UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
BÁO CÁO
CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở
TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030.
Tp. Vĩnh Yên, tháng 6 năm 2013
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở
TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
Tp. Vĩnh Yên, tháng 6 năm 2013
1
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................................................ 3
I. Vai trò nhà ở đối với đời sống và phát triển kinh tế: ................................................................... 3
II. Sự cần thiết xây dựng Đề án phát triển nhà ở ............................................................................. 4
III. Cơ sở pháp lý xây dựng Chương trình ...................................................................................... 5
IV. Tài liệu tham khảo ..................................................................................................................... 6
V. Phạm vi và mục tiêu nghiên cứu................................................................................................. 6
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI.................................... 8
I. Đặc điểm, điều kiện tự nhiên ....................................................................................................... 8
II. Đặc điểm xã hội - thực trạng và dự báo đến 2030 .................................................................... 10
Nhà ở không chỉ là tài sản lớn, có giá trị của mỗi hộ gia đình, cá nhân mà
còn là yếu tố quan trọng thể hiện trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia cũng như nền văn hoá, phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, của từng vùng
miền. Trong đời sống xã hội, việc cải thiện chỗ ở là một trong những yêu cầu cấp
bách nhằm nâng cao đời sống của nhân dân. Có chỗ ở thích hợp và an toàn là một
trong những quyền cơ bản của con người, là nhu cầu không thể thiếu của mỗi hộ
gia đình, cá nhân và là điều kiện cần thiết để phát triển con người một cách toàn
diện, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phục vụ cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Do vậy, việc xây dựng và phát triển nhà ở là một trong
những yêu cầu cấp bách nhất nhằm góp phần đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời
sống nhân dân và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế ở nhiều mặt.
Nhà ở là một trong những nhu cầu cơ bản không thể thiếu đối với mỗi
người, mỗi gia đình vừa là tài sản có giá trị lớn của mỗi người dân, là nơi tái sản
xuất sức lao động và là nơi phát triển nguồn lực con người. Dưới góc độ xã hội,
quy mô và giá trị của ngôi nhà ở còn thể hiện sự thành đạt và vị trí của mỗi cá nhân
trong xã hội. Nhu cầu nhà ở luôn là vấn đề bức xúc của các tầng lớp nhân dân từ
đô thị đến nông thôn, đặc biệt là nhu cầu cải thiện chỗ ở của các đối tượng có thu
nhập thấp, người có công với cách mạng, công nhân làm việc trong khu công
nghiệp, khu chế xuất, nhà ở của sinh viên, người nghèo. Vì vậy, giải quyết tốt vấn
đề nhà ở là góp phần phát triển và ổn định nhiều mặt của xã hội.
Nhà ở có tính kinh tế, tính xã hội sâu sắc, vì vậy phát triển nhà ở không chỉ
giải quyết nhu cầu cơ bản của nhân dân mà còn góp phần chỉnh trang không gian
kiến trúc đô thị, cảnh quan và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mỗi khu vực, mỗi quốc
gia. Mặt khác, nhà ở có một vị trí quan trọng và chiếm tỷ lệ đáng kể trong quá trình
vận hành thị trường bất động sản, phát triển và quản lý tốt công tác phát triển nhà ở
sẽ góp phần quan trọng trong việc điều hành, quản lý thị trường bất động sản.
Nhà ở là nơi mà mọi tầng lớp dân cư trong xã hội luôn quan tâm, quan điểm
“An cư, lạc nghiệp” luôn được gắn liền với tâm tư tình cảm của người Việt Nam.
Do vậy, việc xây dựng và phát triển nhà ở là một trong những yêu cầu cấp bách
nhất của việc cải thiện đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh
Theo Quyết định số 2127/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
30/11/2011 về phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và
tầm nhìn đến năm 2030 nêu rõ: “Xây dựng và đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở, đặc
biệt là chỉ tiêu phát triển nhà ở vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng
thời kỳ và hàng năm của địa phương và tổ chức triển khai thực hiện" và yêu cầu
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm: "Tổ chức chỉ đạo
phát triển nhà ở trên địa bàn theo quy định của pháp luật về nhà ở; xây dựng, điều
chỉnh Chương trình phát triển nhà ở đến năm 2020; thực hiện bố trí vốn từ ngân
sách địa phương để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho các đối tượng có thu
nhập thấp, người nghèo cá các đối tượng chính sách xã hội theo quy định của pháp
luật trên phạm vị địa bàn".
Trong những năm vừa qua với những kết quả, thành tựu đạt được đã khẳng
định và nâng cao vị thế, vai trò của tỉnh Vĩnh Phúc trong Vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ, Vùng đồng bằng Sông Hồng, tạo ra thế và lực mới rất quan trọng cho sự
phát triển của tỉnh trong những năm tới. Một trong những nội dung quan trọng
trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới đã được thông qua
tại Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng Bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XV và Nghị quyết
số 15/2010/NQ-HĐND tỉnh là: "Tập trung xây dựng phát triển đô thị, nâng cao
chất lượng đô thị. Đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới theo hướng toàn
diện, bền vững, tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng, các địa phương.", " Thực
hiện tốt các chính sách xã hội; đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển. Đặc biệt quan tâm
4
công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, đẩy mạnh giảm nghèo, nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân dân".
Có thể nói, vấn đề nhà ở là lĩnh vực đã được Đảng Bộ và chính quyền các
cấp của tỉnh Vĩnh Phúc luôn quan tâm trong thời gian qua. Công tác quản lý, phát
triển nhà ở của tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều dự
Xây dựng;
- Căn cứ Quyết định số: 113/QĐ-TTg ngày 20/01/2012 phê duyệt Quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm
nhìn đến năm 2030;
5
- Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 03/12/2012 của Ban chấp hành Đảng bộ
tỉnh khoá XV về xây dựng, phát triển và quản lý đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2020,
định hướng đến năm 2030.
- Căn cứ Quyết định số: 1883/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 phê duyệt Quy
hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm
nhìn đến năm 2050;
- Căn cứ Quyết định số 4111/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh
Phúc, ngày 31 tháng 12 năm 2010 Về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội thành phố Vĩnh Yên đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030;
- Căn cứ Quyết định số 2358/QĐ-UBND ngày 20/9/2012 của UBND tỉnh
Vĩnh Phúc về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Vĩnh Phúc đến năm
2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
- Căn cứ Chương trình tổng thể xây dựng và phát triển đô thị tỉnh Vĩnh Phúc
đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
+ Quyết định số 726/QĐ-UBND ngày 27/3/2012 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc
về việc phê duyệt đề cương và chi phí lập dự án: Chương trình phát triển nhà ở tỉnh
Vĩnh Phúc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
+ Căn cứ các Quyết định của UBND tỉnh về việc phê duyệt tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội của các huyện, thị trên địa bàn tỉnh.
IV. Tài liệu tham khảo
- Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011;
- Niên giám thống kê của thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và các
Huyện: Vĩnh Tường, Yên Lạc, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Bình Xuyên.
b) Yêu cầu:
- Công tác phát triển nhà ở tỉnh Vĩnh Phúc phải phù hợp với nhu cầu nhà ở
của địa phương trong từng giai đoạn; đảm bảo tuân thủ pháp luật về nhà ở, quy
hoạch, kế hoạch do các cấp phê duyệt và các văn bản quy phạm pháp luật đã ban
hành.
- Chỉ tiêu phát triển nhà ở, đặc biệt là chỉ tiêu nhà ở xã hội phải được xác định
là một trong những chỉ tiêu cơ bản của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,
phù hợp với từng thời kỳ điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Xác định quỹ đất để đáp ứng nhu cầu phát triển nhà ở, đặc biệt là nhà ở xã
hội, nhà ở cho đối tượng có thu nhập thấp, người nghèo và các đối tượng chính
sách xã hội trên địa bàn tỉnh.
7
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI
I. Đặc điểm, điều kiện tự nhiên
1. Vị trí địa lý
Vĩnh Phúc là thuộc Vùng quy hoạch Thủ đô, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ, Vùng Đồng bằng sông Hồng; phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên
Quang, phía Đông và phía Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ.
Tỉnh có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, các huyện:
Bình Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc
Diện tích tự nhiên tính đến năm 2011 theo niên giám thống kê của Tỉnh là
1.236,5 km², Vĩnh Phúc có vị trị địa lý hết sức thuận lợi cho quá trình phát triển, có
hệ thống giao thông hết sức thuận lợi; nằm trên quốc lộ số 2, có đường sắt Hà Nội
- Lào Cai chạy qua, liền kề với cảng hàng không và sân bay quốc tế Nội Bài, là cầu
nối giữa vùng trung du miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội.
cơ lý rất thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển các khu công nghiệp.
Vĩnh Phúc có 3 nhóm đất chính: đất đồng bằng phù sa chiếm 62,2% diện tích,
tập trung phần lớn ở phía Nam; đất bạc màu chiếm 24,8%, tập trung ở vùng gò đồi
ven chân núi Tam Đảo và vùng đồi huyện Lập Thạch; đất đỏ vàng nhạt chiếm
13,1%, chủ yếu ở phía Bắc.
Nhìn chung, đất canh tác của tỉnh có độ màu mỡ kém: diện tích đất có độ mùn
dưới 1% chiếm 25,6%, từ 1 - 2% chiếm 63% và trên 2% chỉ có 11,4%.
9
3. Đặc điểm khí hậu, thủy văn
- Về khí hậu: Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm
có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 11 đến
tháng 3). Lượng mưa trung bình từ 1.500 - 1.700 mm, tập trung chủ yếu từ tháng 6
đến tháng 10, nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,1 0C, độ ẩm trung bình là 84 85%, số giờ nắng trong năm 1.400 - 1.800 giờ. Riêng vùng núi Tam Đảo, do ở độ
cao 1000 m so với mực nước biển nên có khí hậu mát mẻ (nhiệt độ trung bình 180C
), rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái. Nhìn chung khí hậu và thời tiết
hết sức ổn định, không có thiên tai lớn
- Thuỷ văn: Vĩnh Phúc có hệ thống sông ngòi rất phong phú. Chế độ thuỷ văn
của tỉnh phụ thuộc vào 2 sông chính là sông Lô và sông Hồng. Bên cạnh đó, hệ
thống các sông nhỏ (sông Phan, sông Phó Đáy...), mặc dù có mức tác động thuỷ
văn thấp hơn nhiều so với sông Hồng và sông Lô, nhưng chúng có ý nghĩa rất lớn
về thuỷ lợi. Hệ thống sông này kết hợp với các tuyến kênh mương hiện có cung
cấp nước tưới cho đồng ruộng, tạo khả năng tiêu úng mùa mưa. Ngoài ra, còn có
hệ thống hồ lớn chứa hàng triệu m3 nước (Đại Lải, Thanh Lanh, Đầm Vạc...) tạo
nên nguồn dự trữ nước phong phú, đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động kinh tế và
dân sinh.
II. Đặc điểm xã hội - thực trạng và dự báo đến 2030
1. Đơn vị hành chính
Nông thôn
Nông thôn
74%
b) Dự báo dân số:
Từ điều kiện đặc thù của tỉnh ( có vị trí sát thủ đô Hà Nội, là đầu mối giao lưu
với các tỉnh Tây - bắc Bắc Bộ,…), cùng mục tiêu sẽ phát triển thành tỉnh công nghiệp
vào năm 2030 nên ngoài số lượng dân số tăng tự nhiên, còn một lượng đáng kể lao
động ngoài tỉnh đến Vĩnh Phúc làm việc (trong các khu công nghiệp và các hoạt động
kinh tế – xã hội khác ngoài các khu công nghiệp...). Do đó, dự báo dân số của tỉnh Vĩnh
Phúc giai đoạn từ 2012 đến 2020 như sau:
Dự báo dân số tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2012(1)
Stt
Nội dung
1
2
3
Tổng dân số
Đô thị
Nông thôn
Tăng thêm thời kỳ
2012-2015 2016-2020
1.049.145 1.117.992 1,245.000
68.847
127.008
270.167
trưởng và thu ngân sách của tỉnh gặp nhiều khó khăn trong việc tìm đầu ra cho sản
phẩm, sản lượng sản xuất và bán ra đều giảm, lượng hàng tồn kho cao, nhiều
doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất. Số doanh nghiệp dân doanh tạm dừng
hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ cao (29%).
Ngoài ra Vĩnh Phúc còn có những khó khăn riêng như một số chính sách về
hạn chế phương tiện giao thông đã tác động trực tiếp đến phát triển và tăng trưởng
kinh tế của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng đạt thấp so với kế hoạch đầu năm và bằng kế
hoạch điều chỉnh. Ước tăng 2,52% so với năm 2011 (KH tăng 2-2,5%), trong đó:
khu vực công nghiệp - xây dựng giảm 0,19%, bằng 99,9% kế hoạch; khu vực dịch
vụ tăng 9,78% bằng 104,0% kế hoạch và khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm
3,69%, bằng 93,2% kế hoạch. Cơ cấu tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP) theo giá thực
tế khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 53,4%, khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ
sản chiếm 13,5%, khu vực dịch vụ chiếm 33,1%. Tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP)
bình quân đầu người (theo giá thực tế) ước đạt 47,4 triệu đồng, tăng 10% so với năm
2011.
STT
1
2
3
Cơ cấu kinh tế theo
nhóm ngành nghề
Ngư nông lâm nghiệp
Công nghiệp xây dựng
Dịch vụ
Tổng
Đơn vị
Năm 2012
Đơn vị
Năm 2012
Năm 2015
Năm 2020
%
%
%
%
13,5
53,4
33,1
100
7
61
32
100
3,5
58,5
38
100
Đến năm 2015 cơ cấu kinh tế là : Ngư, nông, lâm nghiệp chiếm 7%; Công
nghiệp, xây dựng chiếm 61%; Dịch vụ chiếm 32%.
nay.
* Giải quyết dứt điểm các điểm nóng ô nhiễm nguồn nước; xử lý nước thải
tại các khu công nghiệp đạt tiêu chuẩn môi trường; hoàn thiện hệ thống cấp nước
sạch cho các khu vực đô thị.
* Tỷ lệ dân cư đô thị được cấp nước sạch đạt 82,5% năm 2015 và trên 95%
năm 2020.
13
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHÀ Ở CỦA TỈNH VĨNH PHÚC
I. Lịch sử phát triển tỉnh Vĩnh Phúc
1.1. Giai đoạn trước năm 1954
Vĩnh Phúc trước năm 1954 gồm 2 tỉnh Vĩnh Yên và tỉnh Phúc Yên. Tỉnh
Vĩnh Yên được thành lập ngày 29/12/1899. Địa bàn của tỉnh bao gồm huyện Bình
Xuyên tách từ phủ Phú Bình tỉnh Thái Nguyên, toàn bộ phủ Vĩnh Tường gồm 5
huyện là Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam Dương, Yên Lạc và phủ Yên Lãng tách từ
tỉnh Sơn Tây. Năm 1901 phủ Yên Lãng tách khỏi tỉnh Vĩnh Yên nhập vào tỉnh
Phù Lỗ.
Tỉnh Phúc Yên được thành lập ngày 06/10/1901 lúc đầu mang tên Phù Lỗ.
Địa bàn tỉnh gồm 3 huyện cắt từ tỉnh Bắc Ninh sang là huyện Kim Anh, huyện
Đông Khê (năm 1903 huyện Đông Khê đổi thành Đông Anh) và huyện Đa Phúc.
Thời kỳ thuộc Pháp ( trước năm 1945) mỗi tỉnh đều có thị xã tỉnh lỵ riêng,
các đô thị tỉnh lỵ Vĩnh Yên và Phúc Yên, thị trấn nghỉ mát Tam Đảo được hình
thành và phát triển khang trang nhưng chủ yếu phục vụ cho bộ máy hành chính cai
trị của chế độ phong kiến và thuộc địa như nhiều tỉnh lỵ khác. Quy mô dân số mỗi
đô thị còn rất nhỏ bé.
1.2. Thời kỳ từ 1955 đến 1997
Sau 1955, Vĩnh Yên và Phúc Yên được hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phúc. Khi
1.3. Thời kỳ 1997 đến nay
- Tháng 11/1996 Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ X đã ra Nghị định tách tỉnh
Vĩnh Phú thành 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Thực hiện Nghị quyết trên, tỉnh
Vĩnh Phúc được tái lập và chính thức đi vào hoạt động từ 01/01/1997.
- Tháng 9/1998 huyện Tam Đảo tách thánh 2 huyện Tam Dương và Bình
Xuyên. Ngày 09/12/2003 Chính phủ ra Nghị định số 153/2003/NĐ-CP thành lập
thị xã Phúc Yên và huyện Tam Đảo mới.
- Ngày 01/12/2006 Chính phủ ra Nghị định số 146/2006/NĐ-CP thành lập
thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ngày 01/08/2008 huyện Mê Linh được nhập về Hà Nội theo Nghị quyết
của Quốc hội nước Cộng Hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về mở rộng Thủ đô.
- Tháng 1/2009, Chính phủ ra Nghị định số 09/NĐ-CP thành lập huyện
Sông Lô trên cơ sở chia tách huyện Lập Thạch cũ.
Stt
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Huyện/Thành phố/Thị xã
Thành phố Vĩnh Yên
Thị xã Phúc Yên
Bình Xuyên
Lập Thạch
Sông Lô
gia cũng như nền văn hoá, phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, của từng vùng
miền.
Nhà ở là một bộ phận của ngành xây dựng tuy nhiên nó có vị trí rất quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người dân trong xã hội,
thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các ngành phụ trợ. Những năm gần đây lĩnh vực
nhà ở đã có những chuyển biến khá rõ nét, số lượng nhà ở, diện tích bình quân đầu
người đã được tăng lên nhiều lần so với thời gian trước đó, chất lượng nhà ở, điều
kiện và môi trường sống của người dân ngày càng được cải thiện, mô hình cuộc
sống văn minh hiện đại tại các khu đô thị đã dần thay thế cho các khu nhà ổ chuột,
nhà ở tạm bợ, mất vệ sinh, các hộ gia đình nghèo, các đối tượng có khó khăn về
nhà ở cũng từng bước được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện để tạo lập chỗ ở ổn
định.
B. Dự báo tiến bộ khoa học công nghệ và phát triển nhà ở của khu vực,
của nhà nước tác động đến phát triển nhà ở của tỉnh
Cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học, công nghệ trong các lĩnh vực
khác của nền kinh tế thì trong lĩnh vực nhà ở, các chủ đầu tư cũng đã từng bước áp
dụng những tiến bộ khoa học trong việc xây dựng nhà ở để đẩy nhanh tiến độ các
dự án, bảo đảm chất lượng và an toàn hơn đối với nhà ở, sử dụng các vật liệu công
nghệ mới, tiết kiệm các nguyên vật liệu xây dựng, giúp giảm chi phí đầu vào để hạ
giá thành sản phẩm.
Các nhà ở cao tầng được thiết kế hiện đại, xây dựng với những công nghệ
mới, với sự chuyển giao kinh nghiệm của các chủ đầu tư nước ngoài, cùng với đội
ngũ chuyên gia, cán bộ tư vấn có trình độ, có tay nghề cao đã từng bước tạo ra sản
phẩm nhà ở đa dạng, có chất lượng và đáp ứng được yêu cầu về an toàn trong quá
trình sử dụng cho người dân góp phần làm cho chất lượng nhà ở, kiến trúc về nhà ở
của tỉnh ngày một tốt hơn.
Hoạt động quản lý dự án sau đầu tư và thực hiện các dịch vụ liên quan đến
việc sử dụng nhà ở cũng ngày một đổi mới, bảo đảm cuộc sống của cư dân tại các
16
kiên cố (chiếm 2,3%), 87.136 m2 với 2.905 căn nhà đơn sơ (chiếm 1,18%).
1. Thành phố Vĩnh Yên
1.1. Về các số liệu cơ bản
- Loại đô thị: Loại III
- Tổng dân số: 96.876 người, chiếm 9,55% dân số toàn tỉnh.
- Bình quân nhân khẩu: 3,52 người/hộ.
- Diện tích nhà ở: 2.196.246 m2.
- Bình quân diện tích nhà ở: 22,7m2 /người.
17
- Nhà kiên cố: 21.359 căn;
- Nhà bán kiên cố: 1.495 căn.
- Nhà thiếu kiên cố: 119 căn;
- Nhà đơn sơ: 31 căn.
1.2. Về hiện trạng nhà ở; hạ tầng xã hội , kỹ thuật khu vực đô thị
Hơn 10 năm trước, Vĩnh Yên còn là một đô thị nghèo, giờ đây Thành phố
Vĩnh Yên là trung tâm chính trị, kinh tế của toàn tỉnh Vĩnh Phúc. Bộ mặt của đô thị
đã thay đổi nhanh chóng, hệ thống đường giao thông ở các phố được trải thảm
nhựa bê tông, nâng cấp thường xuyên; hệ thống điện chiếu sáng đô thị đều được
trang bị ở hầu hết các tuyến phố; các công trình nhà ở của người dân được đầu tư
kiên cố với kiến trúc hiện đại, có tính thẩm mỹ cao.
Với tính chất là đô thị mới; đang trên đà phát triển mạnh nhưng quỹ đất dành
cho phát triển nhà ở hầu như không còn nhiều. Để hạn chế tăng trưởng nóng mật
độ xây dựng tại khu vực trung tâm Thành phố, tới đây việc xây dựng nhà cần được
+
Nhà
trọ
19
Trên địa bàn thành phố có khu công nghiệp Khai Quang với quy mô lớn, tập
trung 22.735 công nhân, đây là khu công nghiệp giải quyết được lượng lớn nhu cầu
cho lao động tại địa phương và thu hút các lao động từ nơi khác đến làm việc, tuy
nhiên số lượng nhà được đầu tư xây dựng dành cho công nhân thuê chưa phù hợp
với nhu cầu của công nhân.
Nhà trọ do người dân đầu tư xây dựng rất nhiều nhưng chất lượng thấp để
cho thuê với giá rẻ phục vụ nhu cầu ở của công nhân. Nhà loại này là do người dân
khu vực lân cận các khu công nghiệp được xây dựng tự do với quy mô, chất lượng
rất thấp để cho thuê. Các loại nhà này không có sự đầu tư đồng bộ về hạ tầng kỹ
thuật, xã hội, vệ sinh môi trường nên không đảm bảo điều kiện sinh hoạt và sức
khoẻ cho người lao động, đồng thời tạo ra kiến trúc chắp vá tác động xấu đến hình
ảnh chung của đô thị.
+ Nhà ở chính sách xã hội:
Đối với các chủ đầu tư khi lập quy hoạch xây dựng các khu nhà ở thương
mại có diện tích từ 10 ha trở lên và các dự án khu đô thị mới đều phải dành tối
thiểu 20% diện tích đất ở của dự án để đầu tư xây dựng nhà ở cho người có thu
nhập thấp.
Hiện nay tại thành phố Vĩnh Yên, dự án của Công ty CP Vinaconex Xuân
Mai với tổng diện tích sàn 49.955 m2 tương đương 532 căn; đáp ứng được 1596
người. Dự án đã đưa vào sử dụng 4 nhà 5 tầng; 2 nhà 11 tầng; còn lại 01 nhà 19
tầng xây dựng xong phần thô đang hoàn thiện; 01 nhà 19 tầng chưa xây dựng; Dự
án của Công ty Cổ phần ĐTXD Bảo Quân: tổng diện tích sàn 19.230 m2, tương
đương 195 căn; diện tích ở 13.038 m2 đáp ứng được 756 người. Dự án Đã xây
dựng xong 02 nhà 5 tầng (A4, A5) còn lại khối nhà 15 tầng mới xây xong phần móng.
Hệ thống giao thông liên thôn, liên xã đã được bê tông hóa khá phát triển
(đạt 90%), các công trình như trường học, bưu điện, nhà văn hoá xã, trạm xá đã
được kiên cố hoá, tuy nhiên nguồn nước cấp sinh hoạt, dân sinh trong khu vực chủ
21
yếu sử dụng giếng khoan, chưa có hệ thống cung cấp nước sạch tập trung. Tình
trạng thoát nước thải, nước sinh hoạt của các hộ dân và các công trình công cộng
đều được cho xả tự nhiên, vệ sinh môi trường thu gom rác thải không có.
Theo đề án xây dựng nông thôn mới, đến nay, 2 xã đã hoàn thành việc quy
hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới; xã Định Trung hoàn thành 10/19 tiêu chí
và Thanh Trù đạt 5/19 tiêu chí.
1.4 Định hướng phát triển đô thị
- Theo Quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc đến
năm 2030: Hình thành cấu trúc đô thị với mục tiêu phát triển thành phố Vĩnh Yên,
hiện tại là đô thị loại III, trở thành đô thị trung tâm loại I vào năm 2030.
- Thành phố Vĩnh Yên trong tương lai là thành phố sinh thái, có chức năng
tổng hợp.
- Thành phố Vĩnh Yên là thành phố dịch vụ, du lịch tầm cỡ quốc gia và quốc
tế. Hệ thống kết cấu hạ tầng đa dạng, hiện đại, đồng bộ liên hoàn kết nối thông suốt
trong thành phố và với tất cả các địa phương trong nước và quốc tế.
- Khi Tỉnh Vĩnh Phúc phát triển thành Thành phố Vĩnh Phúc, thì thành phố
Vĩnh Yên hiện nay trở thành khu đô thị lõi của thành phố Vĩnh Phúc.
2. Thị xã Phúc Yên
2.1. Về các số liệu cơ bản
- Loại đô thị: Loại III.
- Tổng dân số: 93.744 người, chiếm 9,3% dân số toàn tỉnh.
- Bình quân nhân khẩu: 3,54 người/hộ.
- Diện tích nhà ở: 2.006.989 m2, bình quân diện tích nhà ở: 21,5m2 /người.
- Nhà kiên cố: 19.732 căn;
hầu hết nhà được xây mới độ cao từ 1 đến 5 tầng, cùng nhiều hình thái kiến trúc
khác nhau; tuy nhiên vẫn tồn tài một số nhà cấp 4 xây dựng cùng đó tạo ra hình
ảnh không đẹp về đô thị.
+ Nhà ở chung cư: Gồm một số công trình nhà ở chung cư được xây dựng
với quy mô 5 tầng là loại nhà với kết cấu tường chịu lực, sử dụng hệ thống hành
lang bên và cơ cấu căn hộ nhỏ hẹp khoảng từ 20 m đến 30 m, cơ cấu căn hộ với
diện tích nhỏ. Hầu hết các công trình này đã xuống cấp không còn phù hợp với
điều kiện sinh hoạt và sử dụng hiện nay.
Mặt khác, trong những năm gần đây Phúc Yên mở cửa chào đón các doanh
nghiệp vào đầu tư, các khu công nghiệp liên tiếp được xây dựng như KCN Kim
Hoa, KCN Phúc Yên, và các nhà máy quy mô đầu tư lớn như Honda, Toyota…
23
dẫn đến nhu cầu về nhà ở cho công nhân và người lao động ngày một tăng cao.
Trước những nhu cầu vô cùng bức xúc đó, loại hình nhà chung cư, tập thể cho
người lao động và công nhân là một giải pháp khá hoàn hảo. Đem đến cho người
lao động chỗ nghỉ ngơi sạch sẽ, thoáng mát, gần nơi làm việc và thuận tiện trong di
chuyển.
+ Nhà ở chính sách xã hội: Nhà ở loại này là những khu chung cư, khu tập
thể xây dành cho CBCNVC. Cũng giống như các đô thị khác, đất và nhà ở dạng
cấp 4 hầu hết đã được chuyển sang sở hữu riêng cho các hộ gia đình hoặc cá nhân,
vì thế quỹ nhà ở xã hội không có nhiều. Với tình hình phát triển và đô thị hóa như
hiện nay nhu cầu về nhà ở xã hội tại thị xã Phúc Yên rất cần thiết.
Hiện nay mô hình xây dựng nhà dành cho người thu nhập thấp được các
doanh nghiệp thực hiện tại trên địa bàn thị xã khá nhiều như: Công ty cổ phần Đầu
tư xây dựng Hoài Nam, Công ty TNHH Đại Phát, Công ty cổ phần TMS bất động
sản…đang ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư; Công ty cổ phần Dịch vụ thương mại