ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––
GIANG TUẤN ANH
GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO LĨNH VỰC
NÔNG NGHIỆP TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––
GIANG TUẤN ANH
GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO LĨNH VỰC
NÔNG NGHIỆP TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đình Long
THÁI NGUYÊN - 2014
doanh - Đại học Thái Nguyên.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác
của các đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các
bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành
nghiên cứu này.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Giang Tuấn Anh
iii
MỤC LỤC
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
XĐGN
TCTD
CN
CNH
HĐH
HTX
KHKT
GPMB
NN&PTNT
UBND
VCCI
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, ngành nông nghiệp chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu kinh tế . Hiện nay, một số dự án về nông nghiệp đã và
đang góp phần thay đổi, cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân trong tỉnh.
Thực tế cho thấy, việc thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp ở tỉnh
Tuyên Quang hiện nay đã có những dấu hiệu tích cực, lượng vốn đầu tư vào
nông nghiệp ngày càng tăng, chất lượng vốn dần được cải thiện... Tuy nhiên,
bên cạnh đó công tác này còn một số hạn chế và khó khăn cần nhanh chóng
tháo gỡ. Đó là cơ chế quản lý chưa thật sự thông thoáng, thủ tục đầu tư còn
rườm rà gây trở ngại cho các nhà đầu tư, việc thực hiện các chính sách thu hút
vốn còn kém hiệu quả và phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các địa
phương khác trong thu hút vốn... Do vậy, việc nghiên cứu và đề xuất giải
pháp nhằm thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn Tuyên
Quang trong giai đoạn tới là vấn đề có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và thực
tiễn. Đồng thời với điều kiện đang công tác trong lĩnh vực nông nghiệp, tác
giả đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực nông
nghiệp tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài luận văn Thạc sĩ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Thông qua việc nghiên cứu thực trạng đầu tư phát triển vào ngành nông
nghiệp tỉnh Tuyên Quang để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và tác
2
động của đầu tư tới tình hình phát triển ngành nông nghiệp nói riêng và tình
hình kinh tế của tỉnh nói chung. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút
và nâng cao hiệu quả đầu tư vào ngành nông nghiệp tỉnh Tuyên Quang.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút vốn đầu
tư vào nông nghiệp của tỉnh Tuyên Quang.
- Phân tích, đánh giá được thực trạng và xác định nhân tố ảnh hưởng
Chương 4: Định hướng và giải pháp thu hut vốn đầu tư phát triển nông
nghiệp tỉnh Tuyên Quang.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN ĐẦU TƯ
VÀO NÔNG NGHIỆP
1.1. Cơ sơ lý luận về vốn đầu tư vào nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm và những đặc trưng của vốn đầu tư phát
triển nông nghiệp
Vốn là yếu tố quan trọng, quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế của các quốc gia trên thế giới. Đối với các nước đang phát triển trong đó có
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, khi yếu tố vốn đầu tư chiếm tỷ trọng lớn
trong cấu thành tăng trưởng kinh tế, do đó vai trò của vốn đầu tư lại càng hết
sức quan trọng.
Cho đến nay, có nhiều khái niệm về vốn được nhìn nhận dưới góc độ
phân loại thành vốn cố định, vốn lưu động, vốn đầu tư tài chính... Để đưa ra
một khái niệm mang tính chất tổng hợp về vốn đầu tư, cần đi sâu phân tích
những đặc trưng cơ bản của vốn đầu tư sau đây:
1/ Vốn được biểu hiện bằng giá trị. Vốn phải ại diện cho một lượng giá
trị có thực của tài sản (tài sản hữu hình và tài sản vô hình). Tài sản hữu hình
là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể (nhà xưởng, máy móc, thiết bị,
hàng hóa, nguyên vật liệu…). Tài sản vô hình là những tài sản không có hình
thái vật chất cụ thể (bằng phát minh sáng chế, bí quyết kỹ thuật, bí quyết kinh
doanh, nhãn hiệu hàng hóa, quyền sử dụng đất, uy tín trên thị trường…).
Có thể thấy, trong nền kinh tế thị trường, các hình thái của vốn rất
phong phú, đa dạng, từ đó khái niệm về vốn cũng được mở rộng về phạm vi.
Do vậy, cần nhận thức đầy đủ các khía cạnh xung quanh vấn đề vốn đầu tư để
khai thác triệt để nguồn lực này, nhằm đóng góp tích cực cho sự phát triển của
vốn bao giờ cũng gắn với một chủ sở hữu nhất định. Tùy theo hình thức đầu
tư mà chủ sở hữu có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất với người sử dụng
vốn. Sở dĩ gọi vốn là hàng hóa đặc biệt bởi vì người bán vốn không mất
quyền sở hữu mà chỉ bán quyền sử dụng vốn. Chính sự tách rời giữa quyền sở
6
hữu và quyền sử dụng vốn đã làm cho vốn có khả năng lưu thông và sinh lời.
Sự lưu thông của vốn đã từng bước tạo lập và hình thành thị trường vốn - một
bộ phận cấu thành nên thị trường tài chính.
Vấn đề đặt ra là khi nào người chủ sở hữu vốn mới bán quyền
sử dụng vốn của mình ? Câu trả lời là chỉ khi người chủ sở hữu vốn có được
lợi tức thỏa đáng - đây được xem như một nguyên tắc cần chú ý khi thu hút,
huy động vốn trong nền kinh tế thị trường.
4/ Theo nghĩa rộng, vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền mà còn biểu
hiện dưới dạng tiềm năng và lợi thế vô hình. Ví dụ: vị trí địa lý, lợi thế thương
mại, uy tín thị trường, bí quyết kinh doanh, kinh nghiệm lâu năm… Việc “giá
trị hóa” được những tiềm năng và lợi thế vô hình đó góp phần quan trọng
trong việc phát huy triệt để vai trò vốn đầu tư nhằm phát triển kinh tế.
5/ Tích tụ và tập trung vốn: Tích tụ vốn là sự tăng thêm quy mô vốn cá
biệt của từng doanh nghiệp, từng nhà sản xuất. Tập trung vốn là sự tăng thêm
quy mô của vốn cá biệt bằng cách hợp nhất nhiều nguồn vốn cá biệt sẵn có
thành một nguồn vốn cá biệt khác lớn hơn.
Tích tụ và tập trung vốn quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau
cùng phát triển. Tích tụ vốn làm tăng quy mô và sức mạnh của vốn, do đó
vốn tập trung mạnh hơn. Tập trung vốn lại tạo điều kiện thuận lợi đẩy
mạnh tích tụ, ảnh hưởng qua lại của tích tụ và tập trung vốn làm cho nguồn
vốn đầu tư của toàn xã hội ngày càng tăng. Tích tụ và tập trung vốn dẫn
đến tích tụ sản xuất.
Thiếu vốn cho phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp
sản xuất giảm, từ đó đưa đến một kết quả là thu nhập bình quân thấp. Chu
trình ấy lặp đi lặp lại cho đến khi các quốc gia này tìm ra cách phá vỡ một
trong các mắt xích của nó. Một trong những khâu quan trọng trong vòng tròn
luẩn quẩn đó chính là vốn dành cho đầu tư phát triển. Như vậy, huy động tối
đa các nguồn lực trong và ngoài nước, tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế được
xem như một biện pháp ưu việt nhất tạo nên bước đột phá nhằm tạo đà cho
8
tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập, từ đó phá vỡ cấu trúc của “ cái vòng
luẩn quẩn” trong phát triển kinh tế.
Hai là, vốn đầu tư phát triển nông nghiệp góp phần quan trọng thúc
đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng trên lãnh thổ quốc gia,
chênh lệch giàu nghèo là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Vốn
đầu tư có tác dụng giải quyết những mặt mất cân đối về phát triển giữa các
vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng nghèo,
kém phát triển. Đồng thời, cũng giúp các khu vực kém phát triển này phát huy
được lợi thế, khơi dậy tiềm năng để phát triển nhanh hơn, toàn diện hơn, thu
hẹp khoảng cách giữa các vùng, tạo nên sự tiến bộ chung cho đất nước.
Ba là, vốn đầu tư phát triển nông nghiệp thúc đẩy đầu tư thay thế nông
cụ thô sơ truyền thống, đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ, kỹ thuật, nâng
cao chất lượng, sản lượng nông phẩm và tăng sức cạnh tranh trên trường
quốc tế.
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hóa và đầu tư là điều kiện tiên
quyết cho sự phát triển . Để có một nền công nghệ cao có 2 con đường cơ
bản: một là tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ, hai là nhập công
nghệ từ nước ngoài. Dù thực hiện theo con đường nào vốn đầu tư cũng là yếu
tố quan trọng không thể thiếu.
là một tiêu chí quan trọng để thu hút các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tiến hành đầu tư. Do vậy, để thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài,
Chính phủ các nước cần có kế hoạch dành ra một quỹ ngân sách nhất định
cho đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong nước.
Đầu tư tạo ra tăng trưởng kinh tế và bản thân tăng trưởng kinh tế tác
động trực tiếp đến việc góp phần giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội
như: thất nghiệp, lạm phát, xóa đói giảm nghèo, giảm khoảng cách thu nhập
10
giữa các tầng lớp dân cư, thực hiện đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và các
hoạt động từ thiện… do đó có thể cải thiện môi trường sống của xã hội. Vốn
đầu tư góp phần mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra nhiều cơ sở kinh doanh, trực
tiếp thu hút một số lượng lớn lao động tham gia, từ đó nâng cao thu nhập cho
người dân. Như vậy, vốn đầu tư phát triển ngoài phát triển nguồn nhân
lực còn tạo thêm nhiều việc làm mới cho nền kinh tế và cải thiện cuộc sống
của người lao động. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội chính là động lực thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra sự phát triển bền vững trong tương lai.
1.1.3. Nội dung đầu tư phát triển nông nghiệp
1.1.3.1. Đầu tư theo ngành
a. Đầu tư phát triển nông nghiệp thuần túy
Trong sản xuất nông nghiệp thuần thúy, thì nông nghiệp được chia ra
làm hai bộ phận chính đó là trồng trọt và chăn nuôi.
Trồng trọt là ngành mà giải quyết trực tiếp đến vấn đề an ninh lương
thực của đất nước, cũng là đầu vào cho những ngành chế biến lương thực –
thực phẩm, chế biến xuất khẩu. Đây là ngành mà chịu nhiều tác động của yếu
tố tự nhiên như đất, nước, khí hậu. Đối tượng của ngành này là cây lương
thực, cây công nghiệp, cây ăn quả. Do đó, đầu tư cho ngành trồng trọt là đầu
tư thủy lợi, đầu tư nghiên cứu giống mới, đầu tư phân bón… Nhằm tăng năng
suất, sản lượng và chất lượng các sản phẩm của ngành trồng trọt.
chứa nước… Nhằm cung cấp đủ nước tưới tiêu, phục vụ hoạt động sản xuất
nông nghiệp, khắc phục tình trạng hoang hóa, tăng diện tích canh tác và đặc
biệt là hạn chế lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai.
Đặc điểm của đầu tư phát triển thủy lợi đó là: Thời gian thực hiện đầu tư
một dự án thủy lợi khá dài; đầu tư một dự án thủy lợi mất khá dài (có thể từ 3
đến 4 năm hoặc có thể lâu hơn).Vốn đầu tư cho hệ thống công trình thủy lợi
thường là rất lớn; lượng vốn đầu tư này chiếm tỷ lệ lớn trong đầu tư của nông
nghiệp. Nguồn vốn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và phần còn lại do
nhân dân đóng góp. Đầu tư thủy lợi là đầu tư theo mùa.
b. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp
12
Lao động là đầu vào quan trọng của tất cả các ngành kinh tế, chính vì
vậy chất lượng nguồn lao động ảnh hương rất lớn đến kết quả của ngành.
Trong lĩnh vực nông nghiệp nước ta hiện nay, lao động vẫn chủ yếu là
lao động giản đơn, đa số tập trung chủ yếu vùng nông thôn, vùng núi, vùng
sâu, vùng xa ít có cơ hội được tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại.
Đào tạo đội ngũ cán bộ khuyến nông có trình độ cao luôn theo sát người
dân, giúp người nông dân có thêm cơ hội tiếp cận với khoa học kỹ thuật, tránh
được những rủi ro không đáng có. Đây cũng chính là lực lượng tiên phong
giúp nâng cao chất lượng nông sản, sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hóa.
Mở các lớp học hướng dẫn người nông dân, dạy họ các làm ăn để người
nông dân làm chủ được hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ động lựa chọn
được các phương án sản xuất tốt nhất.
c. Đầu tư phát triển hệ thống khuyến nông
Theo nghĩa hẹp: khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông - lâm - ngư
nghiệp, các trung tâm khoa học nông - lâm - ngư nghiệp để phổ biến, mở rộng
các kết quả nghiên cứu khoa học tới người nông dân bằng các biện pháp thích
+ Cây hằng năm
+ Cây lâu năm
1.1.3.4. Đầu tư phát triển nông nghiệp theo thành phần kinh tế
a. Thành phần kinh tế nhà nước
Thành phần kinh tế nhà nước đầu tư vào nông nghiệp chủ yếu dựa trên
nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước. Chính vì vậy, ngoài việc đem lại lợi ích
kinh tế, thì đầu tư này còn mang tính xã hội; xóa đói giảm nghèo vùng nông
thôn, kích thích các nguồn vốn khác đầu tư vào nông nghiệp, đầu tư những
lĩnh vực mà tư nhân ít đầu tư…
Lĩnh vực mà kinh tế nhà nước đầu tư đó là:
Nghiên cứu khoa học nông nghiệp
14
Khuyến nông
Đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông thôn
Đầu tư về cơ sở hạ tầng tiếp thị, nhằm giúp khu vực nông thôn và
nông dân tiếp thị hàng hóa nông sản có hiệu quả.
b. Thành phần kinh tế ngoài nhà nước
Thành phần kinh tế này đầu tư với mục đích là lợi nhuận, Vì vậy, thành
phần này chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ và sản xuất có lợi nhuận cao
như chăn nuôi, cây trồng, lâm nghiệp và thủy sản. Do tự hoạch toán tự kinh
doanh, nguồn vốn này được sử dụng khá hiệu quả, giải quyết được một lượng
lớn lao động trong nông thôn, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo.
Hình thức đầu tư của thành phần này chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân, hợp
tác xã và kinh tế hộ gia đình.
c. Thành phần kinh tế nước ngoài.
Ngoài nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài đã góp phần vào bổ
sung nguồn vốn cho nông nghiệp, với đầu tư của nước ngoài vào có ý nghĩa
quan trọng cho quá trình phát triển; chuyển giao công nghệ sản xuất nông
những khu vực phát triển năng động trên thế giới, có các tuyến giao thông
quốc tế quan trọng, có nhiều cửa ngõ thông ra biển, là điều kiện rất tốt cho
hoạt động ngoại thương. Bên cạnh đó, nước ta có nguồn tài nguyên khoáng
sản tương đối phong phú và đa dạng, được phân bố đều khắp trên lãnh thổ.
Mặt khác, với nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ lao động trong độ tuổi lao động
lớn cũng là những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn để các nhà đầu tư trong và
ngoài nước bỏ vốn vào kinh doanh. Đội ngũ cán bộ quản lý hành chính cũng
tác động trực tiếp đến kết quả thu hút vốn đầu tư phát triển nông nghiệp. Bởi
chính họ là những người trực tiếp xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch, chính sách, cơ chế quản lý đầu tư. Vì vậy, để việc thu
hút vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp đạt kết quả cao thì đội ngũ cán bộ
này phải được đào tạo để có đủ năng lực đáp ứng được yêu cầu công việc
trong lĩnh vực mình phụ trách.
16
Hai là, năng lực vốn nội tại của địa phương.
Một yếu tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu
tư phát triển nông nghiệp là năng lực vốn nội tại của địa phương. Vốn đầu tư
được huy động tại địa phương bao gồm 3 nguồn chính: vốn nhà nước, vốn của
các doanh nghiệp, vốn trong dân.
Nguồn vốn nước ngoài có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, song đó chỉ là nguồn vốn bổ sung. Bởi vì suy cho
cùng, vốn đầu tư nước ngoài là một khoản nợ, bao giờ cũng đi kèm với các
ràng buộc về kinh tế, chính trị hoặc bị giám sát, quản lý. Nguồn vốn được huy
động từ năng lực nội tại của địa phương là nguồn chính đóng góp vào tổng
vốn đầu tư của nền kinh tế.
Kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây đã có sự phát triển đáng kể
trên nhiều lĩnh vực, nhưng do xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, mức tích
lũy từ nội bộ nền kinh tế hạn chế, dẫn đến nguồn vốn có được từ năng lực nội
tại của địa phương chưa thể chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn phát triển.
chi phí, tăng lợi nhuận kinh doanh. Thị trường tiêu thụ dồi dào tạo sự yên tâm
cho các nhà đầu tư về đầu ra các sản phẩm, do đó cũng là một yếu tố không
kém phần quan trọng làm tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư.
Cùng với quá trình đổi mới kinh tế, chính sách thu hút vốn đầu tư của
nước ta trong những năm qua đã góp phần tích cực vào việc ổn định và phát
triển kinh tế, tạo môi trường đầu tư tốt nhằm kêu gọi đầu tư nước ngoài. Tuy
còn có những hạn chế, song những năm gần đây, đặc biệt sau khi Việt Nam
gia nhập WTO cùng với một loạt thay đổi trong chính sách quản lý, cải cách
thủ tục hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật… Đặc biệt là với Hiến pháp
năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật đã và đang triển khai xây dựng
mới và sửa đổi theo nội dung Hiến pháp đã góp phần cải thiện môi trường đầu
tư nước ta có những chuyển biến rõ rệt, tạo thêm niềm tin cho các nhà đầu tư.
Môi trường pháp lý cho kinh doanh đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng, hệ
18
thống thủ tục hành chính ngày càng đơn giản, gọn nhẹ, cơ sở hạ tầng đang
từng bước được nâng cấp, thị trường tiêu thụ dồi dào cùng với sự ổn định về
chính trị, Việt Nam đang là điểm đến an toàn, lý tưởng cho các nhà đầu tư.
Bốn là, bối cảnh quốc tế.
Đặc trưng của bối cảnh quốc tế hiện nay tác động trực tiếp đến sự phát
triển và khả năng thu hút vốn đầu tư của các quốc gia trên thế giới. Quá trình
toàn cầu hóa, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, các chính sách mở cửa
được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, quá trình điều
chỉnh cơ cấu thương mại và đầu tư của các thành viên WTO theo hướng tự do
hóa, phi thuế quan... sẽ là động lực cho sự phát triển, gia tăng tốc độ lưu
chuyển hàng hóa, dịch vụ và các luồng vốn trên thế giới. Đây là cơ hội cho
các quốc gia tận dụng nguồn vốn từ bên ngoài bổ sung nguồn vốn tự có để
phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt là thách
thức lớn mà các quốc gia hiện nay đang gặp phải trong quá trình thu hút vốn