1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT
- CNTT: Công nghệ thông tin
- CSDL: Cơ sở dữ liệu
- CSDLĐC: Cơ sở dữ liệu địa chính
- GCN: Giấy chứng nhận
- GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- GIS: Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System)
- XML: (eXtensible Markup Language) Ngôn ngữ đánh dấu mở
rộng.
2
DANH MỤC HÌNH ẢNH
STT
Tên hình
vẽ
1
Hình 1.1
Các nhóm dữ liệu cấu thành CSDL Địa
chính
13
Sơ đồ quy trình 3 tích hợp cơ sở dữ liệu địa
26
6
Hình 2.1
Tổng quan về ELIS
29
7
Hình 2.2
Mục đích ELIS
31
8
Hình 3.1
9
Hình 3.2
Hồ sơ quét (1)
Các tiện ích của ELIS
49
14
Hình 3.7
Chọn File dữ liệu bản đồ
50
15
Hình 3.8
Điền tham số chuyển đổi
51
16
Hình 3.9
Chuyển đổi dữ liệu đồ họa vào hệ thống
52
17
Hình 3.12
20
Hình 3.13
Attach tờ bản đồ dgn
55
21
Hình 3.14
Dữ liệu exel thuộc tính
56
22
Hình 3.15
Nhập dữ liệu Excel vào phần mềm
57
23
Hình 3.16
Hình 3.20
Xem thông tin thửa đất
62
28
Hình 3.21
Cập nhật hồ sơ quét cho thửa đất đã có
GCN
63
29
Hình 3.22
Nhập đăng ký quyền sử dụng đất
64
30
Hình 3.23
Chọn chủ nhập đăng ký
41
Hình 3.28
42
Hình 3.29
43
Hình 3.30
Bản mô tả ranh giới mốc thửa đất
72
44
Hình 3.31
Kết quả đo đạc địa chính thửa đất
72
tích
Bổ sung Nghĩa vụ tài chính và hạn chế
SDĐ
Giao diện thông tin cấp giấy chứng nhận
Xử lý thông tin cấp giấy chứng nhận
Trang 1 – 4 giấy chứng nhận
75
48
Hình 3.3
Trang 2 – 3 giấy chứng nhận
75
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là một loại tài nguyên thiên nhiên đặc biệt có mối quan hệ
chặt chẽ với hầu hết các yếu tố kinh tế, chính trị, có ý nghĩa thiết thực và
quan trọng đối với các hoạt động sản suất, kinh doanh, sinh hoạt và phát
triển không chỉ giới hạn một cá nhân, một đơn vị hành chính và còn là
của cả một nền kinh tế, của tất cả các quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay,
sử dụng đất đai đang là nhu cầu thiết yếu ngày càng tăng của con người,
kéo theo đó là yêu cầu về sự quản lý chặt chẽ và có hệ thống của Nhà
nước nhằm mục đích sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên
hữu hạn này. Ngày 30 tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký
quyết định phê duyệt Dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai”
giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường làm cơ quan chủ quản và Tổng
cục Quản lý đất đai làm chủ đầu tư. Thời gian thực hiện Dự án từ năm
- Phần mềm ELIS trong xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Thực nghiệm xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính một xã bằng phần
mềm ELIS.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
- Từ thực nghiệm để đưa ra những giải pháp hoàn thiện hơn cho
phần mềm ELIS phục vụ nhu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính.
7. Cấu trúc luận văn:
- Luận văn gồm phần mở đầu và 3 chương với 81 trang, phần kết
luận được trình bày trong 2 trang với 42 hình .
8. Lời cảm ơn
Để hoàn thành được luận văn này, trước hết, tôi xin chân thành
cảm ơn TS. Trần Thùy Dương đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý
kiến khoa học trong quá trình nghiên cứu và xây dựng luận văn.
7
Tôi xin cảm ơn tập thể giảng viên Khoa Trắc địa, đặc biệt là Bộ
môn Địa chính, phòng Đại học và Sau đại học, Trường Đại học Mỏ - Địa
chất, các cán bộ và các bạn đồng nghiệp tại xý nghiệp GIS đã giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành bản luận
văn.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH Ở VIỆT NAM
ngắn.
-
Nhiều người có thể sử dụng một cơ sở dữ liệu.
1.1.2. Khái niệm về dữ liệu và cơ sở dữ liệu địa chính
Theo công văn số 1159/TCQLĐĐ-CĐKTK ngày 21 tháng 9 năm
2011 của Tổng cục Quản lý đất đai về việc hướng dẫn xây dựng cơ sở dữ
liệu địa chính [1]:
- Dữ liệu: là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình
ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự.
- Cơ sở dữ liệu địa chính: là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ
liệu địa chính (gôm dữ liệu không gian địa chính, dữ liệu thuộc tính địa
chính và các dữ liệu khác có liên quan) được sắp xểp, tổ chức để truy cập,
khai thác, quản lý và cập nhật thường xuyên bằng phương tiện điện tử.
Trong đó:
- Dữ liệu địa chính: là dữ liệu không gian địa chính, dữ liệu thuộc
tính địa chính và các dữ liệu khác có liên quan.
+ Dữ liệu không gian địa chính: là dữ liệu về vị trí, hình thể của
thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về hệ thống thủy
văn, hệ thống thủy lợi; hệ thống đường giao thông; dữ liệu về điểm khống
chế; dữ liệu về biên giới, địa giới; dữ liệu về địa danh và ghi chú khác; dữ
liệu về đường chỉ giới và mốc giới quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây
dựng, quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch khác, chỉ giới hành
lang an toàn bảo vệ công trình.
+ Dữ liệu thuộc tính địa chính: là dữ liệu về người quản lý đất,
người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tổ
chức và cá nhân có liên quan đến các giao dịch về đất đai, nhà ở và tài
11
d) Nhóm dữ liệu về quyền: gồm dữ liệu thuộc tính về tình trạng sử
dụng của thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; hạn chế quyền
và nghĩa vụ trong sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất; giao dịch về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
đ) Nhóm dữ liệu về thủy hệ: gồm dữ liệu không gian và dữ liệu
thuộc tính về hệ thống thủy văn và hệ thống thủy lợi;
e) Nhóm dữ liệu về giao thông: gồm dữ liệu không gian và dữ liệu
thuộc tính về hệ thống đường giao thông;
g) Nhóm dữ liệu về biên giới, địa giới: gồm dữ liệu không gian và
dữ liệu thuộc tính về mốc và đường biên giới quốc gia, mốc và đường địa
giới hành chính các cấp;
h) Nhóm dữ liệu về địa danh và ghi chú: gồm dữ liệu không gian
và dữ liệu thuộc tính về vị trí, tên của các đối tượng địa danh sơn văn,
thuỷ văn, dân cư, biển đảo và các ghi chú khác;
i) Nhóm dữ liệu về điểm khống chế tọa độ và độ cao: gồm dữ liệu
không gian và dữ liệu thuộc tính về điểm khống chế tọa độ và độ cao trên
thực địa phục vụ đo vẽ lập bản đồ địa chính;
k) Nhóm dữ liệu về quy hoạch: gồm dữ liệu không gian và dữ liệu
thuộc tính về đường chỉ giới và mốc giới quy hoạch sử dụng đất, quy
hoạch xây dựng, quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch khác; chỉ
giới hành lang an toàn bảo vệ công trình.
12
Các nhóm dữ liệu cấu thành CSDL Địa chính
Từ năm 1989, việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ được chính thức
thực hiện. Cùng với việc cấp giấy CNQSDĐ, việc xây dựng hồ sơ địa
chính được chú trọng thực hiện trên cơ sở rà soát, hoàn thiện hồ sơ đăng
ký ruộng đất lập trong giai đoạn từ 1981 – 1988.
Tuy nhiên trong quá trình triển khai, việc rà soát hồ sơ đăng ký
ruộng đất lập theo Chỉ thị 299/TTG đã phát hiện quá nhiều sai sót, tồn tại,
hơn nữa hệ thống chính sách đất đai lúc đó lại đang trong quá trình đổi
mới làm cho hiện trạng sử dụng đất biến động rất mạnh mẽ so với bản đồ
và sổ sách đăng ký đã lập trước đó.
Vì vậy việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ và xây dựng hồ sơ địa
chính ở các địa phương thực hiện trong thời gian này rất chậm; hầu hết
các địa phương phải tôt chức đo đạc chỉnh lý lại bản đồ giải thửa hoặc đo
vẽ mớ bản đồ giải thửa theo tọa độ độc lập; tổ chức kê khai đăng ký và
xét duyệt lại để cấp giấy chứng nhận và hồ sơ địa chính. Hồ sơ địa chính
giai đoạn này chủ yếu lập theo mẫu quy định tại Quyết định số 56/ĐKTK;
15
song bên cạnh đó, nhiều địa phương tự quy định các mẫu sổ sách mới
dùng trong đăng ký đất đai để đáp ứng yêu cầu thay đổi của tình hình
thực tế. Các hồ sơ này, đến nay nhiều địa phương đã chuyển đổi sang
mẫu quy định mới, song vẫn còn một số xã, huyện đang tiếp tục sử dụng.
Việc đo đạc bản đồ địa chính theo hệ tọa độ thống nhất bắt đầu được triển
khai thực hiện theo Quy phạm đo vẽ bản đồ địa chính tỷ lệ 1/1000,
1/2000, 1/5000 ban hành kèm Quyết định số 220/QĐ – TCQLRĐ ngày
01 tháng 7 năm 1991 của Tổng cục Quản lý ruộng đất.
Từ sau Luật đất đai 1993, ruộng đất mông, lâm nghiệp được giao
ổn định lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân, người sử dụng đất được
hưởng quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp
được lập 3 bộ để sử dụng ở 3 cấp xã, huyện, tỉnh như trước đây. Ngoài ra,
việc xây dựng hồ sơ địa chính dạng số bắt đầu được chỉ đạo thực hiện với
chủ trương để thay thế dần cho hồ sơ địa chính trên giấy; tuy nhiên tại
thời điểm này, do điều kiện ứng dụng công nghệ chưa phát triển nên Bộ
vẫn chỉ đạo các địa phương tiếp tục lập hồ sơ địa chính dạng giấy (kể cả
nơi đã triển khai xây dựng hồ sơ địa chính dạng số).
Theo quy định hiện nay, mẫu và nội dung dữ liệu địa chính trên hồ
sơ địa chính trên hồ sơ địa chính và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
không thay đổi so với các văn bản quy định trong năm 2004, tuy nhiên
giấy chứng nhận có thể được sử dụng để cấp chung một giấy cho nhiều
thửa đất sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đặc biệt là bản lưu
giấy chứng nhận QSDĐ được xác định là một bộ phận và là tài liệu pháp
lý quan trọng trong hồ sơ địa chính. Ngoài ra theo quy định tại thông tư
số 09/2007/TT – BTNMT các địa phương xây dựng cơ sở dữ liệu địa
chính (hồ sơ địa chính dạng số) sẽ không phải lập hồ sơ địa chính trên
giấy để sử dụng ở các cấp tỉnh, huyện như trước đây. Cơ sở dữ liệu địa
17
chính trở thành mục tiêu của chủ yêu việc đăng ký đất đai phải hoàn
thành trên phạm vi cả nước từ nay đến năm 2020.
Việc ứng dụng công nghệ trong việc lập hồ sơ địa chính dạng số
( cơ sở dữ liệu địa chính) theo Thông tu 09/2007/TT – BTNMT đã được
triển khai thực hiện ở hầu hết các tỉnh, song phần lớn các tỉnh thực hiện
còn ít, chủ yếu ở quy mô làm điểm một số xã, huyện do còn nhiều bất cập
về thiết bị, năng lực công nghê, đặc biệt là chưa có phần mềm hoàn
chỉnh.
Việc áp dụng phần mềm ở các địa phương hiện nay không thống
nhất, mỗi tỉnh sử dụng một phần mềm khác nhau, thậm chí một số tỉnh
không có tọa độ hoặc theo tọa độ giả định của địa phương.
Thời kỳ đo đạc lập bản đồ, hồ sơ địa chính theo chỉ thị 299/TTg của Thủ
tướng Chính phủ: Thời kỳ này chủ yếu bản đồ được lập theo tọa độ địa
phương hoặc hệ tọa độ Nhà nước HN – 72. Phần lớn bản đồ được lưu trữ
ở dạng giấy, trên đế phim Diamat hoặc được sao lưu bằng phương pháp n
OOZalit. Các bản đồ này chủ yếu hiện đang lưu trữ tại kho lưu trữ thuộc
Trung tâm Thông tin tài nguyên môi trường thuộc sở Tài nguyên và Môi
trường cấp tỉnh. Một khối lượng nhỏ được sao lưu để sử dụng tại cấp
huyện.
- Thời kỳ hậu 299 đến trước năm 1999: các địa phương đã bắt đầu
ứng dụng công nghệ số để thành lập bản đồ địa chính tùy thuộc vào khả
năng về kinh phí và trình độ cán bộ của từng địa phương. Khuôn dạng
của bản đồ số và hồ sơ địa chính rất đa dạng. Bản đồ chủ yếu ở khuôn
dạng của phần mềm
AutoCad, ITR, một phần ở khuôn dạng của
MapInfo… và chủ yếu ở hệ tọa độ Hn – 72; hồ sơ địa chính chủ yếu được
quản lý ở dạng CSDL trong Foxpro.
19
- Sau năm 1999 khi Tổng cục Địa chính ban hành áp dụng phần
mềm FAMIS cho công tác thành lập bản đồ địa chính, bản đồ địa chính
đã cơ bản thống nhất một khuôn dạng của phần mềm Microstation và Hồ
sơ địa chính đã cơ bản theo phần mềm CadDB. Tuy nhiên, trong thời gian
này do phần mềm lập hồ sơ địa chính chưa hoàn thiện và không đáp ứng
được các yêu cầu có tính đặc thù của địa phương nên vẫn còn nhiều địa
phương tiếp tục sử dụng các phần mềm tự do phát triển để xây dựng hồ
một chuẩn dữ liệu địa chính thống nhất trong cả nước.
Trong bất kỳ một CSDL được đưa vào sử dụng chung đều phải tiến
hành chuẩn hóa dữ liệu. Có như vậy khai thác dữ liệu mới có thể chia sẻ
cho nhiều đối tượng sử dụng, việc hiện chỉnh dữ liệu từ nhiều nguồn mới
đảm bảo tính thống nhất.
Ngoài ra còn thêm một số dữ liệu từ các nguồn ở các cơ quan điều
tra cơ bản khác. Người sử dụng rất đa dạng từ ngành quản lý đất đai cả
trung ương và các cấp địa phương, các cơ quan quản lý Nhà nước, các bộ
ngành khác, từ các tổ chức trong và ngoài nước, từ các đối tượng cư dân
có nhu cầu. Trong bối cảnh như vậy việc chuẩn hóa dữ liệu, hệ thống
thiết bị, tổ chức quản lý phải thống nhất.
Cơ sở dữ liệu đất đai là một trong bảy CSDL quốc gia trong
chương trình ứng dụng công nghệ thông tin của Chính phủ. Để có thể tích
hợp và trao đổi dữ liệu giữa các CSDL quốc gia với nhau, cần thiết phải
xây dựng chuẩn hóa cho từng CSDL thành phần.
Hiện nay tập hợp dữ liệu của ngành quản lý đất đai đã khá lớn. Một
phần ở dạng truyền thống trên giấy, một phần ở dạng số như trong nhiều
định dạng khác nhaum một phần đã ở dạng thống nhất theo định hướng
của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Vấn đề đặt ra là phải xem xét biện
21
pháp chuẩn hóa dữ liệu thế nào để thu được một CSDL thống nhất. Các
vấn đề cần giải quyết như sau:
- Xây dựng cơ sở dữ liệu theo quy định kỹ thuật chuẩn thống nhất cho
dữ liệu địa chính.
- Xây dựng quy trình thống nhất để chuyển các dữ liệu cũ về dạng
chuẩn đã định; xây dựng quy trình thống nhất về thu thập dữ liệu để có
được các dữ liệu chuẩn
hiện việc đo đạc lập, chỉnh lý bản đồ địa chính và đã đăng ký, cấp Giấy
chứng nhận theo bản đồ địa chính.
- Quy trình 3: Tích hợp cơ sở dữ liệu địa chính cấp tỉnh từ sản
phẩm cơ sở dữ liệu địa chính cấp xã và tạo bản sao cơ sở dữ liệu địa
chính cấp huyện từ cơ sở dữ liệu địa chính cấp tỉnh.
23
Hình 1.3. Sơ đồ quy trình 1 xây dựng CSDLĐC
24
Hình 1.4. Sơ đồ quy trình 2 xây dựng CSDLĐC
25
Hình 1.5. Sơ đồ quy trình 3 tích hợp cơ sở dữ liệu địa chính