Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6 36 tháng tuổi và kiến thức, thực hành nuôi con của bà mẹngười chăm sóc trẻ huyện văn lãng, tỉnh lạng sơn, 2014 - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ 636 tháng tuổi và kiến thức, thực hành nuôi
con của bà mẹ/người chăm sóc trẻ huyện
Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, 2014

BÁO CÁO MÔN THỰC TẾ CỘNG ĐỒNG

HÀ NỘI – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-36 tháng tuổi và kiến
thức, thực hành nuôi con của bà mẹ/người chăm sóc trẻ huyện
Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, 2014

BÁO CÁO MÔN THỰC TẾ CỘNG ĐỒNG
Cao học Dinh dưỡng khoá 22
Bác sỹ nội trú Dinh dưỡng khoá 38

HÀ NỘI – 2015



ARI

Acute Respiratory Infection (Nhiễm khuẩn hô hấp cấp)

BM

Bà mẹ

BT

Bình thường

CC/T

Chiều cao theo tuổi

CI

Confidence Interval (Khoảng tin cậy)

CN/CC

Cân nặng theo chiều cao

CN/T

Cân nặng theo tuổi

HAZ


SDD

Suy dinh dưỡng

SE

Standard Error (Sai số chuẩn)

TH

Thực hành

TTDD

Tình trạng dinh dưỡng

UNICEF

United Nation Children Fund (Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc)

WAZ

Weight for age (Cân nặng theo tuổi)

WHO

World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

WHZ


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 3.1. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân theo tuổi.....................................................................33
Hình 3.2. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi theo nhóm tuổi.................................................................34


Hình 3.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gày còm theo nhóm tuổi...........................................................34
Hình 3.4: Tỷ lệ Protein, Lipid, Glucid chung trong bữa ăn của trẻ em lứa tuổi 6-11 huyện Văn Lãng
– Lạng Sơn so với khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng......................................................................36
Hình 3.5: Tỷ lệ Protein, Lipid, Glucid chung trong bữa ăn của trẻ em lứa tuổi 12-36 huyện Văn Lãng
– Lạng Sơn so với khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng......................................................................37


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng thiếu protein - năng lượng và các vi chất
dinh dưỡng, thường gặp nhiều nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi, hậu quả dẫn đến không
những trẻ suy giảm về khả năng nhận thức, sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến tiềm
năng phát triển kinh tế xã hội, trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong.
Mặc dù trong những năm qua tỷ lệ SDD trẻ em nước ta đã giảm đi ở mức
nhanh do có một số chương trình can thiệp so với trước đây. Theo báo cáo của Viện
Dinh dưỡng về tình trạng SDD trẻ em dưới 5 tuổi chung của cả nước năm 20002012 là tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân giảm từ 33,8% năm 2000 xuống
còn 16,2% năm 2012, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi năm 2000 là 36,5% giảm
xuống còn 26,7% năm 2012, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm năm 2000 là 8,6%
giảm xuống còn 6,7% năm 2012 [1-3]. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn còn ở mức cao so
với phân loại của WHO và còn có sự khác biệt khá lớn giữa các vùng/miền, đặc biệt
là suy dinh dưỡng thấp còi - ảnh hưởng đến chiều cao, tầm vóc của người Việt Nam
[4]. Theo kết quả giám sát hàng năm của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ SDD còn rất cao ở
các tỉnh miền núi, nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số với tỷ lệ nhẹ cân từ

- Bú mẹ hoàn toàn: Là thực hành trong đó đứa trẻ chỉ được ăn sữa mẹ qua bú
trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua vắt sữa mẹ hoặc bú trực tiếp người khác, ngoài ra
không ăn bất cứ loại thức ăn đồ uống nào khác. Các thứ khác ngoại lệ được chấp
nhận là các dạng giọt dung dịch có chứa vitamin, khoáng chất hoặc thuốc.
- Cho trẻ ăn bổ sung [6]: để đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ từ sáu tháng
tuổi trở lên, cần cho trẻ ăn bổ sung trong khi trẻ tiếp tục được bú mẹ. Các thực
phẩm cho trẻ ăn bổ sung có thể được chuẩn bị riêng hoặc từ chính bữa ăn gia đình.
Theo WHO, không nên cho trẻ giảm bú khi bắt đầu cho ăn bổ sung; thức ăn bổ sung
nên được cho ăn bằng thìa hay cốc, không nên cho vào bình sữa; thực phẩm phải
sạch, an toàn và sẵn có ở địa phương; cần nhiều thời gian để trẻ nhỏ học cách ăn
thức ăn đặc; thức ăn bổ sung phải đa dạng, theo ô vuông thức ăn bổ sung với 4
nhóm thực phẩm với trung tâm là sữa mẹ.

Thức ăn giàu Protid
Thức ăn cơ bản

- Thịt các loại

- Ngũ cốc: gạo, mỳ, ngô.

- Cá và thủy sản

- Khoai củ

- Trứng, sữa
- Đậu, đỗ các loại

SỮA MẸ



đối mặt với điều kiện chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng kém là Indonesia (28%),
Philippine (28%) và Việt Nam (21%) [12].
1.2.2. Tình hình SDD Protein – năng lượng tại Việt Nam.


5

Năm 2012, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em nước ta là 16,2% theo chỉ tiêu cân
nặng/tuổi (CN/T), trong đó SDD vừa (độ I) là 14,5%, SDD nặng (độ II) là 1,6% và
SDD rất nặng (độ III) là 0,1% (theo phân loại của WHO) [3, 13, 14].
Tỷ lệ trẻ em SDD theo chỉ tiêu chiều cao/tuổi (CC/T) năm 2012 toàn quốc là
26,7%, SDD độ I là 15,5%, SDD độ II là 11,2% [3]. Tỷ lệ SDD theo chỉ tiêu cân
nặng/chiều cao (CN/CC) là 7,1% [3].
Phân bố SDD không đồng đều ở các vùng sinh thái khác nhau. Khu vực miền
núi, Tây Nguyên, miền Trung tỷ lệ cao hơn hẳn so với các vùng khác, nông thôn
cao hơn thành thị, miền núi cao hơn đồng bằng, dân tộc thiểu số cao hơn các dân
tộc khác, đặc biệt là các vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lụt... Theo điều tra
dinh dưỡng toàn quốc năm 2012 cho thấy tỷ lệ SDD thể nhẹ cân cao nhất ở vùng
núi như Tây Nguyên 25%, trung du và miền núi phía Bắc 20,9%; khu vực phía Bắc
miền Trung 19,5%; đồng bằng sông Cửu Long 14,8%; đồng bằng sông Hồng 11,8%
và thấp nhất ở Đông Nam Bộ 11,3% [3].
Bảng 1.1 Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo các vùng ở Việt Nam năm 2012
Tên vùng
Toàn quốc
Đồng bằng sông Hồng
Trung du và miền núi phía Bắc
Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung
Tây Nguyên
Đông Nam bộ
Đồng bằng sông Cửu Long

6,8

1.3. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng.
1.3.1. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng.
Mô hình cho thấy nguyên nhân của SDD là đa dạng, có mối quan hệ chặt chẽ
với vấn đề y tế, lương thực-thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình
[15-18]. Mô hình chỉ ra các nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân cơ bản, nguyên
nhân sâu xa và các yếu tố ở cấp độ này ảnh hưởng đến cấp độ khác.
Nguyên nhân trực tiếp phải kể đến là thiếu ăn về số lượng hoặc chất lượng


6

(tình trạng nghèo đói) và mắc các bệnh nhiễm khuẩn [15, 19]. Trẻ em lứa tuổi từ 05 là đối tượng bị SDD cao nhất [15, 20] bởi vì cơ thể ở giai đoạn này phát triển
nhanh, nhu cầu dinh dưỡng rất cao và không được ăn bổ sung đầy đủ các chất dinh
dưỡng. Người ta thường cho rằng những vùng ăn chủ yếu các loại ngũ cốc, củ
thường hay dẫn đến thiếu protein, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây lại cho thấy
khẩu phần ăn của trẻ thiếu năng lượng trầm trọng, ngay cả khi mức thiếu protein
mới ở mức đe doạ [15, 21].
Sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời gian bị SDD
và thể loại SDD [2, 15, 16]. Các quan niệm dinh dưỡng sai lầm của người mẹ hoặc
gia đình trong vấn đề chăm sóc thai sản, nuôi con bằng sữa mẹ và thức ăn bổ sung
là những nguyên nhân quan trọng, trực tiếp làm cho trẻ dễ bị SDD. Trẻ không được
bú sữa mẹ, hoặc bú chai nhưng số lượng sữa không đủ, dụng cụ bú sữa không đảm
bảo vệ sinh đều có thể dẫn đến SDD. Khi cho ăn bổ sung muộn, như ở một số nước
châu Phi, các trường hợp SDD nặng thường xảy ra vào năm thứ 2 [22]. Cho ăn bổ
sung quá sớm, hoặc cho trẻ ăn thức ăn đặc quá muộn, số lượng không đủ và năng
lượng, protein trong khẩu phần ăn thấp cũng dễ dẫn tới SDD.



trực tiếp

Môi trường sức
khoẻ

đình
Nguồn lực cho y tế
Nguồn lực cho chăm sóc
- Cung cấp nước
- Kiểm soát nguồn lực và
sạch
tự quyết của người chăm
- Vệ sinh đầy đủ
sóc trẻ.
- Có chăm sóc y tế
-Tình trạng sức khoẻ thể
chất và tinh thần của người
-An toàn môi
chăm sóc trẻ
trường
- Kiến thức và niềm tin của
người
chăm
sóc trẻ.
Hình 1: Mô
hình
nguyên
nhân - hậu quả SDD của UNICEF[11]

Nguồn lực cho an

cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kỳ mang thai, cho sự phát triển và
lớn lên của thai nhi, trẻ sinh ra có cân nặng >2500g. Nhiều nghiên cứu thấy rằng các
yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ sơ sinh có cân nặng thấp trước tiên là tình trạng dinh
dưỡng kém của người mẹ trước khi có thai và chế độ ăn không cân đối, không đủ
năng lượng - dinh dưỡng khi mang thai.
Những bà mẹ trong khi mang thai lao động nặng nhọc, không được nghỉ ngơi
đầy đủ cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới cân nặng sơ sinh.
1.3.2.2.

Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ.

Theo khuyến cáo của WHO sau khi sinh, đứa trẻ cần được cho bú mẹ càng
sớm càng tốt thậm chí ngay trong 1 giờ đầu sau sinh và bú mẹ hoàn toàn cho tới tận
6 tháng [23], vì bú sớm có lợi ích cho cả mẹ và con:
- Bú sớm giúp trẻ tận dụng được sữa non, là loại sữa tốt, hoàn hảo về dinh
dưỡng và các chất sinh học thích ứng với cơ thể non nớt của trẻ.
- Bú sớm sẽ kích thích sữa mẹ tiết sớm hơn và nhiều hơn qua cung phản xạ
prolactin.
- Bú sớm cũng giúp cho sự co hồi tử cung tốt hơn ngay sau đẻ, hạn chế mất
máu.
- Bú sớm ngay sau đẻ tạo sự bền chặt tình cảm mẹ con trong suốt cuộc đời sau
này [7, 23, 24].
- Trong vòng 4-6 tháng đầu cuộc đời, đặc biệt trong 6 tháng đầu trẻ cần được
nuôi dưỡng hoàn toàn bằng sữa mẹ mà không ăn thêm thức ăn gì khác kể cả nước
uống vì người mẹ bình thường. Bản thân người mẹ có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu
dinh dưỡng mà đứa trẻ cần, mọi thức ăn thêm khác trong giai đoạn này đều có thể
mang đến cho trẻ các rủi ro về sức khỏe [8, 23, 25].
- Trẻ dưới 1 tuổi, sữa mẹ là thức ăn quí giá nhất mà không một thức ăn nhân
tạo nào có thể so sánh. Trẻ cần được bú mẹ thường xuyên, bú kéo dài tới 18-24


bổ sung hợp lý cho trẻ phải có sự phối trộn đầy đủ giữa 4 nhóm thực phẩm đã nêu
trên [6].


10

Số bữa ăn cần bổ sung trong ngày: Với trẻ từ 7 - 9 tháng tuổi ngoài sữa mẹ cần
ABS 2-3 bữa bột đặc(10-15%) + nước hoa quả nghiền; Trẻ 10 - 12 tháng ngoài sữa
mẹ cần thêm 3 bữa bột đặc (20%) + hoa quả nghiền; Trẻ 13 - 24 tháng ngoài sữa mẹ
cần 3 bữa cháo + hoa quả .Trên 24 tháng tuổi: ăn 3 bữa cùng gia đình với ưu tiên
các thức ăn giàu chất dinh dưỡng, như 1 chén cơm với thịt, cá, rau xanh với 2 - 3
bữa phụ (sữa, sữa chua, bánh, cháo, bột) [26]. Đây là thời kỳ bà mẹ rất dễ mắc
những sai lầm trong nuôi dưỡng trẻ do thiếu kiến thức và kỹ năng trong việc cho trẻ
ăn bổ sung đầy đủ, hợp lý.
1.3.2.4. Một số yếu tố khác.
- Điều kiện kinh tế gia đình, tình trạng thiếu ăn, tình trạng văn hóa của bà mẹ
ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ.
Vấn đề chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau khi sinh còn yếu, tỷ lệ
nạo hút thai cao, một số bệnh máu, bệnh mạn tính của bà mẹ có ảnh hưởng đến sức
khỏe và dinh dưỡng đứa con sau này.
- Môi trường sống không đảm bảo vệ sinh, hố xí không đạt tiêu chuẩn cao, tập
quán sử dụng phân tươi để tưới rau gây ô nhiễm môi trường, tăng tỷ lệ mắc bệnh
giun sán.
- Các bệnh được xếp hàng đầu thường gặp ở trẻ em đó là ỉa chảy và nhiễm
khuẩn hô hấp cấp. Số lần mắc trung bình của trẻ em trong 1 năm bệnh ỉa chảy là 2,2
lần, viêm phổi là 1,6 lần.
- Nhiễm khuẩn dễ đưa đến SDD do rối loạn tiêu hoá và ngược lại, SDD dễ dẫn
tới nhiễm khuẩn do đề kháng giảm. Khi trẻ bị bệnh cơ thể tiêu hao nhiều năng
lượng và các chất dinh dưỡng, cảm giác thèm ăn giảm, tiêu hoá, hấp thu kém, mức
cung cấp chất dinh dưỡng giảm, các chất dinh dưỡng không đủ đáp ứng nhu cầu cơ

đời thiếu niên.
1.4.3. Suy dinh dưỡng và sức khỏe khi trưởng thành.
Thiếu dinh dưỡng ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi khả năng
học hành của trẻ, khả năng lao động đến tuổi trưởng thành.


12

Thiếu dinh dưỡng trẻ em thường để lại những hậu quả nặng nề. Gần đây,
nhiều bằng chứng cho thấy thiếu dinh dưỡng ở giai đoạn sớm, nhất là trong thời kỳ
bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của đời người. Hậu quả của thiếu dinh
dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ. Phụ nữ đã từng bị thiếu dinh dưỡng trong
thời kỳ còn là trẻ nhỏ hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn lên trở thành bà
mẹ bị thiếu dinh dưỡng. Bà mẹ bị thiếu dinh dưỡng thường dễ đẻ con nhỏ yếu, cân
nặng sơ sinh thấp. Hầu hết những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp bị thiếu dinh dưỡng
(nhẹ cân hoặc thấp còi) ngay trong năm đầu sau sinh. Những trẻ này có nguy cơ tử
vong cao hơn so với trẻ bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường .
Barker nêu ra giả thuyết mới về nguồn gốc bào thai của một số bệnh mạn tính.
Theo ông, các bệnh tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hoá ở người trưởng
thành có thể có nguồn gốc từ suy dinh dưỡng bào thai. Vì thế, phòng chống suy
dinh dưỡng bào thai hoặc trong những năm đầu tiên sau khi ra đời có một ý nghĩa
rất quan trọng trong dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời [3].
1.5. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em.
1.5.1. Các chỉ tiêu đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em.
Các nhóm chỉ tiêu thường được dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của
trẻ em [34-37]:
+ Nhân trắc học.
+ Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống.
+ Các thăm khám thực thể/ dấu hiệu lâm sàng đặc biệt chú ý tới các triệu
chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng.

dưỡng là cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao
(CN/CC) [15]. Từ năm 2006, WHO khuyến cáo áp dùng quần thể chuẩn của WHO
2005: Đánh giá bằng CN/T, CC/T, CN/CC dựa vào số trung bình và độ lệch chuẩn của
quần thể WHO 2005 [38]. Hiện nay, WHO đề nghị lấy điểm ngưỡng < 2 độ lệch chuẩn
(< -2SD) so với quần thể WHO 2005 để đánh giá trẻ bị suy dinh dưỡng .
Chỉ số Z- Score được tính theo công thức:

Kích thước đo được – số trung bình của quần thể chuẩn

Z- Score =

Độ lệch chuẩn của quần thể chuẩn

Bảng 1.2. Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng trẻ em
Chỉ tiêu
Phân loại

Nhẹ cân

Thấp còi

Gầy còm


14

Bình thường

≥ -2SD



15

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu:
2.1.1 Thời gian: Từ tháng 10/2014 - 1/2015
2.1.2

Địa điểm nghiên cứu: huyện Văn Lãng - Lạng Sơn

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu:
• Trẻ em từ 6-36 tháng tuổi tại huyện Văn Lãng - Lạng Sơn
• Bà mẹ của các trẻ tham gia nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả.
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu.
Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu cho nghiên cứu cắt ngang, một tỷ lệ:

Trong đó:
− n: Cỡ mẫu xác định


Z1-α/2: Giá trị giới hạn tương ứng với độ tin cậy. Ứng với độ tin cậy
95% (α =0,05) thì Z1-α/2 =1,96

− α: là mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 0,05
− p: tỷ lệ thấp còi của trẻ em Lạng Sơn năm 2013[39], p = 0,276
− d: sai số tuyệt đối, chọn d = 0,05
Thay các giá trị trên vào công thức tính cỡ mẫu ta được cỡ mẫu nghiên cứu

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu cụm.
• Bước 1: Tại huyện chọn ngẫu nhiên 2 xã bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn
(bốc thăm hoặc sử dụng phần mềm Excel).
• Bước 2: Tại 2 xã đã được chọn, chọn ngẫu nhiên 310 trẻ em từ 6 đến 36
tháng tuổi từ danh sách uống vitamin A hàng năm.
Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng:
• Trẻ mắc các dị tật bẩm sinh
• Trẻ mắc các bệnh mãn tính hoặc nhiễm trùng nặng tại thời điểm điều tra
• Mẹ của trẻ mắc các bệnh tâm thần, không có khả năng trả lời phỏng vấn
• Bố, mẹ trẻ không đồng ý và cam kết tham gia nghiên cứu
2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp thu thập:
2.2.3.1. Chuẩn bị trước khi thu thập số liệu:
Tiền trạm, chuẩn bị trước nghiên cứu, đề nghị Sở Y tế, Trung tâm Chăm sóc
Sức khỏe Sinh sản, Trung tâm Y tế huyện, các xã tiến hành nghiên cứu chỉ đạo tổ
chức thực hiện và hỗ trợ trong quá trình triển khai. Cán bộ xã và cộng tác viên y tế
thông báo cho đối tượng được chọn tham gia nghiên cứu trước khi tiến hành điều
tra để đảm bảo đủ số lượng mẫu theo yêu cầu.


17

Tập huấn cho điều tra viên trước khi triển khai tại thực địa để bảo đảm tính
thống nhất và chất lượng của bộ số liệu.
2.2.3.2. Thu thập số liệu và các chỉ tiêu đánh giá:
a. Cách tính tuổi của trẻ: Dựa theo ngày tháng năm sinh và ngày điều tra
Tính tuổi theo năm theo quy ước của Tổ chức Y tế Thế giới được tính như sau [40]:
-

Từ sơ sinh đến 11 tháng 29 ngày (năm thứ nhất): 0 tuổi


Sử dụng thước bằng gỗ, có độ chia chính xác tới milimét. Chiều dài được ghi
theo cm và 1 số lẻ. Thước được đặt theo phương nằm ngang, tại địa điểm sạch, chắc
chắn, an toàn. Trẻ bỏ guốc, dép đi, chân không, bỏ tất cả các trang sức trên tóc, bỏ
búi, buộc tóc, đặt trẻ nằm ngửa trên thước đo, đầu trẻ chạm vào chặn trên của thước
đo. Gót chân, bắp chân, mông, vai, đầu (5 điểm chạm) theo một đường thẳng áp sát
vào thước đo, mắt trẻ nhìn thẳng, vuông góc với thước, 2 tay đặt 2 bên thân mình.
Kéo phần chặn của thước cho tới khi nào chạm vào gót chân của trẻ, nhìn vuông
góc vào thước và đọc kết quả.
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ: TTDD của trẻ được đánh giá dựa theo
chuẩn tăng trưởng của WHO 2006 dành cho trẻ dưới 5 tuổi[41]:
Cân nặng theo tuổi: Cân nặng của trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi,
cùng giới của quần thể tham chiếu của WHO. Trẻ được xác định là bị suy dinh
dưỡng thể nhẹ cân nếu z-score cân nặng theo tuổi nhỏ hơn -2SD. Cụ thể thang phân
loại TTDD dựa theo z-score của cân nặng theo tuổi như sau:
o Dưới -3SD: Suy dinh dưỡng nhẹ cân mức độ nặng
o Từ dưới -2SD đến -3SD: Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân
o Từ -2SD đến +1SD: Bình thường
o Từ +1SD đến + 2SD trở lên: Nguy cơ thừa cân
o Từ +2SD trở lên: Thừa cân
Chiều cao đứng/chiều dài nằm theo tuổi: Chiều cao của trẻ được so sánh với trẻ
cùng tuổi, cùng giới theo quần thể tham chiếu của WHO. Trẻ được xác định là bị
suy dinh dưỡng thể thấp còi nếu z-score của chiều cao đứng/chiều dài nằm theo tuổi
nhỏ hơn -2SD. Cụ thể thang phân loại TTDD dựa theo z-score của chiều cao
đứng/chiều dài nằm theo tuổi như sau:
o Từ -2SD trở lên: Bình thường
o Từ dưới -2SD đến -3SD: Thấp còi
o Dưới -3SD: Thấp còi mức độ nặng
Cân nặng theo chiều dài/cao: Trẻ được xác định là bị suy dinh dưỡng thể gày còm
nếu z-score của cân nặng theo chiều dài/cao nhỏ hơn -2SD. Trẻ được xác định là


ăn các thực phẩm giàu sắt.


Trích đoạn Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của bà mẹ/người chăm sóc trẻ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status