1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ THANH NHÀN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số ngành: 60. 850. 103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Trƣờng Xuân
Thái Nguyên - 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở
nước ta, vấn đề quản lý chặt chẽ đất đai đang là yêu cầu cấp thiết nhằm đạt
mục đích là đưa quỹ đất vào sử dụng hợp lí và có hiệu quả, đưa đất đai trở
thành nguồn nội lực, nguồn vốn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh
nhật biến động thường xuyên. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên đây là
do sự nhận thức về cơ sở dữ liệu địa chính hiện nay chưa đầy đủ; việc đầu tư
xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính ở các địa phương chưa đồng bộ và các bước
thực hiện chưa phù hợp.
Thành phố Vĩnh Yên là trung kinh tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội
của tỉnh Vĩnh Phúc, trong những năm qua có tốc độ phát triển mạnh mẽ, tốc
độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, công tác quản lý nhà nước về đất đai luôn
được các cấp chính quyền địa phương quan tâm chú trọng, trong đó việc lập
hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính đang dần từng bước được
quan tâm xây dựng trong giai đoạn từ 1997 đến nay, góp phần quan trọng
trong công tác quản lý đất đai của thành phố. Tuy nhiên, thực trạng hệ thống
hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính của thành phố Vĩnh Yên nói chung
vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý và
cần phải giải quyết. Mặc dù thành phố đang trong quá trình đô thị hóa mạnh
mẽ, các quan hệ đất đai ngày càng trở nên phức tạp và đa dạng, nhưng Vĩnh
Yên vẫn chưa có hệ thống quản lý hồ sơ địa chính chính quy, đồng bộ, cơ sở
dữ liệu địa chính
gần như chưa có, hệ thống hồ sơ địa chính không có
tính cập nhật nên công tác quản lý đất đai của thành phố trong thời gian qua
gặp rất nhiều khó khăn.
Với mong muốn góp phần giải quyết vấn đề bức xúc nêu trên, tác giả đã
đi đến quyết định lựa chọn đề tài “Đánh giá thực trạng công tác xây dựng
cơ sở dữ liệu địa chính thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”
2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá hiện trạng về cơ sở dữ liệu địa chính phục vụ công tác quản
lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Chỉ thị số 1474/CT-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2011 của Thủ tướng Chính
phủ v thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để chấn chỉnh việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất (gọi tắt là giấy chứng nhận) đã nêu: Trong thời gian qua, Chính phủ đã
chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp để đẩy mạnh việc cấp giấy chứng nhận theo
Nghị quyết số 07/2007/QH12 ngày 12 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội về kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008; các địa phương đã tập trung chỉ
đạo, đẩy mạnh thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận và
kết quả đạt được trong các năm qua là rất lớn. Tuy nhiên, việc đăng ký, cấp
giấy chứng nhận một số loại đất còn chậm, nhất là đất chuyên dùng và đất ở
đô thị; lượng giấy chứng nhận đã ký chưa trao cho người được cấp ở một số
địa phương còn tồn đọng nhiều; việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai còn
chậm, chưa thống nhất, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng chưa cao; việc cập
nhật, chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính chưa được thực hiện đầy đủ, thường
xuyên theo quy định.
Do vậy mà Nhà nước trong những năm qua đã ban hành một số quy
định liên quan đến việc kê khai đăng ký, cấp giấy chứng nhận, lập, quản lý,
chỉnh lý hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai nói chung và cơ sở dữ
liệu địa chính nói riêng trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
Đây là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có cơ sở thực hiện các nhiệm
vụ của mình, đặc biệt là nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính.
Tuy nhiên, các văn bản pháp quy liên quan đến lĩnh vực xây dựng cơ sở
Tài nguyên và Môi trường quy định về chuẩn dữ liệu địa chính. Trong đó quy
định: Kỹ thuật chuẩn dữ liệu địa chính, xây dựng, cập nhật, quản lý và khai
thác sử dụng cơ sở dữ liệu địa chính. [3]
- Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 15
tháng 03 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ, Bộ Tài
chính hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế và cơ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
7
chế tài chính của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất [2] (gọi tắt là
VPĐK).
quy định:
VPĐK cấp tỉnh có nhiệm vụ: Lập và quản lý toàn bộ hồ sơ địa chính
đối với tất cả các thửa đất trên địa bàn cấp tỉnh; cấp hồ sơ địa chính cho
VPĐK cấp huyện và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; xây dựng, quản lý
cơ sở dữ liệu địa chính và phát triển hệ thống thông tin đất đai; rà soát việc
nhập dữ liệu thuộc tính địa chính trong quá trình thực hiện thủ tục đăng ký
biến động về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
VPĐK cấp huyện có nhiệm vụ: Lưu trữ, quản lý và chỉnh lý toàn bộ hồ
sơ địa chính và cơ sở dữ liệu thuộc tính địa chính đối với tất cả các thửa đất
trên địa bàn cấp huyện.
-
-
thành lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai ban đầu và đăng ký biến động đất
đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hồ sơ địa chính bao gồm: Bản
đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai, Sổ theo dõi biến động đất đai
và bản lưu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. [1]
* Bản đồ địa chính
Trong hệ thống tài liệu hồ sơ địa chính phục vụ thường xuyên cho quản
lý thì bản đồ địa chính là loại tài liệu quan trọng nhất. Bởi bản đồ địa chính
cung cấp các thông tin không gian đầu tiên của thửa đất như vị trí, hình dạng,
ranh giới thửa đất, ranh giới nhà, tứ cận,.. Những thông tin này giúp nhà quản
lý hình dung về thửa đất một cách trực quan. Bên cạnh các thông tin không
gian bản đồ địa chính còn cung cấp các thông tin thuộc tính quan trọng của
thửa đất và tài sản gắn liền trên đất như: loại đất, diện tích pháp lý, số hiệu
thửa đất, loại nhà v.v.[1]
* Sổ mục kê đất đai
+ Sổ mục kê đất đai: là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn
để ghi về các thửa đất, đối tượng chiếm đất nhưng không có ranh giới khép
kín trên tờ bản đồ và các thông tin có liên quan đến quá trình sử dụng đất. Sổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
9
mục kê đất đai được lập để quản lý thửa đất, tra cứu thông tin về thửa đất và
phục vụ thống kê, kiểm kê đất đai. [1]
+ Sổ mục kê gồm các thông tin:
Thửa đất gồm mã số, diện tích, loại đất, giá đất, tài sản gắn liền với đất,
tên người sử dụng đất và các ghi chú về việc đo đạc thửa đất.
Đường giao thông, công trình thuỷ lợi và các công trình khác theo tuyến
Có thay đổi người sử dụng đất, người sử dụng đất được phép đổi tên.
Có thay đổi số hiệu, địa chỉ, diện tích thửa đất, tên đơn vị hành chính
nơi có đất.
Có thay đổi hình thức, mục đích, thời hạn sử dụng đất.
Có thay đổi những hạn chế về quyền của người sử dụng đất.
Có thay đổi về nghĩa vụ tài chính mà người sử dụng đất phải thực hiện.
Người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng,
cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng
quyền sử dụng đất.
Chuyển từ hình thức được Nhà nước cho thuê đất sang hình thức được
Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Sổ theo dõi biến động đất đai
+ Sổ theo dõi biến động đất đai được lập cho từng đơn vị xã,
phường, thị trấn, sổ được lập để theo dõi các trường hợp có thay đổi trong
sử dụng đất gồm thay đổi kích thước và hình dạng thửa đất, người sử
dụng đất, mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ
của người sử dụng đất. [1]
+ Sổ theo dõi biến động đất đai gồm các thông tin:
Tên và địa chỉ của người đăng ký biến động;
Thời điểm đăng ký biến động;
Số hiệu thửa đất có biến động;
Nội dung biến động về sử dụng đất.
* Bản lưu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Là bản lưu hoặc bản sao giấy chứng nhận được cơ quan nhà nước cấp
cho người sử dụng đất để người sử dụng đất có cơ sở pháp lý thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình sử dụng đất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
quyền không có căn cứ pháp lý rõ ràng và thống nhất. Đây là nguyên nhân
làm cho người tham gia tranh tụng không đồng ý với phương án giải quyết.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
12
Để giải quyết dứt điểm tranh chấp liên quan đến đất đai ở cấp cơ sở thì hệ
thống hồ sơ địa chính phải được hoàn thiện đầy đủ và là cơ sở pháp lý vững
chắc cho những quyết định giải quyết tranh chấp.
Hệ thống hồ sơ địa chính còn giúp tạo lập kênh thông tin giữa Nhà nước
và nhân dân. Nhân dân có điều kiện tham gia vào quá trình giám sát các hoạt
động quản lý đất đai của cơ quan Nhà nước và hoạt động sử dụng đất của các
chủ sử dụng đất: Điều này sẽ giúp hạn chế các việc làm sai trái của người
quản lý và của người sử dụng.
1.4. Khái quát về cơ sở dữ liệu địa chính
1.4.1. Khái niệm cơ sở dữ liệu địa chính
Cơ sở dữ liệu địa chính là nội dung của Bản đồ địa chính, Sổ địa chính,
Sổ mục kê đất đai, Sổ theo dõi biến động đất đai được lập và quản lý trên máy
tính dưới dạng số để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp tỉnh, cấp huyện. [1]
Cơ sở dữ liệu địa chính bao gồm dữ liệu Bản đồ địa chính và các dữ liệu
thuộc tính địa chính.
+ Dữ liệu bản đồ địa chính được lập để mô tả các yếu tố gồm tự nhiên có
liên quan đến việc sử dụng đất bao gồm các thông tin: [1]
- Vị trí, hình dạng, kích thước, tọa độ đỉnh thửa, số thứ tự, diện tích, mục
đích sử dụng của các thửa đất;
- Vị trí, hình dạng, diện tích của hệ thống thủy văn gồm sông, ngòi,
kênh, rạch, suối; hệ thống thủy lợi gồm hệ thống dẫn nước, đê, đập, cống; hệ
Cơ sở dữ liệu địa chính được xây dựng phải bảo đảm các điều kiện tối
thiểu sau [1]:
+ Được cập nhật, chỉnh lý đầy đủ theo đúng yêu cầu đối với các nội
dung thông tin của bản đồ địa chính và dữ liệu thuộc tính địa chính theo quy
định của Thông tư 09/2007/TT-BTNMT.
+ Từ cơ sở dữ liệu địa chính in ra được:
- Giấy chứng nhận;
- Bản đồ địa chính theo tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định;
- Sổ mục kê đất đai và sổ địa chính theo mẫu quy định ;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
14
- Biểu thống kê, kiểm kê đất đai, các biểu tổng hợp kết quả cấp giấy
chứng nhận và đăng ký biến động về đất đai theo mẫu do Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định;
- Trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính của thửa đất hoặc
một khu đất (gồm nhiều thửa đất liền kề nhau);
+ Tìm được thông tin về thửa đất khi biết thông tin về người sử dụng đất,
tìm được thông tin về người sử dụng đất khi biết thông tin về thửa đất; tìm
được thông tin về thửa đất và thông tin về người sử dụng đất trong dữ liệu
thuộc tính địa chính thửa đất khi biết vị trí thửa đất trên bản đồ địa chính, tìm
được vị trí thửa đất trên bản đồ địa chính khi biết thông tin về thửa đất, người
sử dụng đất trong dữ liệu thuộc tính địa chính thửa đất;
+ Tìm được các thửa đất, người sử dụng đất theo các tiêu chí hoặc nhóm
các tiêu chí về tên, địa chỉ của người sử dụng đất, đối tượng sử dụng đất; vị
dẫn đến công tác đăng ký bất động sản và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu
bất động sản sẽ đơn giản hơn nhiều so với việc đăng ký quyền sử dụng đất và
đăng ký quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất ở Việt Nam. [5]
Bên cạnh đó luật cũng quy định đăng ký bất động sản là bắt buộc và
người mua phải đăng ký quyền sở hữu của mình trong vòng 3 tháng sau khi
mua. Từ thời điểm đó người mua được toàn quyền sở hữu. Quy định này sẽ
giúp tránh được tình trạng có những giao dịch liên quan đến bất động sản mà
nhà quản lý không nắm được, mặt khác cũng giúp đảm bảo được các quyền
lợi hợp pháp của chủ sở hữu. Vấn đề thời hạn đăng ký quyền sử dụng đất và
sở hữu nhà ở Việt Nam hiện nay chưa được quy định trong luật nên vô hình
trung tạo điều kiện cho các giao dịch ngầm diễn ra một cách thoải mái. Điều
này dẫn đến thực trạng: người mua bất động sản cứ mua và cũng không mấy
quan tâm đến việc đăng ký quyền sử dụng của mình.
Thụy Điển xây dựng được ngân hàng dữ liệu đất đai vào năm 1995,
trong ngân hàng này mỗi đơn vị tài sản có các thông tin sau: Khu vực hành
chính nơi có bất động sản, địa chỉ, vị trí trên trích lục bản đồ địa chính, toạ độ
của bất động sản và các công trình xây dựng; Diện tích của bất động sản; Giá
trị tính thuế; Tên, địa chỉ và sổ đăng ký công dân của chủ sở hữu, thông tin về
việc có bất động sản đó khi nào và như thế nào; Sơ đồ công trình xây dựng và
các quy định được áp dụng cho trường hợp cụ thể đó; Số lượng thế chấp;
Thông tin về quyền thông hành địa dịch; Các biện pháp kỹ thuật và chính
thức được thực hiện, số tra cứu đến các bản đồ và các tài liệu lưu trữ khác. [5]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
16
Hơn thế nữa nguyên tắc cơ bản của Chính phủ Thụy Điển là tất cả các
17
này được thể hiện qua mối quan hệ giữa công tác quản lý, lưu trữ thông tin,
thương mại, siêu dữ liệu và phân quyền truy cập thông tin của hệ thống.
Sơ đồ dưới đây mô tả về mô hình quản lý của WALIS và giới thiệu sơ
bộ về các thành phần chính làm nên thành công của WALIS. [5]
Hình 1.1. Mô hình quản lý WALIS
Trên cơ sở nghiên cứu những ưu điểm của hệ thống cơ sở dữ liệu đất
đai tại Thụy Điển và Úc kết hợp với tình hình thực tế của Việt Nam tôi đề
xuất một số điểm đổi mới đối với hệ thống quản lý đất đai và cơ sở dữ liệu địa
chính của Việt Nam như sau:
Cấp một giấy chứng nhận quyền sử dụng, sở hữu cho cả đất và các bất
động sản gắn liền với đất.
Triển khai cấp giấy chứng nhận cho tất cả các thửa đất trên quy mô
toàn quốc trong thời gian sớm nhất.
Dần dần tăng diện tích hạn điền để đi tới xóa bỏ hoàn toàn tạo tâm lý
yên tâm cho người sử dụng đất.
Nhanh chóng xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên quy mô toàn quốc,
trên cơ sở đó tiến đến xây dựng hệ thống thông tin đất đai.
1.6. Quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính ở Việt Nam
Trong những năm đầu của thế kỷ 21 việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa
chính gắn với đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, cấp giấy chứng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
19
làm điểm ở một vài huyện, thì phải tập trung thực hiện và hoàn thành dứt
điểm việc đăng ký, cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính cho các xã,
huyện đã hoàn thành đo vẽ bản đồ. [9]
* Về nguồn lực: Hầu hết các tỉnh đều không cân đối hoặc bố trí đủ kinh
phí. Theo chỉ đạo của Chính phủ, các tỉnh bố trí tối thiếu 10% tổng số thu từ
tiền sử dụng đất để thực hiện công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp
giấy chứng nhận. Song thực tế tại 40 tỉnh (được Trung ương hỗ trợ kinh phí),
trong các năm qua, chỉ được tỉnh đầu tư khoảng 4% so với tiền sử dụng đất.
Nhiều tỉnh chỉ đầu tư kinh phí cho việc đo đạc, lập bản đồ địa chính và phân
cấp cho huyện, xã tự lo kinh phí thực hiện đăng ký, cấp giấy chứng nhận là
nguyên nhân cơ bản của tình trạng đo vẽ xong bản đồ mà không thực hiện
được việc đăng ký, lập hồ sơ địa chính, tiến độ cấp giấy chứng nhận không
tăng, làm giảm hiệu quả đầu tư.
Bên cạnh đó hệ thống VPĐK - đơn vị thực hiện nhiệm vụ quan trọng là
đăng ký, cấp giấy chứng nhận, cập nhật biến động, lập hồ sơ địa chính, xây
dựng, quản lý, vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu địa chính - dù đã được thành
lập đầy đủ ở hầu hết các địa phương song thiếu cán bộ chuyên môn, nhất là
cán bộ kỹ thuật về công nghệ thông tin. Cán bộ địa chính cấp xã thực hiện rất
nhiều công việc song thường các xã chỉ có một cán bộ, nhiều địa phương
không được duy trì ổn định do thay đổi cán bộ hoặc luân chuyển giữa các xã
.v.v. [9].
* Về quy trình thực hiện: Để giúp các địa phương có các bước thực hiện
công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, ngày 21 tháng 9 năm 2011 Tổng
cục quản lý đất đai - Bộ tài nguyên và Môi trường đã ban hành Công văn số
Bước 7. Tích hợp sản phẩm cơ sở dữ liệu địa chính vào Hệ thống thông
tin đất đai.
Việc ban hành Công văn số 1159/TCQLĐĐ-CĐKTK, trong đó hướng
dẫn các quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính đã giúp cho các địa
phương định hướng được các bước thực hiện trong quá trình xây dựng cơ sở
dữ liệu địa chính tại địa phương mình. Tuy nhiên tại hai quy trình này qua
thực tế áp dụng còn bộc lộ một số khó khăn tồn tại đó là:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
21
- Các bước đưa ra còn thiếu so với thực tế thực hiện, nên không có đủ
cơ sở để các địa phương tính toán kinh phí phục vụ cho công tác xây dựng cơ
sở dữ liệu địa chính;
- Đối với quy trình 1 quy định xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính cho tất
cả các thửa đất phải gắn liền với đo đạc lập mới hoặc chỉnh lý hoàn thiện bản
đồ địa chính, kê khai đăng cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Vì vậy khi áp dụng quy trình này hầu hết các địa phương đều gặp khó
khăn rất lớn tại khâu cấp mới, cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận. Đây là công
tác hết sức nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của người
sử dụng đất, quá trình thực hiện công việc qua nhiều công đoạn, nhiều cấp,
nhiều ngành cùng tham gia giải quyết. Vì vậy để một địa phương cấp xã thực
hiện xong việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính theo quy trình này mất rất
nhiều thời gian, công sức.
- Đối với quy trình 2 thì thực tế rất khó áp dụng, vì hầu hết tại các địa
phương quá trình cấp giấy chứng nhận đều diễn ra trong nhiều năm theo nhu
cầu của người sử dụng đất, và không chỉ được cấp theo bản đồ địa chính mới
Bước 2. Thu thập tài liệu
Bước 3. Phân loại thửa đất và hoàn thiện hồ sơ địa chính hiện có
Bước 4. Xây dựng dữ liệu không gian địa chính
Bước 5. Xây dựng dữ liệu thuộc tính địa chính
Bước 6. Quét (chụp) giấy tờ pháp lý về quyền sử dụng đất
Bước 7. Hoàn thiện dữ liệu địa chính
Bước 8. Xây dựng dữ liệu đặc tả - metadata
Bước 9. Thử nghiệm quản lý, khai thác, cập nhật cơ sở dữ liệu
Bước 10. Kiểm tra, đánh giá chất lượng cơ sở dữ liệu địa chính.
Bước 11. Đóng gói, giao nộp sản phẩm cơ sở dữ liệu địa chính.
Các quy trình quy định tại Thông tư số 04/TT-BTNMT đã cơ bản giải
quyết được tồn tại, vướng mắc của các quy trình quy định tại Công văn số
1159/TCQLĐĐ-CĐKTK đó là: Các bước thực hiện đã được quy định đầy đủ
hơn, phạm vi điều chỉnh của cả hai quy trình đã bao quát được toàn bộ các
trường hợp xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
23
Tuy nhiên tại Thông tư này quy định hai quy trình thực hiện, vì vậy vấn
đề đặt ra cho các địa phương đó là cần tiếp tục rà soát, nghiên cứu trên cơ sở
dữ liệu, tài liệu địa chính hiện có của địa phương để áp dụng một quy trình
thực hiện sao cho phù hợp, hiệu quả.
1.7. Tổng quan về một số phần mềm xây dựng cơ sở dữ liệu địa
chính đang áp dụng tại Việt Nam hiện nay
1.7.1. Phần mềm Famis - CaddB
Là phần mềm được viết chạy đồng bộ cùng Micro Station có khả năng
Phần mềm VILIS1.0 được xây dựng dựa trên nền tảng các thủ tục về kê khai
đăng ký, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tại Thông tư 1990/TT-TCĐC ngày 30 tháng 11 năm 2001 của Tổng cục Địa
chính “Hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất”, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10
năm 2004 về việc thi hành Luật đất đai, Thông tư 08/2007/TT-BTNMT ngày
02 tháng 8 năm 2007 hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây
dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02
tháng 8 năm 2007 hướng dẫn lập, chỉnh lý quản lý hồ sơ địa chính và hệ
thống các văn bản pháp luật hiện hành.
VILIS1.0 được xây dựng với rất nhiều chức năng đảm bảo giải quyết
trọn vẹn các vấn đề trong công tác quản lý đất đai, tạo sự thống nhất từ trên
xuống dưới ở các cấp quản lý. [20]
Tuy nhiên, cũng như phần mềm CILIS nhược điểm lớn nhất của
VILIS1.0 vẫn là việc quản trị cơ sở dữ liệu vẫn là Microsoft Acess với định
dạng *.mdb khả năng lưu trữ dữ liệu hạn chế khó đáp ứng nhu cầu quản lý rất
nhiều thông tin của đất đai giúp các nhà quản lý đất đai quản lý chặt chẽ và
vạch ra chiến lược sử dụng đất trong thời kỳ kinh tế thị trường.
Trên đây là một số phần mềm đã được áp dụng trong quá trình quản lý
đất đai nói chung, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính nói riêng ở Việt Nam từ
trước đến nay, tuy nhiên các phần mềm này như đã phân tích ở trên có nhiều
hạn chế, chưa đủ điều kiện phục vụ cho công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa
chính theo yêu cầu hiện nay. Chính vì vậy, tại Công văn số 106/BTNMTCNTT ngày 12 tháng 1 năm 2012 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thông báo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
25
http://www.lrc-tnu.edu.vn/