp và công lý là hai khái niệm không
hoàn toàn đồng nhất, thậm chí, trong một số xã hội, luật pháp đôi khi đi
chệch hướng hoặc đối nghịch với công lý.
b) Phương Đông cổ đại
Nền văn minh Lưỡng Hà thời BaBylon cổ đại lại có quan niệm công lý
theo khía cạnh trao đổi, ngang bằng. Điều đó thể hiện rất rõ ở bộ luật
Hammurabi (khoảng năm 1750 tr.cn và hiện là văn bản luật cổ nhất của con
người được bảo tồn khá tốt). Vua là người được các vị thần trao cho trọng
trách giữ gìn công lý trong xã hội. Theo đó, “vì hạnh phúc loài người, thần
Anu và thần Enlin đã ra lệnh cho trẫm, Hammurabi, một vị vua quang minh

12

13


Nguyên tắc công lý thể hiện trong bộ luật lại là việc áp dụng hình phạt
ngang bằng, bắt nguồn từ tập quán trả thù nguyên thủy (Talion), “mắt đền
mắt, răng đền răng”, hay “lấy mắt đổi mắt, lấy răng đổi răng”, hay theo kiểu
thường nghe là “mạng đền mạng”, là một nguyên tắc là ất cứ ai làm cho
người khác bị thương vì lý do gì thì cũng phải bị trừng phạt y như vậy. Đây
là sự trả đũa theo pháp luật tùy theo mức độ nặng nhẹ việc làm ai đó bị
thường. Dù cho những quan điểm, tư tưởng của các nhà khoa học thời kỳ
này tiến bộ đến đâu chăng nữa, nhưng chỉ xuất hiện ở các giai thoại, tác
phẩm khoa học… thì tính đại diện vẫn khó có thể so bằng bộ luật thành văn
như thế này. Như vậy, rõ ràng khi nhắc đến công lý thời kỳ cổ đại, tính chất
đặc trưng là sự báo thù.
1.1.1.2.Thời kỳ trung đại
Augustine, nhà triết học có ảnh hưởng lớn đầu tiên thời trung cổ, cho
rằng công lý cao hơn nhà nước và là vĩnh cửu. Công lý tự nhiên cao hơn luật
pháp. Luật pháp không công bằng thì không phải là luật pháp.
Thomas Aquinas, nhà triết học và thần học Italia trong truyền thống
kinh viện chủ nghĩa, cũng cho rằng trong thực tế những đạo luật nhân định
có thể công bằng hay không công bằng. Công lý là khái niệm cơ sở, có nội
hàm rộng hơn khái niệm luật pháp. Những giá trị của công lý cung cấp
những tiêu chí quan trọng cơ bản để đánh giá, thẩm định các đạo luật thực
định. Một đạo luật công bằng là một đạo luật dựa trên và không đối lập với
các quyền tự nhiên. Bất công chính là những hành vi liên quan đến việc vi
phạm các quyền tự nhiên như các tội giết người, hành hung, trộm cắp, bắt
cóc, nô lệ, hiếp dâm, gian lận hoặc các hành vi gây ảnh hưởng sai lệch nhất
định đến sự phân phối thịnh vượng, thu nhập. Không có cách phân phối cụ
thể nào được coi là công bằng hoặc không công bằng từ sự lựa chọn của các



15


Quan niệm như vậy đồng nghĩa với việc J.J. Rousseau cho rằng, công lý
là luật cơ bản, là luật tự nhiên của xã hội nhưng phải được ghi nhận, thể hiện
qua các quy định pháp luật. dDây cũng chính là đòi hỏi của ông về tính đảm
bảo công lý của pcháp luật.
1.1.1.4.Thời kỳ hiện đại
Trong xã hội hiện đại, những giải thích về công lý có khuynh hướng tập
trung vào việc làm thế nào để xã hội có thể phân phối một cách công bằng
nhất những gánh nặng và phúc lợi của đời sống xã hội.
Trong tác phẩm xuất bản gần đây tại Việt Nam “ Công lý: Đâu là việc
đúng nên làm?, giáo sư Michael Sandel của Đại học Harvard đã đặt ra rất
nhiều giả thuyết, nhiều trường hợp thực tế và đưa những dòng tư tưởng khác
nhau của các học thuyết để xử lý cho những tình huống đó. Từ đó, ông cho
chúng ta nhiều cách nhìn về việc xác định đâu là công lý. Công lý dựa trên
nguyên tắc của hành động hay công lý dựa trên nguyên tắc của kết quả của
hành động đó, vẫn là nhiều vấn đề gây tranh cãi.
Một trong những quan niệm về công lý giai đoạn này được đưa ra bởi
Raymond Wacks, giáo sư danh dự về Luật và Lý thuyết pháp luật ở trường
Đại học Hồng Kông với chuyên môn về các lĩnh vực lý thuyết pháp luật,
nhân quyền và quyền riêng tư. Ông có một số quan điểm về công lý, được
trình bày trong tác phẩm Triết học luật pháp: “Công lý, trong bất kỳ tình
huống nào, không hề là một khái niệm đơn giản”[18, tr.112], “Công lý giữa
những cá nhân cũng không kém phần khó giải quyết so với sự thách thức của
công bằng xã hội: sự tạo dựng những thể chế xã hội và chính trị để chia phần
chiếc bánh một cách công bằng” [18, tr.115].
Lý thuyết tìm kiếm sự thật (The truth-finding theory), một trong những
học thuyết có nhiều ảnh hưởng trong lĩnh vực tố tụng tại các quốc gia có hệ

niềm tin của luật pháp, là hạt nhân của đạo đức và là điều kiện tiêu quyết của
xã hội công dân.

17


Ông còn cho rằng, không thể có công lý khi tự do của một nhóm cá
nhân bị hy sinh để đem lại lợi ích cho một tập thể lớn hơn. Công lý không
cho phép vì lợi ích của nhiều người, bắt vài người phải hy sinh. Do vậy trong
một xã hội công bằng thì sự bình đẳng về các quyền công dân và các quyền
tự do đối với tất cả mọi người là không thể thay đổi; những quyền được công
lý bảo đảm thì không thể đem ra mặc cả về chính trị hay những tính toán về
lợi ích xã hội.
Theo Từ điển Luật học (1999), “Công lý có nghĩa là lẽ phải, lẽ công
bằng, phù hợp với pháp luật đương thời, không thiên lệch, không tư vị. Chế
độ nào cũng coi tòa án là tượng trưng cho công lý, là cơ quan công lý của
chế độ ấy”. [26,tr.108,109]
Ở Việt Nam hiện nay, trong lĩnh vực tư pháp, công lý và bảo vệ công lý
được xác định là một trong những mục tiêu cơ bản của Chiến lược cải cách
tư pháp của Việt Nam đến năm 2020. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02
tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm
2020 và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng
định yêu cầu xây dựng cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân
trong việc bảo vệ công lý và quyền con người. Chiến lược cũng xác định rõ
mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm
minh và bảo vệ công lý. Hoạt động tư pháp mà trong đó toà án được xác
định giữ vị trí trung tâm và công tác xét xử là hoạt động trọng tâm cần phải
được tiếp tục cải cách, nâng cao chất lượng, bảo đảm có hiệu lực và hiệu quả
cao. Thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp cần tiếp tục được đổi mới
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý. Các thủ tục,

khái niệm chính trị- xã hội. Khái niệm công bằng bao hàm trong nó yêu
cầu về sự phù hợp giữa vai trò thực tiễn của cá nhân (nhóm xã hội) với
địa vị của họ trong đời sống xã hội, giữa những quyền và nghĩa vụ của

19


họ, giữa làm và hưởng, giữa lao động và sự trả công, giữa tội phạm và
sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội. Sự không phù
hợp trong những quan hệ đó dược đánh giá là sự bất công. [24]
Công lý và công bằng, hai khái niệm này có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau, và có sự đồng nhất một cách tương đối. Trong tiếng Anh, từ Justice
được hiểu theo cả hai nghĩa công lý và công bằng, tức là giống nhau. Nhưng
liệu trong thực tế, công bằng và công lý có đồng nhất với nhau hoàn toàn
không. Quả thật, đảm bảo thực hiện công bằng, công lý luôn là hai mục tiêu
hàng đầu trong mọi thể chế, đặc biệt trong công tác tư pháp.
Công lý, thông thường gắn liền với hoạt động pháp luật nói chung, còn
công bằng thì rộng hơn, gắn với mọi hoạt động xã hội. Tùy trong từng
trường hợp cụ thể mà nhấn mạnh tới vai trò của khái niệm nào hơn. Trong
quan hệ phân phối sản phẩm, dễ hiểu như việc phát quà từ thiện, các trẻ em
đều được một phần quà như nhau, không ai khác ai. Hay trong trường hợp
phân chia lợi nhuận trong một công ty, việc phân chia số lượng khác nhau
đối với từng thành viên dựa trên công sức đóng góp của họ cũng là vấn đề
công bằng, công bằng giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng
thụ. Trong các trường hợp này, trọng tâm là công bằng, rõ ràng không đặt ra
vấn đề công lý ở đây. Nhưng khi xử phạt một hành vi vi phạm quy định công
ty đối với công nhân, vấn đề trọng tâm lại là công lý, việc áp dụng các thủ
tục xử phạt, hình thức kỷ luật... đúng hay sai so với quy định của công ty,
quy định của pháp luật. Vấn đề này cũng đúng trong trường hợp người có
thẩm quyền áp dụng các hoạt động tư pháp khác nhau để giải quyết, xử lý vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status