1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh
khỏi. Đặc biệt, rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có phản ứng dây
chuyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức tạp.
Trên thế giới, người ta thống kê được rất nhiều loại rủi ro cố hữu trong
hoạt động ngân hàng. Vấn đề được quan tâm nhất là rủi ro tín dụng, bởi trên
thực tế phần lớn thu nhập của các ngân hàng thương mại là từ hoạt động kinh
doanh tín dụng. Song đây cũng là lĩnh vực kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro
nhất trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tùy theo cấp độ rủi ro
mà hoạt động kinh doanh phải chịu tổn thất lớn hay nhỏ. Hậu quả của rủi ro
tín dụng đối với ngân hàng thường rất nặng nề: làm tăng thêm chi phí của
ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm hoặc mất đi cùng với sự thất thoát vốn vay,
làm xấu đi tình hình tài chính và cuối cùng làm tổn hại đến uy tín và vị thế
của ngân hàng.
Hệ thống ngân hàng Việt Nam cần có những bước đổi mới mạnh mẽ
trên tất cả các mặt. Trong đó, nhiệm vụ hàng đầu là phải tập trung vào vấn đề
phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, vì hoạt động tín dụng là một trong
những hoạt động cơ bản và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng thương mại.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Vân Đồn
(Agribank chi nhánh huyện Vân Đồn) là một trong những ngân hàng đóng vai
trò quan trọng nhất đối với phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Vân
Đồn. Vấn đề tăng trưởng bền vững đã và đang được đặt ra hàng đầu trong
công cuộc đổi mới và hội nhập, đặc biệt là trong việc phòng ngừa và hạn chế
rủi ro tín dụng. Với tỉ lệ chiếm 80-85% trên tổng thu nhập, các sản phẩm tín
dụng có vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh; nó có ảnh hưởng lớn
đến các lĩnh vực kinh doanh khác của Agribank chi nhánh huyện Vân Đồn.
3
2.2. Mục tiêu cụ thể
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm các mục tiêu cụ thể sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến rủi ro tín dụng.
- Đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tín dụng của Agribank chi nhánh
huyện Vân Đồn, chỉ ra những mặt đã làm được và mặt chưa làm được của
Agribank chi nhánh huyện Vân Đồn cũng như nguyên nhân của nó.
- Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro tín
dụng tại Agribank chi nhánh huyện Vân Đồn.
- Đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng của Agribank
chi nhánh huyện Vân Đồn trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động quản lý rủi ro tín
dụng và những nhân tố ảnh hưởng đến công tác này tại Agribank chi nhánh
huyện Vân Đồn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về thời gian: Đề tài thu thập thông tin thứ cấp từ các tài liệu
đã được công bố từ năm 2011 đến năm 2013.
- Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện tại Agribank chi nhánh
huyện Vân Đồn.
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu rủi ro tín dụng và
các hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh huyện Vân Đồn
và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác này.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu về sự tác động có tính hệ
thống đối với quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng, đánh giá
5
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn được kết
cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng và quản lý
rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh
huyện Vân Đồn
Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng tại
Agribank chi nhánh huyện Vân Đồn.
6
Chương 1
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Cơ sở lý luận về tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng
1.1.1. Hoạt động tín dụng
1.1.1.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa
người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả, kèm theo lợi tức
khi đến hạn.
Tín dụng ngân hàng (sau đây gọi tắt là tín dụng) là quan hệ chuyển
nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian
nhất định với một chi phí nhất định.
1.1.1.2. Bản chất của tín dụng
Tín dụng là quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay, nhờ
quan hệ này mà vốn tín dụng (tiền và hiện vật) được vận động từ chủ thể này
- Tín dụng vốn cố định: cho vay để hình thành nên TSCĐ cho các thành
phần kinh tế, có quan hệ tín dụng với ngân hàng.
* Theo phương thức cấp tín dụng
- Chiết khấu thương phiếu: là việc NHTM sẽ đứng ra trả tiền trước cho
KH. Số tiền ngân hàng ứng trước phụ thuộc vào giá trị chứng từ, lãi suất chiết
khấu, thời hạn chiết khấu và lệ phí chiết khấu.
- Cho vay: là việc ngân hàng đưa tiền cho KH với cam kết KH phải
hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian đã xác định.
- Bảo lãnh(tái bảo lãnh): bảo lãnh ngân hàng là cam kết của ngân hàng
dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho
KH của ngân hàng khi KH không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết.
- Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng bỏ tiền mua sắm tài sản cho KH
thuê. Sau một thời gian nhất định KH phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng.
1.1.2. Quản lý rủi ro tín dụng của NHTM
1.1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện
đúng các khoản vay của Hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách
8
hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các
khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong
hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
1.1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng
* Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân
gây ra rủi ro thì RRTD được phân chia thành:
- Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên
tai, dịch họa, người vay chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác
làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc các chế
độ, chính sách.
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho
vay, đánh giá KH. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo
và rủi ro nghiệp vụ.
9
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín
dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra
quyết định cho vay.
+ Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều
khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo,
hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay
và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và
kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong
quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành rủi ro nội tại
và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của
mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm
hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay.
+ Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung cho vay quá
nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều khách hàng hoạt
động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng
địa lý nhất định,...
Ngoài ra, còn có nhiều hình thức phân loại khác nhau như phân loại căn
cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, theo nguồn gốc hình thành, đối tượng sử
dụng vốn vay.
1.1.2.3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Trong đó, rủi ro tín dụng
đó sẽ gây ra những bất ổn về kinh tế-xã hội. Như vậy, rủi ro tín dụng có thể
gây ra những thiệt hại to lớn không lường trước được đối với nền kinh tế-xã
hội của một quốc gia.
1.1.2.5. Sự cần thiết phải quản lý rủi ro tín dụng
* Đối với bản thân ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm giảm lợi nhuận kinh doanh tức là thu
nhập giảm. Thu nhập giảm làm cho việc mở rộng tín dụng sẽ gặp khó khăn.
Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán, rủi ro tín dụng khiến cho việc
hoàn trả tiền gửi của ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Các khoản cho vay có
thể mất hoặc khó đòi trong khi tiền gửi khách hàng vẫn phải trả lãi, làm mất
11
đi những cơ hội kinh doanh tốt của ngân hàng. Nếu rủi ro xảy ra mức độ quá
lớn, nguồn vốn của ngân hàng không đủ bù đắp, vốn khả dụng bị thiếu, lòng
tin của khách hàng giảm tất yếu sẽ dẫn tới phá sản ngân hàng.
* Đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên
quan đến rất nhiều thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức
kinh tế cho tới các tổ chức tín dụng khác. Vì vậy, kết quả kinh doanh của
ngân hàng phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế và đương
nhiên nó phụ thuộc rất lớn vào tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp và khách hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng không thể
có kết quả tốt khi hoạt động kinh doanh của nền kinh tế chưa tốt hay nói cách
khác hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ có nhiều rủi ro. Rủi ro xảy ra
dẫn tới tình trạng mất ổn định trên thị trường tiền tệ, gây khó khăn cho các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, làm ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh
tế và đời sống xã hội. Do đó, quản lý rủi ro tín dụng không những là vấn đề
sống còn đối với ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế góp
phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội.
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi
- Dự phòng rủi ro tín dụng
- Tỷ lệ nợ xử lý rủi ro
- Tỷ lệ tổn thất cho vay
1.1.4. Nội dung cơ bản của quản lý rủi ro tín dụng
Quản lý rủi ro tín dụng là một hệ thống các phương pháp, các hình thức
và các công cụ được sử dụng để quản lý rủi ro tín dụng trước và sau quá trình
cho vay (cấp tín dụng) trong những điều kiện cụ thể của từng thời kỳ để giảm
thiểu các rủi ro tín dụng trước và sau khi cho vay.
1.1.4.1. Quản lý rủi ro tín dụng trước khi cho vay
Trước khi cho vay CBTD phải kiểm tra các quy định pháp lý về cho
vay, bao gồm:
* Điều kiện vay vốn: Ngân hàng xem xét và quyết định cho vay khi
khách hàng có đủ các điều kiện theo quy định của NHNN.
13
* Quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay
- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản, là việc người vay khi thực hiện
nghĩa vụ trả nợ ngân hàng được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm
cố, thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, thế chấp bằng tài sản của bên
thứ 3. Đối với tài sản cầm cố, thế chấp (trừ các tài sản là các giấy tờ có giá):
Mức cho vay so với giá trị tài sản bảo đảm tối đa bằng 75% giá trị tài sản bảo
đảm nhưng không vượt quá mức cho vay tối đa theo quy định của từng
chương trình tín dụng.
+ Trường hợp cầm cố bằng các giấy tờ có giá: Mức cho vay tối đa bằng
số tiền gốc cộng lãi của giấy tờ có giá trừ số lãi phải trả cho ngân hàng trong
thời gian xin vay và không vượt quá mức cho vay tối đa theo quy định của
từng chương trình tín dụng.
+ Khi sẩy ra rủi ro tín dụng, các NHTM thực hiện bằng nhiều hình thức
với hình thức cho vay có đảm bảo bằng tài sản.
* Lựa chọn phương thức cho vay phù hợp:
- Cho vay thấu chi
- Cho vay trực tiếp từng lần
- Cho vay theo hạn mức
* Công tác thẩm định khách hàng và phương án vay vốn
Để thẩm tình hình tài chính và phương án vay vốn của khách hàng,
ngân hàng tiến hành công tác sau:
- Thẩm định phi tài chính
- Phân tích tình hình tài chính
- Thẩm định phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư
* Xác định khả năng rủi ro của khoản cho vay và các biện pháp
phòng ngừa
Rủi ro chính sách và cơ chế của nhà nước; rủi ro phát sinh từ khách
hàng; rủi ro thị trường; rủi ro phát sinh từ các nguyên nhân khác.
15
* Thẩm định tài sản đảm bảo tiền vay.
Thẩm định tính hợp pháp, đầy đủ của tài sản đảm bảo tiền vay; chất
lượng và khả năng chuyển đổi thành tiền; xác định giá trị tài sản đảm bảo tiền
vay; khả năng và biện pháp kiểm soát, quản lý của ngân hàng về tài sản đảm
bảo tiền vay.
* Để đo lường rủi ro tín dụng, các ngân hàng thường sử dụng Mô
hình 6C. Mô hình 6C bao gồm các yếu tố sau:
+ Tính cách (Character)
+ Năng lực của người vay (Capacity)
+ Tiền mặt (Capital)
+ Bảo đảm tiền vay (Collateral)
+ Các điều kiện (Conditions)
nơi kinh doanh...
* Kiểm soát rủi ro tín dụng: đa dạng hoá danh mục đầu tư; sử dụng các
công cụ phát sinh; kiểm tra kiểm soát hoạt động tín dụng; phân loại nợ và trích
lập dự phòng rủi ro; xây dựng chính sách và quy trình tín dụng; xây dựng cơ cấu
tổ chức hoạt động tín dụng; xây dựng hạn mức tín dụng; bảo đảm tiền vay.
* Xử lý rủi ro tín dụng
+ Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những
tổn thất có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.
Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc, số dư cam kết ngoại bảng và hạch
toán vào chi phí hoạt động của Ngân hàng. Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự
phòng cụ thể và dự phòng chung.
+ Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể
các khoản nợ theo các nhóm để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra.
+ Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những
tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ, trích lập dự phòng
cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của ngân hàng nơi cho
vay khi chất lượng các khoản nợ suy giảm.
+ Quỹ dự phòng rủi ro là nguồn bù đắp chủ yếu của những khoản tín
dụng bị tổn thất. Việc trích lập quỹ dự phòng ở nước ta hiện nay áp dụng theo
Điều 8 Quyết định 493/2005/QĐ- NHNN như sau:
17
+ Quỹ dự phòng chung trích lập dự phòng chung bằng 0,75% tổng dư
nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 và giá trị cam kết ngoại bảng.
+ Quỹ dự phòng cụ thể: Tỷ lệ trích lập quỹ dự phòng cụ thể đối với 5
nhóm nợ như sau: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 5%; Nhóm 3: 20%; Nhóm 4:
50%; và Nhóm 5: 100%
+ Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng làm việc trực tiếp với khách hàng tới khi
khoản vay được hoàn trả một phần hoặc tất cả mà không sử dụng tới luật
Bước 1: Phân hạng rủi ro danh mục tín dụng
Mục đích của việc xếp hạng KH theo mức độ RRTD nhằm mục đích
+ Cho phép có một nhận định chung về danh mục cho vay trong bảng
cân đối của ngân hàng.
+ Phát hiện sớm các khoản cho vay có khả năng bị tổn thất hay đi
chệch hướng khỏi chính sách tín dụng đã được đề ra của ngân hàng.
+ Có một chính sách định giá chính xác hơn.
+ Xác định rõ khi nào cần tăng sự giám sát hoặc các hoạt động điều
chỉnh khoản vay hoặc ngược lại.
+ Làm cơ sở để xác định mức dự phòng rủi ro.
Các mục đích này sẽ đạt được nếu việc xếp hạng chính xác và nhất
quán trong một ngân hàng.
- Một hệ thống phân hạng rủi ro là một hệ thống ghi lại các ước tính về mức
độ rủi ro tiềm tàng trong từng khoản tín dụng của một danh mục tín dụng.
- Dựa trên những dữ liệu đã có và tầm quan trọng của từng dữ liệu, hệ
thống phân hạng sẽ có một bảng định mức rủi ro đối với từng khoản tín dụng.
- Các cấp độ rủi ro này được đánh giá trên các thông số và dữ liệu như:
+ Bảng cân đối kế toán ít nhất 3 năm và các hệ số tài chính cơ bản.
+ Kinh nghiệm, tính cách và độ tin cậy của người điều hành doanh nghiệp.
+ Lịch sử nợ vay của doanh nghiệp.
+ Mức độ rủi ro ngành kinh doanh mà khách hàng đang thực hiện.
+ Những biến động trong kinh doanh của khách hàng.
+ Trình độ của cán bộ chủ chốt.
19
- Sau khi xác định được cấp độ rủi ro của từng khách hàng như trên (theo
thiện chí và khả năng trả nợ), ngân hàng đánh giá chất lượng tài sản đảm bảo
khoản vay để có nhận định hoàn chỉnh về hướng vay và hướng xử lý sau này.
Bước 2: Giám sát việc xếp hạng rủi ro
+ Hoàn thiện hồ sơ pháp lý
- Biện pháp khắc phục
Khi các khoản vay bị xuống hạng 4, hạng 5 thì các biện pháp khắc phục
sau đây có thể áp dụng:
+ Yêu cầu bổ sung tài sản đảm bảo nợ vay
Ngay khi khoản vay có nguy cơ có vấn đề, ngân hàng phải tìm mọi cách để
tăng thêm tài sản đảm bảo, các báo báo tài chính và thông tin khác của doanh
nghiệp phải được kiểm tra kỹ để có thể xác định bổ sung thêm tài sản thế chấp.
+ Xác định phương án cơ cấu nợ
Biện pháp này được áp dụng cho các khách hàng được quyết định tiếp
tục duy trì mối quan hệ tín dụng. Khi ngân hàng quyết định duy trì mối quan
hệ tín dụng với khách hàng này bằng biện pháp cơ cấu lại nợ thì khoản nợ
phải được giám sát chặt chẽ. Các khoản nợ được cơ cấu lại này vẫn phải được
lưu trong danh mục nợ xấu cho đến khi các khoản này được trả nợ theo lịch
định lại.
+ Thu hồi nợ
Khi rà soát và kết luận khoản vay không thể phục hồi được thì ngân
hàng phải quyết định chiến lược thu hồi nhằm tận thu hồi vốn, giảm thiểu chi
phí phát sinh trong thu hồi nợ, giảm thiểu sự phản ứng của khách hàng.
- Biện pháp xử lý nợ
Khi khoản vay bị xếp xuống nhóm nợ rủi ro cao thì ngân hàng có thể áp
dụng các biện pháp xử lý sau:
+ Phát mại tài sản
+ Trả nợ thay
+ Khởi kiện
+ Bán nợ
+ Các biện pháp khuyến khích trả nợ: Miễn giảm một phần lãi suất,
tính lại lãi, không tính lãi phạt…Biện pháp này áp dụng cho các khách hàng
có thiện chí trả nợ gốc.
22
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
1.2.1. Yếu tố từ phía ngân hàng
+ Việc mở rộng hoạt động tín dụng quá mức thường tạo điều kiện cho
rủi ro tín dụng của ngân hàng tăng lên. Mở rộng tín dụng quá mức đồng nghĩa
với việc lựa chọn khách kém kỹ càng, khả năng giám sát của cán bộ tín dụng
đối với việc sử dụng khoản vay giảm xuống đồng thời cũng làm cho việc tuân
thủ chặt chẽ theo quy trình tín dụng bị lơi lỏng.
+ Trình độ cán bộ hạn chế, nhất là cán bộ tín dụng người trực tiếp
nhận hồ sơ khách hàng, phân tích và thẩm định khách hàng cũng như dự
án vay vốn. Vì vậy nếu trình độ cán bộ tín dụng không cao, thẩm định
không tốt, có thể chấp nhận cho vay những khoản vay không khả thi hoặc
bị khách hàng lừa gạt.
+ Quy chế cho vay chưa chặt chẽ, quá cụ thể hoặc quá linh hoạt đều
khiến cho NHTM gặp phải rủi ro tín dụng. Việc đánh giá giá trị tài sản thế
chấp, cầm cố cũng là vấn đề rất lớn, hiện nay đang là vấn đề nổi cộm trong
quy chế tín dụng tại các NHTM.
+ Sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu hút khách hàng giữa các
NHTM khiến cho việc thẩm định khách hàng trở nên sơ sài, qua loa hơn. Hơn
nữa, nhiều NHTM do quá chú trọng đến lợi nhuận nên đã chấp nhận rủi ro
cao, bất chấp những khoản vay không lành mạnh, thiếu an toàn.
+ Ngoài ra, còn rất nhiều nhân tố khác thuộc về NHTM gây ra rủi ro tín
dụng như: chất lượng thông tin và xử lý thông tin trong NHTM, cơ cấu tổ
chức và quản lý đội ngũ cán bộ, năng lực công nghệ…
1.2.2. Yếu tố do khách hàng
+ Đối với các doanh nghiệp, kinh nghiệm và năng lực hoạt động kinh
doanh còn đang ở trình độ thấp, hầu hết các doanh nghiệp này đều không nắm
bắt được thông tin kịp thời, thiếu thích nghi cạnh tranh. Vì vậy, khi dự án vay
vốn gặp khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng gặp vấn đề, rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng tại Trung Quốc cho thấy các khoản Nợ xấu của
ngân hàng thương mại tại nước này thường xuất phát từ:
24
Thứ nhất, dư nợ tín dụng tăng quá nhanh, trong khi cho vay những lĩnh
vực ngoài thị trường truyền thống và dựa vào thế chấp, người bảo lãnh, danh tiếng
- là những nguồn trả nợ thứ yếu - mà không đánh giá nguồn trả nợ chính.
Thứ hai, trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng có nhiều hạn chế so
với tiêu chuẩn.
Thứ ba, coi nhẹ các tiêu chuẩn an toàn tín dụng, như: cho vay với kỳ
vọng tài sản hình thành từ vốn vay sẽ có giá trị cao (tuy nhiên tình trạng sốt
và giảm giá nhà đất nghiêm trọng ở Thượng Hải gần đây đã làm cho sự kỳ
vọng vô nghĩa, giá bất động sản sụt giảm, trị giá thế chấp không đủ bù đắp
khoản vay, thanh khoản kém, nguy cơ không trả được nợ là rất lớn); tỷ lệ cho
vay trên giá trị tài sản thế chấp quá cao; cho vay đảm bảo bằng chính cổ phiếu
ngân hàng mình; cơ cấu khoản vay kém hiệu quả, cho vay quá khả năng chi
trả; không văn bản hoá thoả thuận cụ thể về mục đích và cách sử dụng khoản
vay, kế hoạch nguồn trả nợ.
Thứ tư, giám sát sau giải ngân kém; không giám sát thoả đáng các
khoản cho vay xây dựng, như đi thực địa, tiến độ rút vốn vay, thanh tra,…
không có chứng từ địa chỉ giao dịch với khách hàng vay, hồ sơ pháp lý không
đầy đủ; không thu thập, xác minh và phân tích các báo cáo trong suốt kỳ hạn
hiệu lực khoản vay; không nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo như chu kỳ
luân chuyển tồn kho và khoản phải thu chậm lại, chu kỳ các khoản phải trả
dài ra và phát sinh lỗ ròng trong kinh doanh.
Nhận biết và xử lý sớm, hiệu quả các nguyên nhân trên là điều kiện
quan trọng nhất để giảm thiểu rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương
mại ở Trung Quốc.
* Kinh nghiệm của Nhật Bản
* Kinh nghiệm của Mỹ
Thực tế, hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Mỹ cho
thấy, để việc kiểm soát rủi ro tín dụng hiệu quả cần:
Thứ nhất, nuôi dưỡng một mối quan hệ lâu dài và tổng hợp với bên đi
vay và phục vụ mọi nhu cầu về tài chính của họ. Kết quả là những người cho
vay sẽ hiểu nhiều hơn về tình hình tài chính của khách hàng và có được lợi
nhuận khi bán các sản phẩm tài chính đa dạng, trong khi đó bên vay sẽ có
được một nguồn hỗ trợ lâu dài cùng với dịch vụ tín dụng.