PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
là bậc học đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người;
hình thành cho trẻ những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang
tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi; khơi dậy và
phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp
học tiếp theo. Trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên
xã hội, phát triển các năng lực nhận thức, các thao tác tư duy và hoạt động thực
tiễn, đồng thời bồi dưỡng những tình cảm tốt đẹp, những đức tính cao quý để
phát triển trẻ thành một con người toàn diện.
Những năm gần đây bậc học mầm non đang tiến hành đổi mới chương
trình giáo dục trẻ, trong đó đặc biệt coi trong việc tổ chức các hoạt động phù hợp
với sự phát triển của từng cá nhân trẻ, chú trọng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm,
giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn kích thích trẻ hoạt động một cách
chủ động, tích cực, hồn nhiên, vui tươi; đồng thời cũng tạo cơ hội cho giáo viên
phát huy khả năng sáng tạo trong việc lựa chọn và tổ chức các hoạt động chăm
sóc giáo dục trẻ một cách linh hoạt, mềm dẻo, theo phương châm “học mà chơi,
chơi mà học”, đáp ứng mục tiêu của giáo dục mầm non.
Trong chương trình giáo dục mầm non thì việc cho trẻ làm quen với chữ cái
là một môn học có ý nghĩa và tác dụng to lớn nhằm phát triển các mặt: trí tuệ,
đạo đức, thẩm mỹ, đặc biệt là phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Đối với trẻ mầm non
hoạt động làm quen với chữ cái có tầm quan trọng rất lớn trong việc phát triển
vốn từ - từ vựng, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, khả năng phát âm chuẩn chữ cái,
phát triển các giác quan. Mặt khác, nó còn giúp trẻ nhận biết thế giới xung
quanh, giúp trẻ giao tiếp với mọi người. Ai cũng biết học đọc và học viết là một
trong những khía cạnh của nghệ thuật ngôn ngữ mà con người cần phải nắm
được, nhằm mục đích cầm trong tay thứ vũ khí tối cao đó là: “giao tiếp”. Việc
hướng dẫn cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi “Làm quen chữ cái” là cơ hội tốt để sớm hình
thành ở trẻ những năng lực hoạt động ngôn ngữ; phát triển trí tuệ và kỹ năng
làm quen với chữ cái. Qua đó giáo dục tình cảm và phát triển tư duy, mở rộng
tiếp quan trọng nhất. Nhờ có ngôn ngữ mà con người hiểu được nhau, cùng nhau
hành động vì mục đích chung: lao động, đấu tranh, xây dựng và phát triển xã
hội. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ có rất nhiều các nội dung khác nhau như: phát
âm và dùng ngữ điệu đúng, thích hợp khi sử dụng tiếng mẹ đẻ; phát triển vốn từ
và nói đúng ngữ pháp. Bộ môn làm quen với chữ cái là một phần của việc phát
2
triển ngôn ngữ trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ 5-6 tuổi, nó có ý nghĩa
quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Chữ cái vốn rất gần gũi với trẻ em nhưng ở những năm đầu tiên của cuộc
sống, những phản ứng của trẻ đối với chữ viết vẫn còn mơ hồ thậm chí có trẻ
vẫn còn thấy xa lạ. Khi trẻ bước vào tuổi mẫu giáo, nhất là từ 4 tuổi trở lên thì
trẻ đã được làm quen, tiếp xúc với chữ viết, tuy nhiên lòng yêu thích của các
cháu còn ở nhiều mức độ khác nhau, việc trẻ hứng thú, ham thích say mê với
chữ viết như thế nào còn phụ thuộc vào hoàn cảnh sống, điều kiện gia đình, quá
trình và cách thức giáo dục của người lớn.
Trước hết làm quen với chữ cái là rèn luyện khả năng nghe, khả năng phát
âm, khả năng hiểu ngôn ngữ tiếng việt.
Thông qua việc làm quen với chữ cái cung cấp thêm vốn từ về thế giới
xung quanh, giúp trẻ hiểu được mối quan hệ giữa ngôn ngữ nói với ngôn ngữ
viết, trẻ hiểu thế nào là đọc và viết sau này ở trường phổ thông, thông qua việc
tìm kiếm các chữ cái khác nhau ở các vị trí khác nhau của từ giúp trẻ phát triển
óc quan sát, ghi nhớ có chủ định, xác định vị trí trong không gian...
Cho trẻ làm quen với chữ cái còn góp phần kích thích phát triển tư duy và
hình thành tính tích cực của trẻ, nó giúp trẻ định hướng trong không gian, giúp
trẻ điều khiển những hoạt động của các giác quan. Bên cạnh đó còn góp phần
giáo dục tình cảm, mở rộng hiểu biết cho trẻ.
Đối với trẻ 5 - 6 tuổi, việc giao tiếp được mở rộng, trẻ được thường xuyên
tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người xung quanh nói. Mặt khác cơ quan phát
- Lớp tôi được nhà trường trang bị tương đối đầy đủ về CSVC, trang thiết
bị như: bàn ghế ngồi học đúng quy cách, ti vi đa năng, đầu đĩa…tạo thuận lợi
cho tôi trong việc thiết kế bài dạy trên máy tính phục vụ cho môn LQCC.
- Trẻ ngoan, đa số cháu đều học qua lớp mẫu giáo nhỡ nên thuận lợi hơn
trong việc rèn nề nếp học tập cho trẻ... Trẻ đi học chuyên cần đạt từ 95% trở lên.
- Được sự ủng hộ nhiệt tình của các bậc cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn
thể xã hội. Phụ huynh nhiệt tình ủng hộ khi giáo viên tuyên truyền vận động,
sưu tầm đồ dùng, đồ chơi phục vụ giảng dạy.
2.2. Khó khăn:
- Chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ diễn ra thường xuyên, liên tục, để
bám sát vào các hoạt động trên thì giáo viên có ít thời gian nghiên cứu tài liệu
phục vụ giảng dạy.
- Đồ dùng đồ chơi phục vụ cho việc dạy và học chủ yếu là đồ dùng tự làm
nên độ bền chưa cao và khả năng ứng dụng còn hạn chế.
- Số trẻ trong lớp đông (37 cháu), ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy và
rèn luyện của cô giáo.
4
- Trình độ tiếp thu của trẻ không đồng đều, một số trẻ 5 tuổi mới ra lớp,
có trẻ còn nói ngọng, nói lắp, nói nhiều tiếng địa phương, phát âm chưa rõ
ràng...Trẻ chưa tập trung chú ý, kỹ năng sử dùng đồ dùng còn hạn chế...
- Một số phụ huynh quá nôn nóng trong việc học chữ của con em mình,
muốn trẻ học chữ như học sinh lớp 1. Nhiều phụ huynh lại quá bận rộn không có
thời gian để quan tâm đến việc học của trẻ. Có những phụ huynh còn thường
xuyên cho con đi học muộn, và hay nghỉ học tuỳ tiện...
Vào đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát trẻ theo các nội dung sau:
TT
1
Chưa đạt
Số trẻ
KS
Số trẻ
Tỷ lệ
Số trẻ
Tỷ lệ
37
20
54%
17
46%
37
10
27%
27
Chỉ số 84: “Đọc” theo truyện
tranh đã biết;
3. Những biện pháp thực hiện:
3.1. Tạo môi trường học tập phong phú
Góc sách tôi luôn dành các mảng tường tạo góc mở với các bài tập sáng
tạo, để trẻ tự tìm tòi khám phá, làm các bài tập theo khả năng sở thích của trẻ.
Phía trên khoảng tường rộng tôi dán chữ “Bé tập ghép từ” và tôi lựa chọn
những câu chuyện, bài thơ tôi viết có hình ảnh minh hoạ phù hợp với chủ điểm
và gần gũi với trẻ để trẻ lấy sách ra xem, trẻ được làm quen với cách phát âm,
5
đọc, cách mở vở…tạo cho trẻ hứng thú. Góc học tập tôi trang trí những hình ảnh
có từ chỉ tên các hình ảnh đó và từ còn thiếu để trẻ được trực tiếp gắn chữ cái
vào từ còn thiếu…
Ví dụ: Chủ điểm thực vật thì tôi có tranh “Hoa loa kèn”, “hoa hồng”, “hoa
lay ơn”, “hoa huệ”... Có từ chỉ tên các loại hoa, củ, quả đó và từ còn thiếu…
Tôi trang trí góc chữ cái với các từ gần gũi như - Ngôi nhà chữ cái – Bé
đã học chữ gì - Tuần này bé học chữ gì? Bé tập ghép từ….
Việc trang trí được tôi thực hiện thay đổi theo từng chủ đề
Để môi trường học tập vui chơi của trẻ thêm phong phú tôi luôn sưu tầm
các nguyên phế liệu như hột hạt, len, rơm, ống hút, xốp cắt để làm đồ dùng cho
trẻ hoạt động xếp chữ cái, đồ chữ...
Ở góc học tập tôi luôn thay đổi các hình ảnh để trẻ hứng thú và thường
xuyên được củng cố các nhóm chữ cái đã học. Tôi đã làm bảng “Ong học chữ”
để trẻ tự gắn các chữ cái mình mới học vào đó và hàng ngày trẻ được ôn luyện
nhóm chữ đó. Cụ thể: Tuần 1 trẻ học nhóm chữ cái: o, ô, ơ thì trẻ chỉ gắn 3 chữ
đó lên bảng và ôn trong vòng 2 tuần. Đến tuần 3 trẻ học nhóm chữ cái: a, ă, â thì
nhớ những gì gây ấn tượng mạnh, một câu chuyện hấp dẫn hay một bức tranh
đẹp mới lạ ... Chính vì thế khi dạy một tiết “Làm quen chữ cái” tôi cho rằng đồ
dùng trực quan là yếu tố quan trọng; đồ dùng, đồ chơi phải đẹp, hấp dẫn trẻ,
phải có màu sắc tươi sáng phù hợp với trình độ nhận thức và nội dung bài, bên
cạnh đó phải đảm bảo kích thước và tính thẩm mỹ, tính an toàn và tính sư phạm,
phù hợp với trẻ và dễ kiếm.
7
Trong tiết học tôi thường xuyên xen kẽ các hình thức kết hợp với các trò
chơi nhưng đảm bảo động tĩnh. Không giống như bộ môn khác, bộ môn làm
quen chữ cái nếu người dạy không có sự đầu tư nó sẽ đơn điệu và khô cứng. Vì
vậy người giáo viên luôn phải tổ chức các tiết dạy dưới hình thức trò chơi với
một quá trình xuyên suốt từ đầu đến cuối tiết học, lồng tích hợp các nội dung
giáo dục để trẻ hứng thú, thoải mái, phát huy được tính độc đáo, sáng tạo, kích
thích tính tò mò ham hiểu biết của trẻ.
Trong tiết học tôi thường xuyên thay đổi các hình thức vào bài gây hứng
thú cho trẻ; tôi dùng các thủ thuật như câu đố, bài hát, trò chơi…để dẫn dắt trẻ
vào tiết học.
VD: Tiết học “Làm quen chữ cái p, q”
- "Lắng nghe, lắng nghe"!
Các con có thích đi du lịch không? Các con thích đi bằng phương tiện gì?
Hôm nay có chuyến tầu đưa hành khách đi du lịch qua màn ảnh nhỏ đó các con
có thích đi không? Nào chúng mình cùng đi nhé!
- Cô và trẻ hát, vận động bài "Đi tàu lướt" kết thúc bài hát trẻ ngồi về chỗ theo
hình chữ U. Đọc câu đố về “Xe đạp” giới thiệu chữ cái “p”...
VD: Tiết học “Trò chơi với chữ cái o, ô, ơ”
- Xin chào mừng tất cả các bé đến với chương trình: “Sân chơi chữ cái”
của lớp Hoa Lan ngày hôm nay... Ngay bây giờ cô và các con cùng khám phá
xem chủ đề chơi của chúng ta ngày hôm nay là gì. Cô mời các con hãy quan sát
Lựa chọn một câu chuyện hay một bài thơ có các nhân vật, sự vật, con
vật có tên gọi trong đó có chứa chữ cái mà cô định cho trẻ làm quen.
Ví dụ: Các con đã được nghe câu chuyện “Sự tích Hồ Gươm” rồi, trong
câu chuyện có nhân vật nào? Cô bấm trên màn hình hình ảnh “Rùa vàng” có từ
“rùa vàng” ghép từ các thẻ chữ cái, cho trẻ lên tìm chữ cái đã được học. Giới
thiệu nhóm chữ mới v, r.
Thơ ca hò vè dễ nhớ, dễ đọc, gây được hứng thú cho trẻ như: “Rềnh rềnh
ràng ràng”, “Lúa ngô là cô đậu nành”, “Đi cầu đi quán”; “Gánh gánh gồng
gồng”... Hay một số bài thơ cô tự sáng tác cho trẻ tìm và gạch chân chữ cái:
"Quê hương ta rừng vàng biển bạc
Quăng chài thả lưới cá đầy khoang
Biển Sầm Sơn! hè về nhộn nhịp
Vui tưng bừng đón khách thập
phương
Hàm Rồng kia ghi danh lịch sử
Lớp lớp anh hùng đã ngã xuống vì
dân."
Tìm và gạch chân chữ cái v, r
“Cây bầu hoa trắng
Cây mướp hoa vàng
Tim tím hoa xoan
Hoa đào hồng ửng...
* * *
Hoa sen trên nước
Hoa dừa trên mây
Đất nước em đây
Bốn mùa hoa thắm”
Một số bài thơ luyện phát âm cho trẻ như:
đội nào nhanh” Trẻ thi đua nhau gắn chữ cái nào đó, đếm số lượng và cùng kiểm
tra kết quả đội nào nhiều hơn, nhiều hơn là mấy.
3.3. Dạy trẻ làm quen với chữ cái ở mọi lúc mọi nơi
- Thông qua giờ đón, trả trẻ tôi có thể cho trẻ xem một số tranh ảnh đẹp
và cho trẻ tìm chữ cái vừa học trong tranh. Hoặc có thể gắn ảnh có tên của trẻ,
cho trẻ gắn thứ ngày tháng…xem tranh ảnh, đọc đồng dao.
- Trong giờ hoạt động ngoài trời:
Cho trẻ đọc thơ ca, hò vè, đọc đồng dao luyện phát âm cho trẻ; viết chữ
bằng phấn, cho trẻ xếp sỏi, hột, hạt thành các chữ cái.
Bên cạnh việc dạy trẻ các bài học theo chương trình phân phối thì tôi còn
cho trẻ chơi các trò chơi vận động có tích hợp chữ cái.
Ví dụ: Trò chơi "Câu cá"
Chia trẻ ra thành 3 đội. Cô để 3 hồ cá, mỗi hồ cá sẽ có rất nhiều con cá
mang các chữ cái. Yêu cầu mỗi đội sẽ phải câu đúng con cá mang chữ cái theo
yêu cầu cô đặt ra. Đội nào câu đóng được nhiều chữ cái sẽ dành chiến thắng.
- Trong giờ hoạt động góc: Tên các góc chơi được cắt dán bằng các loại
chữ in thường chỉ tên góc, tên đồ dùng, đồ vật để trẻ tự tìm hiểu như: làm các
bài tập gắn, đính, viết và gài chữ theo mẫu; gắn các thẻ chữ rời theo từ ...
- Trong giờ hoạt động chiều: Tôi cho trẻ ôn lại những chữ cái đã học bằng
cách in, tô chữ rỗng, nối chữ trong từ với chữ in đậm, bù chữ còn thiếu vào từ
10
dưới tranh, gạch chân các chữ đã học trong từ, tìm cắt chữ trong tranh, sách, báo
làm bộ sưu tập chữ cái.
Bên cạnh đó tôi thường xuyên quan sát trẻ, ghi chép vào sổ để theo dõi,
đánh giá quá trình phát triển những kỹ năng cần thiết chuẩn bị cho việc đọc của
trẻ nhằm điều chỉnh các biện pháp giáo dục đối với từng cá nhân trẻ sao cho phù
hợp và có hiệu quả nhất.
3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin, thiết kế giáo án điện tử:
Hoan hô!
Đúng rồi!
Bạn giỏi quá!
Ồ! Tiếc quá
Sai rồi. Bạn hãy thử lại nhé
Bên cạnh đó tôi khai thác và sử dụng các trò chơi trong phần mềm
Kidsmart và Happykids (Bé được làm quen và nhận dạng bảng chữ cái, học phát
âm...). Với ý tưởng từ ngôi nhà sách của Baileys trong chương trình Kidsmart
tôi tổ chức cho trẻ ôn chữ cái bằng cách tìm tranh chứa chữ cái cô vừa dạy, tự in
g n ô s
g n ò d
và gạch chân chữ vừa tìm được; trò chơi “đuổi hình bắt chữ”...
Ngôi nhà sách của Baileys
Các Trò chơi trong Ngôi nhà sách của Baileys như:
+ Máy chữ : Nhận biết chữ hoa và chữ thường. Nhìn chữ cái và nghe âm chúng.
+ Ngày hội ba chữ cái : Đánh vần và phát âm các từ có ba chữ cái. Nhóm các
vật theo tên vần với nhau hoặc có chữ cái đầu tiên giống nhau.
12
Ngoài ra tôi còn sắp xếp lịch học trẻ được tham gia học với những trò
chơi vô cùng lý thú, hấp dẫn như: Làm quen với chữ cái, tập tô chữ cái, người
bạn ngộ nghĩnh, kể chuyện cho bé nghe, học chữ cái,... trong chương trình
Happykids; tôi cho trẻ thực hành điều khiển chuột trên máy tính để quan sát thao
cái có trong từ chỉ hình ảnh đó.
+ Trò chơi: Thi hái quả.
- Mục đích: Giúp trẻ nhận biết chữ, phát âm, rèn tính nhanh nhẹn cho trẻ.
- Chuẩn bị: 1 cây có gắn nhiều loại quả, trên mỗi quả có chứa 1 chữ cái.
- Luật chơi: Trẻ hái theo yêu cầu của cô.
- Cách chơi: Cô để cây có gắn quả ở giữa lớp, mỗi lần lên hái khoảng 5 bạn, trẻ
vừa cầm giỏ, vừa đi xung quanh hát. Khi có hiệu lệnh của cô thì trẻ hái 1 quả bỏ
vào giỏ của mình. Cô yêu cầu hái quả mang chữ cái… trẻ hái và bỏ vào giỏ, mỗi
lần chơi là 5 cháu. Kết thúc cô cho trẻ nhận biết và phát âm những chữ cái đó.
+ Trò chơi: Mua hàng theo đơn.
- Chuẩn bị: Thẻ chữ cái làm hoá đơn mua hàng.
Một số đồ dùng gia đình hoặc các loại phương tiện giao thông, một số trái cây.
- Cách chơi: Thi đua giữa 2 đội.
Mỗi thành viên của mỗi đội lên chọn 1 hoá đơn mua hàng và vượt chướng
ngại vật lên đến quầy hàng mua 1 mặt hàng sao cho kí hiệu của mặt hàng đó
trùng với chữ trong hoá đơn mua hàng, bỏ vào giỏ mang hàng về để nơi qui định
và về đứng ở cuối hàng, tiếp tục bạn thứ 2, 3… và cho đến hết.
Hết thời gian đội nào mua đúng và nhiều, đội đó sẽ thắng.
+ Trò chơi: Truyền tin.
- Luật chơi: Bạn thứ nhất lên nhận thẻ chữ (Bí mật) sau đó chạy về đội của mình
đọc thầm vào tai bạn thứ 2, bạn thứ 2 “truyền tin” cho bạn thứ 3...cứ như vậy
cho đến bạn cuối cùng, sau khi nhận được “tin truyền” đi tìm chữ đó ở xung
quanh lớp. Đội nào tìm đúng, tìm nhanh là thắng cuộc.
- Cách chơi: Chia trẻ thành 3 - 4 nhóm (5-7 trẻ/nhóm), mỗi nhóm cử đại diện
lên nhận thẻ chữ và về truyền tin theo đúng luật chơi cô đã nêu.
+ Trò chơi: Chơi xúc xắc nhận biết chữ cái.
- Chuẩn bị: Bàn cờ có ghi các chữ cái; Ống đựng quân xúc xắc; Quân xúc xắc
khối vuông có 6 mặt, mỗi mặt ghi 1 chữ cái đã học, hoặc hai mặt ghi cùng 1 chữ
cái đã học; Hột, hạt làm quân đi.
- Cách chơi: Cô có thể tổ chức chơi theo nhiều nhóm, mỗi nhóm từ 24 cháu
trước cho trẻ chương trình lớp 1 như: tập viết chữ, ghép từ, đánh vần... và chú ý
15
rèn phát âm chuẩn cho trẻ, tránh phát âm tiếng địa phương hoặc phát âm sai (“x”
(xờ) = “ích xờ”; “s” (sờ) = “ét xì”; “h” (hờ) = “hát”; “t” (tờ) = “tê”...
Hằng ngày tôi đã thường xuyên trao đổi với phụ huynh về tình hình học
tập của trẻ, trao đổi một số nhược điểm của trẻ về cách phát âm, cách ngồi, cách
tô, cách cầm bút, để vở, giở vở... để phụ huynh nắm được. Nhằm hình thành một
số kỹ năng ban đầu cần thiết để chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. Giới thiệu cho phụ
huynh xem những đồ dùng, đồ chơi cần thiết để phục vụ các hoạt động.
Việc đưa con đi học chuyên cần, giúp trẻ có nề nếp và có kiến thức cho
bản thân trẻ. Giới thiệu các loại sách vở có tính giáo dục cao tới phụ huynh.
Như chúng ta đã biết có thông tin hai chiều là rất có lợi giúp gia đình và
nhà trường có chung quan điểm giáo dục trẻ. Sau khi sử dụng các biện pháp
tuyên truyền tới phụ huynh, phụ huynh đã hiểu tầm quan trọng của việc dạy trẻ
làm quen chữ cái, tác dụng của vấn đề dạy trẻ, nắm bắt được phương pháp dạy
trẻ. Từ đó phụ huynh luôn luôn kết hợp chặt chẽ với giáo viên để dạy trẻ.
Tôi thường đánh máy các nội dung trẻ đã được học ở lớp đưa cho phụ
huynh về nhà cùng tham khảo và dạy trẻ, qua đó tôi cũng nhận được thông tin
phản hồi từ phụ huynh để có phương dạy trẻ đạt hiệu quả nhất.
4. Kiểm nghiệm:
Sau khi thử nghiệm các biện pháp nói trên chất lượng hoạt động LQVCC
ở lớp tôi được nâng lên rõ rệt; đa số trẻ đã nhận biết và đọc được, tô được 29
chữ cái. Bên cạnh đó trẻ còn nắm được một số quy luật như cách đọc từ trên
xuống dưới, từ trái qua phải, cách mở sách vở, biết được khi các chữ cái xếp
cạnh nhau thì tạo thành tiếng……
Trẻ hoạt động một cách tích cực, chủ động trong giờ học, khám phá được
nhiều cái mới thông qua những trò chơi và các đồ dùng phong phú theo từng chủ
đề. Được tiếp cận với công nghệ thông tin qua bài giảng điện tử, qua các trò
Chưa đạt
Số trẻ Tỷ lệ
Trẻ hứng thú, tích cực tham gia
hoạt động làm quen chữ cái.
Chỉ số 79: Thích đọc những
37
100
100%
0
0
chữ đã biết trong môi trường
xung quanh;
Trẻ nhận biết và phát âm đúng
chữ cái.
Chỉ số 91: Nhận dạng được
37
100
100%
0
0
chữ cái trong bảng chữ cái
tiếng Việt.
Kỹ năng sử dụng các đồ dùng
37
100
100%
0
0
Tôi nhận thấy rằng: Dạy trẻ làm quen với chữ cái là một trong những nội
dung quan trọng cho trẻ mẫu giáo lớn để chuẩn bị cho việc học đọc, học viết khi
bước vào lớp 1, là mối quan tâm hàng đầu của các bậc cha mẹ trẻ.
Qua những kết quả đã đạt được như trên tôi đã rút ra một số bài học kinh
nghiệm như sau:
17
- Để giúp trẻ nâng cao khả năng nhận biết và phát âm đúng đạt kết quả
cao, trước hết giáo viên phải có trình độ, năng lực, luôn đầu tư học hỏi kinh
nghiệm, không ngừng phát huy tính sáng tạo, linh hoạt trong giờ dạy, bản thân
phải luôn tích cực nghiên cứu tài liệu, chuyên đề, tập san có liên quan đến chữ
cái và tham khảo học hỏi bạn bè, đồng nghiệp, phát âm chuẩn tiếng phổ thông.
- Giáo viên biết sử dụng đồ dùng đồ chơi sáng tạo, đặc biệt là biết
ƯDCNTT, biết thiết kế các giáo án điện tử cho các tiết dạy nhất là chữ cái, khai
thác những trò chơi sáng tạo trên Internet. Giáo án phải sinh động, kích thích
tính tò mò, ham hiểu biết của trẻ, tích hợp các môn học khác một cách hợp lý,
giới thiệu vào bài một cách tự nhiên, sinh động, thu hút được sự chú ý của trẻ;
các bước chuyển tiếp nhẹ nhàng, liên kết.
- Giáo viên luôn gần gũi với trẻ nắm bắt tâm sinh lý của trẻ, quan tâm đến
lời nói trong mọi hoạt động của trẻ
- Biết tổ chức và xây dựng tạo môi trường chữ cái phong phú, cuốn hút trẻ
vận dụng để dạy trẻ làm quen chữ cái trong mọi lúc mọi nơi. Phối kết hợp giữa
gia đình với nhà trường, các ban ngành đoàn thể trong để xã để chăm sóc giáo
dục trẻ.
- Quan tâm, động viên trẻ kịp thời, rèn kỹ năng cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
- Thường xuyên rèn luyện các thói quen nề nếp nói chung và nề nếp học
tập nói riêng cho trẻ.
- Đồ dùng đồ chơi để trẻ hoạt động phải an toàn, sạch sẽ, đẹp, sinh động,
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.
Thời gian : 30 - 35 phút
I. Mục đích yêu cầu:
1. Kiến thức:
- Trẻ nhận biết, phát âm đúng chữ cái p, q.
- Trẻ nhận biết âm và chữ cái p, q trong từ trọn vẹn.
- Trẻ biết một số phương tiện giao thông và luật lệ giao thông đơn giản khi tham
gia giao thông.
2. Kỹ năng:
-Trẻ phát âm đúng chữ cái p, q.
- Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
- Phát triển các giác quan cho trẻ ( nghe, nhìn...).
- Rèn luyện sự khéo léo của đôi bàn tay.
3. Thái độ:
- Giáo dục trẻ có ý thức chấp hành một số luật lệ giao thông đơn giản khi tham
gia giao thông.
- Trẻ biết phối hợp với nhau trong các trò chơi tập thể.
- Biết tuân thủ các luật chơi.
- Tạo cho trẻ có thói quen học tập, biết giơ tay phát biểu, chú ý lắng nghe cô.
II. Chuẩn bị:
1. Đồ dùng của cô:
- Một chiếc xe đạp của trẻ.
- Màn hình chiếu về hình ảnh "xe đạp", "qua đường" có từ tương ứng.
19
- Hình ảnh chữ p, q in thường, viết thường trên màn hình cho trẻ nhận biết, phân
biệt và so sánh.
- Thẻ từ chữ rời "xe đạp", "qua đường".
- 2 bộ trang phục: đèn xanh có gắn chữ q, đèn đỏ có gắn chữ p làm bằng hộp bìa
cát tông cho trẻ mặc tham gia trò chơi.
- Hàng ngày đi học bố mẹ có đưa chúng mình đi
bằng xe đạp không? Khi ngồi trên xe chúng mình
phải ngồi như trế nào?
Hoạt động của trẻ
- " Nghe gì, nghe gì"
- Trẻ trả lời câu hỏi của theo
suy nghĩ của trẻ.
- Trẻ hát vận động cùng cô.
- Trẻ lắng nghe và trả lời
câu đố.
- Trẻ quan sát xe đạp và trả
lời câu hỏi của cô theo ý
hiểu của mình.
- Trẻ trả lời.
20
+ Cô cho trẻ quan sát từ" xe đạp" trên màn hình.
+ Cô đọc cho trẻ nghe 3 lần, sau đó mời trẻ đọc
cùng cô 3 lần.
-Trẻ quan sát.
- Trẻ lắng nghe cô đọc và
đọc cùng cô.
cùng cô 3 lần.
+ Yêu cầu trẻ đếm chữ cái trong từ.
+ Cô giới thiệu thẻ từ" qua đường".
+ Mời cá nhân trẻ lên tìm chữ cái đã học sau đó
mời cả lớp phát âm.
+ Mời trẻ lên lấy chữ cái đầu tiên: Chữ q
- Cá nhân trẻ lên tìm chữ đã
học và đưa ra cho cả lớp
cùng phát âm.
- Trẻ lên lấy chữ cuối cùng.
- Trẻ quan sát chữ p và lắng
nghe cô phát âm.
- Trẻ phát âm theo yêu cầu
của cô.
- Trẻ nói về đặc điểm chữ p.
- Trẻ quan sát và lắng nghe
cô phân tích.
- Trẻ quan sát và lắng nghe
cô giới thiệu chữ p viết
thường.
- Trẻ quan sát.
- Trẻ trả lời câu hỏi của cô
theo ý hiểu của trẻ.
- Trẻ quan sát lắng nghe cô
đọc và đọc cùng cô.
- Trẻ đếm chữ trong từ.
- Cá nhân trẻ lên tìm chữ cái
đã học và cùng cả lớp phát
lấy thẻ chữ theo yêu cầu của cô giơ lên và phát âm
+ Trò chơi 2: "Bé khéo tay": xếp chữ p, q bằng
hạt gấc theo yêu cầu của cô sau đó cô kiểm tra.
+ Trò chơi 3: "Kết bạn đèn xanh , đèn đỏ"
- Hôm nay cô sẽ thưởng cho các con xem một một
màn biểu diễn thời trang các con hãy cùng vỗ tay
cổ vũ nào?
+ Mời 2 trẻ mặc trang phục đèn xanh ( có gắn chữ
q), đèn đỏ (có gắn chữ p) ra biểu diễn.
+ Hai trẻ sẽ đố các bạn ở dưới đoán xem mình là
ai ? và trên người mình có gắn chữ gì?
+ Mời cả lớp phát âm chữ p, q.
+ Cô tổ chức cho trẻ chơi kết bạn đèn xanh đèn
tiên.
-Trẻ quan sát chữ q, nghe cô
phát âm sau đó phát âm
theo yêu cầu của cô.
- Trẻ nói về đặc điểm chữ q.
-Trẻ quan sát và lắng nghe
cô phân tích.
- Trẻ quan sát và nghe cô
giới thiệu chữ q viết
thường.
- Trẻ trả lời câu hỏi của cô
theo ý hiểu của trẻ.
- Trẻ lắng nghe cô phân
tích.
- Trẻ trả lời câu hỏi của cô.
c/c ôn lại nhé!.
Cô cho trẻ ôn các chữ cái: l- m - n
2/ Hoạt động 2:
Trò chơi
- Trẻ hát và vận động bài hát: “ Bắc kim thang”.
Trò chơi 1:
Rung chuông vàng.
- Cách chơi:
Trẻ ngồi thành 2 hàng, trẻ nghe cô đọc câu hỏi và quan
sát nội dung câu hỏi trên màn hình, và trả lời bằng cách
viết vào bảng con theo kết quả mà trẻ biết. Sau thời gian
qui định trẻ đưa ra câu trả lời, nếu cháu nào trả lời sai sẽ
không được tiếp tục trò chơi.
- Luật chơi: Kết thúc trò chơi, cháu nào trả lời đúng
hoàn toàn 6 câu hỏi là người thắng cuộc.
- Nội dung câu hỏi:
Câu 1: Nếu ghép nét sổ thẳng và nét móc trên lại
với nhau chúng ta sẽ được chữ cái gì? (chữ n)
Câu 2: Chữ cái còn thiếu trong từ “con mực” là chữ
gì? (Con ___ực)
Câu 3: Hãy đoán xem chữ cái bị che một nửa là chữ
cái gì?
Câu 4: Hãy viết chữ cái còn thiếu trong từ “con lạc
Cô và trẻ cùng chơi
Trẻ kể…
Trẻ tìm và gọi tên
những con vật trẻ biết
Trẻ thực hiện