Đặc điểm sinh học, sinh thái học của nhện hành tỏi rhizoglyphus echinopus (fumouze robin) và khả năng phòng trừ chúng tại vùng đồng bằng sông hồng (TT) - Pdf 34

PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây hành (Allium cepa var. aggregatum L.) và cây tỏi (Allium sativum L.) là
cây trồng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của các nước như Trung Quốc, Ấn Độ
và Việt Nam. Hành tỏi tuy không phải là loại nông sản chủ yếu liên quan đến lương
thực nhưng lại có vai trò khá quan trọng trong đời sống hàng ngày và trong ngành
công nghiệp chế biến. Theo thống kê, tổn thất nông sản bảo quản trong kho do nhện
nhỏ và côn trùng gây ra lên đến 20% (Heaps, 2006 và Philips and Throne, 2010).
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các chuyên gia trên thế giới về bảo quản,
tuy nhiên các kết quả về bảo quản này mới chỉ áp dụng được ở các nước ôn đới còn
vùng nhiệt đới chưa thực sự có hiệu quả. Hành tỏi đang là cây trồng có ý nghĩa rất
lớn trong hệ thống cây trồng của nhiều địa phương. Là loại cây ngắn ngày năng suất
cao 20-25 tấn/ha (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 2000), thích hợp với nhiều
loại đất khác nhau từ vùng đồng bằng Bắc bộ đến vùng đất bạc màu ở Trung du. Vì
vậy, trong những năm gần đây diện tích trồng hai loại cây này đã tăng khá nhanh
trong phạm vi cả nước.
Tuy nhiên, các loài sâu bệnh đang gây hại nguy hiểm cho hành tỏi là bệnh thối
do nấm bệnh, côn trùng và tuyến trùng nhưng các loại dịch hại này đã và đang được
người nông dân kiểm soát khá tốt. Riêng loài nhện hành tỏi Rhizoglyphus echinopus
(NHT) là đối tượng gây hại chính nhưng ở nước ta lại chưa có nghiên cứu mang tính
hệ thống về sinh học, sinh thái học cũng như quản lý loài dịch hại này.
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục đích
Mục đích của đề tài là xác định được thành phần loài nhện nhỏ hại hành tỏi,
đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài nhện hành tỏi R. echinopus là loài gây hại
chính hiện nay và khả năng quản lý chúng một cách tổng hợp.
1.2.2. Yêu cầu
- Xác định thành phần nhện nhỏ hại trên hành, tỏi từ đó xác định loài gây hại chính
- Xác định đặc điểm gây hại và tác hại của nhện hành tỏi R. echinopus
- Xác định đặc điểm sinh học cơ bản của loài nhện hành tỏi R. echinopus
- Xác định đặc điểm sinh thái học cơ bản của loài nhện hành tỏi R. echinopus

kiểm dịch thực vật loài NHT trong kho và ngoài đồng có hiệu quả.
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam cũng đang dần từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong một thập kỷ
qua. Hành tỏi là loại cây gia vị có vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp.
Là một trong 3 mặt hàng rau gia vị xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam.
Trong những năm gần đây, tình hình gây hại của NHT ngày một gia tăng thiệt
hại do NHT gây ra trên hành tỏi củ ở giai đoạn bảo quản đối với bà con đều chưa rõ
nguyên nhân, không lý giải được các hiện tượng “bốc bay” hành tỏi trong thời gian
sau 3 – 4 tháng bảo quản. Đối với người trồng hành tỏi hiện nay có hai vấn đề lớn cần
giải quyết đó là sâu bệnh và nhện hại trong bảo quản củ sau thu hoạch đặc biệt là đối
với củ để làm giống. Khâu bảo quản củ giống gặp nhiều khó khăn, thời gian bảo quản
dài (4 - 6 tháng) vì vậy lượng củ giống hao hụt rất lớn, có những nơi mất tới 70 - 80%
(Sở Nông nghiệp tỉnh Hải Dương, 2013). Chính điều này đã đẩy giá hành tỏi củ bảo
quản sử dụng làm giống ở nhiều địa phương trồng hành nên rất cao (70 – 80.000
đồng/kg). Trái lại, nhiều vùng còn trồng hành mang tính độc canh, liên tiếp nhiều vụ
không luân canh nên nguồn dịch hại có điều kiện tích lũy nhiều trong đất, trên những
ruộng hành không được vệ sinh đồng ruộng ngay sau thu hoạch nên dịch hại đặc biệt
là nhóm nhện hại củ nằm trong đất dễ có nguy cơ bùng phát thành dịch khi gặp điều
kiện thuận lợi
Đối với người trồng hành tỏi hiện nay có hai vấn đề lớn cần giải quyết đó là sâu
bệnh và nhện hại trong bảo quản củ sau thu hoạch đặc biệt là đối với củ để làm giống.
Khâu bảo quản củ giống gặp nhiều khó khăn, thời gian bảo quản dài (4 - 6 tháng) vì
vậy lượng củ giống hao hụt rất lớn, có những nơi mất tới 70 - 80% (Sở Nông nghiệp
2


tỉnh Hải Dương, 2013). Chính điều này đã đẩy giá hành củ giống lên rất cao (70 –
80.000 đồng/kg). Trái lại, nhiều vùng còn trồng hành mang tính độc canh, liên tiếp
nhiều vụ không luân canh nên nguồn dịch hại có điều kiện tích lũy nhiều trong đất,

virus X (TVX) trên củ hoa tulip bảo quản trong kho (Aratchige et al., 2004; Lommen et al.,
2012. Các nghiên cứu về hình thái, đặc điểm sinh học, mức độ gây hại và ký chủ đã được
một số tác giả nghiên cứu như Sakurai et al. (1992), Diaz et al.(2000), Capineta (2001),
Chmielewski (2001), Kolodziejczyk and Radwan (2003) và Fan and Zhang (2003)... Nhiệt

độ và thức ăn có ảnh hưởng lớn tới thời gian phát dục, thời gian đẻ trứng và số lượng
trứng đẻ của NHT.
Phòng trừ NHT bằng các biện pháp luân canh cây tròng, sử dụng thiên địch và một
số loại thuốc trừ sâu gốc Cacbamat và Organophosphates, Pyrethroids, Organochlorines để
3


phòng trừ (Gurr et al., 2004; Collins, 2006; Phillips and Throne, 2010; Hoy, 2011).
2.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC
Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về nhóm nhện nhỏ hại cây
trồng như lúa, ngô, bông,.. của Ngô Đình Hòa (1992), Nguyễn Văn Đĩnh (1994), Nguyễn
Văn Đĩnh và Trần Thị Thu Phương (2006), Mai Văn Hào (2010), Dương Tiến Viện (2012),..

Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu công bố về thành phần loài nhện nhỏ gây
hại trên hành tỏi, đặc điểm sinh học, sinh thái học và biện pháp quản lý loài nhện
hành tỏi R. echinopus.
PHẦN 3. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. KHÁI QUÁT CHUNG VÙNG TRỒNG HÀNH TỎI VÙNG ĐỒNG BẰNG
SÔNG HỒNG
Đồng bằng sông Hồng (hay châu thổ sông Hồng) là một vùng đất rộng lớn nằm
quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam do phù sa sông Hồng và
sông Thái Bình bồi đắp. Vùng đồng băng sông Hồng bao gồm 10 tỉnh và thành phố như:
Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình,
Nam Định và Ninh Bình lại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt
(xuân - hạ - thu - đông). Điều kiện về khí hậu của vùng tạo thuận lợi cho việc tăng vụ

được thực hiện tại phòng thí nghiệm của Trung tâm Giám định kiểm dịch thực vật,
Cục Bảo vệ thực vật.
-Những thí nghiệm nghiên cứu triệu chứng gây hại của nhện hành tỏi và đánh
giá hiệu lực của thuốc hóa học được thực hiện tại Khu nhà lưới Kiểm dịch thực vật –
Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu I.
-Các nghiên cứu về mức độ phổ biến, diễn biến mật độ phát sinh gây hại, ảnh
hưởng của các yếu tố sinh thái tới mật độ nhện hành tỏi trên đồng ruộng và trong kho
bảo quản được thực hiện ở hai huyện Nam Sách và huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương.
-Các nghiên cứu về thành phần nhện nhỏ ngoài đồng và trong kho được thực
hiện tại các tỉnh trồng hành trọng điểm là Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình
và Hà Nội.
3.3. ĐỐI TƢỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
- Nhện hành tỏi Rhizoglyphus echinopus Fumouze and Robin và thiên địch của
nhện hành tỏi.
- Một số giống hành tỏi: Hành củ đỏ, hành củ tía, hành củ trắng, tỏi củ tía và
tỏi củ trắng.
- Một số loại thuốc trừ nhện: Confidor 100SL (Imidacloprid), Super bomb 200
EC (Hexythiazox và Pyridaben) và Tamentin annong 3.6 EC (Abamectin)
- Thức ăn nhân nuôi nhện hành tỏi: Nguồn thức ăn để tiến hành nhân nuôi nhện
hành tỏi là củ hành tây (Allium cepa) được khử trùng theo QCVN 01–19
(BNN&PTNT, 2010) bằng thuốc Methyl bromide (100% CH3Br).
- Các dụng cụ thu bắt nhân nuôi và thử nghiệm thuốc
3.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều tra thành phần loài, đặc điểm gây hại và tác hại của nhện hành tỏi R.
echinopus
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của nhện hành tỏi R. echinopus
- Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài nhện hành tỏi R. echinopus
- Nghiên cứu biện pháp phòng chống loài nhện hành tỏi R. echinopus
3.5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1. Phƣơng pháp xác định thành phần nhện nhỏ hại hành tỏi, đặc điểm gây hại

theo dõi các chỉ tiêu sinh học của NNBM.
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến khả năng đẻ trứng và tỷ lệ Hypopus
được tiến hành trên hai nguồn thức ăn là hành tây và tỏi củ cắt lắt ở các mức mật độ
1, 5, 10 và 15 con trên một đĩa petri.
+ Các thí nghiệm nhân nuôi sinh học được thực hiện trong tủ sinh thái DK –
PGC 010 ở nhiệt độ 20oC, 25oC, 30oC, 35oC, ẩm độ 80% và 95% trên thức ăn là củ
hành tây cắt lát (2m2). Nhiệt độ và ẩm độ được cài đặt bằng phần mềm điều khiển của
tủ. Ẩm độ trong tủ được duy trì ở mức 80%, 95% nhờ hệ thống cung cấp nước và
bảng điều khiển ẩm độ, khi ẩm độ xuống thấp dưới mức thí nghiệm nguồn nước được
cung cấp tự động trong máy để độ ẩm nhân nuôi luôn đạt ở mức thí nghiệm.
+ Nghiên cứu diễn biến mật độ của loài nhện hành tỏi R.echinopus ở ngoài đồng
ruộng theo quy chuẩn QCVN 01 - 38 (BNN&PTNT, 2010) điều tra sau trồng 7 ngày
cho đến khi thu hoạch. Điều tra định kỳ 7 ngày/lần tịnh tiến không lặp lại theo 10
điểm zích zắc. Trong kho bảo quản điều tra theo QCVN 01 – 141 (BNN&PTNT,
2013) và định kỳ điều tra 7 ngày/ lần.
3.5.3. Phƣơng pháp nghiên cứu biện pháp phòng chống
3.5.3.1. Biện pháp canh tác kỹ thuật
* Ngoài đồng ruộng thí nghiệm được thực hiện trên 3 công thức luân canh: Công
thức 1: Lúa – dưa chuột – hành, Công thức 2: Lúa – lúa – hành, Công thức 3: Hành được
trồng quanh năm. Điều tra diễn biến mật độ nhện hành tỏi R.echinopus trên 3 công thức,
6


định kỳ 7 ngày/ 1 lần, ghi chép số lượng nhện hành tỏi xuất hiện trên mỗi mẫu.
* Trong kho bảo quản: Thí nghiệm thực hiện trên ba công thức: Công thức 1:
Bảo quản theo hình thức treo túm, Công thức 2: Bảo quản theo hình thức đóng bao,
Công thức 3: Bảo quản theo hình thức đổ đống. Thí nghiệm được tiến hành theo dõi
ngay sau khi tiến hành các hình thức bảo quản (tháng 4) cho đến khi kết thúc giai
đoạn bảo quản (tháng 7).
Thí nghiệm này được bố trí tại Huyện Nam sách và huyện Thanh Hà, tỉnh

Tarsonemidae và Tetranychidae trong bộ Ve bét (Acarina) tại một số tỉnh trồng hành
tỏi trọng điểm tại vùng đồng bằng sông Hồng năm 2012 -2014 (bảng 4.1).

7


Bảng 4.1. Thành phần loài nhện nhỏ hại hành tỏi tại vùng đồng bằng sông Hồng
năm 2012 - 2014
T
T
1
2
3
4
5
6
7

Tên loài nhện nhỏ
Mức độ bắt gặp ở các tỉnh điều tra
Họ
Tên Việt
Thái
Hải
Hƣng
Hà Hà
Tên khoa học
Nam
Bình Dƣơng
Yên

+
+
++
+
+
(Claparede)
Nhện Tuy lip
Aceria tulipae Keifer
Eriophydae
++
+
++
++
Polyphagotarsonemus
Nhện trắng
Tarsonemidae
+
+
+
+
++
latus Bank
Nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch Tetranychidae
+
++
++
+
+
Ghi chú :
(-)

Đối với hành tỏi củ bảo quản thường có hiện tượng thối củ, đôi khi chỉ còn lớp
vỏ bao bên ngoài. Kết quả đánh giá mức độ gây hại được tiến hành điều tra trên 3
hình thức bảo quản đó là treo túm, đổ đống và đóng bao được ghi nhận ở hình 4.1.
Ở ngày 13/6 (tức là sau bảo quản 60 ngày) tỷ lệ hại do nhện hành tỏi gây ra rất
cao đạt đỉnh vào ngày 23/5 trên cả 3 hình thức bảo quản. Tỷ lệ hại cao nhất lần lượt là
71,33%; 70,11% và 42,67%. Tuy nhiên, tỷ lệ hại do nhện gây ra lại giảm dần về cuối.
8


Hình 4.1. Mật độ của nhện hành tỏi trên các hình thức bảo quản khác nhau
Lây nhiễm nhện hành tỏi trên 3 công thức thí nghiệm với các mật độ 100 cá thể
nhện, 200 cá thể và 300 cá thể nhện hành tỏi trên tỏi củ và hành củ. Kết quả thí
nghiệm đánh giá sự hao hụt về khối lượng do nhện hành tỏi R. echinopus gây hại
được trình bày ở bảng 4.2 và 4.3.
Bảng 4.2. Khối lƣợng tỏi bị hao hụt do nhện hành tỏi R. echinopus
gây ra trên tỏi củ bảo quản, năm 2014
Khối lƣợng
Khối lƣợng
(%) hao hụt (%) hao hụt
ban đầu
TB sau thí
so với ban
so với đối
(kg)
nghiệm (kg)
đầu
chứng
b
100
3

d
300
3
2,25
24,89
16,74c
Đối chứng
3
2,71
9,78a
100
3
2,36
21,44b
6,48a
c
200
3
2,16
28,00
14,28b
90 ngày
300
3
1,90
36,67d
24,60c
a
Đối chứng
3

100
3
2,70
9,89
2,75a
200
3
2,55
14,89c
8,14b
30 ngày
d
300
3
2,45
18,33
11,86c
Đối chứng
3
2,78
7,33a
100
3
2,45
18,22b
3,91a
200
3
2,26
24,56c

Đối chứng
3
2,40
19,89a
Ghi chú: Các chữ cái giống nhau trong phạm vi cột không có sự sai khác ở độ tin cậy P < 0,05;
Nhiệt độ trung bình 26,15oC; RH = 75%.
30 ngày (hao hụt so với ban đầu CV % = 6,0; LSD = 2,28; hao hụt so với đối chứng CV % = 6,4;
LSD = 1,78); 60 ngày (hao hụt so với ban đầu CV% = 3,8; LSD = 1,64; hao hụt so với đối chứng
CV % = 5,6; LSD = 2,5); 90 ngày (hao hụt so với ban đầu CV % = 5,0; LSD = 3,25; hao hụt so với
đối chứng CV% = 5,0; LSD = 5,2).
Ngày bảo
quản

Mật độ
(con)

Kết quả phân tích cho thấy ở các mật độ 100 và 200 cá thể nhện sau 30 ngày sau khi
thả nhện sự gây hại của chúng đã có sự sai khác so với đối chứng. Mức độ hại do nhện
gây ra so với ban đầu lần lượt là 7,56 và 9,67% so với đối chứng cũng tương ứng là 2,22
và 4,67%. Tuy nhiên, ở mật độ 300 cá thể nhện tỷ lệ hại sau 30 ngày so với đối chứng là
tương đối lớn, tỷ lệ hao hụt so với ban đầu là 14,33% và so với đối chứng là 9,39%.
Theo dõi ở thời gian sau 90 ngày bảo quản cho thấy tỷ lệ hao hụt so với ban đầu
ở mật độ100 cá thể nhện là 21,44%; ở mật độ 200 cá thể nhện tỷ lệ hao hụt là 28,00%
và ở mật độ 300 cá thể nhện tỷ lệ hao hụt là 36,67%.
Trên hành củ bảo quản ở 30 ngày sau bảo quản tỷ lệ hao hụt khối lượng so với
đối chứng lần lượt là 8,89 %; 14,89% và 18,33% tương ứng với các mật độ 100, 200
và 300 cá thể nhện. Ở thời điểm sau bảo quản 60 ngày tỷ lệ hao hụt so với ban đầu
tương ứng là 18,22%; 24,56% và 28,67%. Kết quả thí nghiệm cho thấy ở mật độ 300
nhện sau 90 ngày bảo quản tỷ lệ hao hụt so với đối chứng là cao nhất.
Từ kết quả thí nghiệm của bảng 4.2 và bảng 4.3 cho thấy tỷ lệ hại do NHT

Nhện trưởng thành thường sống quần tụ dưới gốc hành, phần thân rễ hoặc phía trên
mặt đất khoảng 2- 3cm.
b)Thời gian phát dục
Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ tới thời gian phát dục của nhện
hành tỏi được thể hiện ở bảng 4.4.
Bảng 4. 4. Thời gian phát dục của nhện hành tỏi R. echinopus ở các nhiệt độ khác nhau
Thời gian phát dục trung bình (ngày)
20 C
25oC
30oC
35oC
NN
1
1
1
1
Trứng
LN
3
3
3
2,5
TB
2,15a ± 0,12
2,11a ± 0,12
1,85b ± 0,10
1,68b ± 0,08
NN
3
1

3
2
1,5
1
Nhện tuổi 3
LN
6
3,5
3,5
3,5
TB
4,76a ± 0,18
2,69b ± 0,11
2,49b ± 0,10
2,26b ± 0,13
NN
6
5,5
6
5
Vòng đời
LN
3,5
11,5
10,6
10
TB
14,29a ± 0,26
8,79b ± 0,24
8,48b ± 0,2

Kết quả nghiên cứu khả năng đẻ trứng của nhện hành tỏi ở các nhiệt độ khác
nhau được trình bày ở bảng 4.5.
Bảng 4.5. Sức sinh sản của nhện hành tỏi R. echinopus
ở các mức nhiệt độ khác nhau
Nhiệt độ nuôi
20 C
25 C
30oC
35oC
NN
15
14
15
8
Thời gian đẻ của
LN
67
55
43
30
nhện cái (ngày)
TB
32,50c ± 2,83 29,80bc ± 2,47
28,12b ± 1,13
18,18c ± 1,25
NN
5
6
3
1

Thức ăn nhân nuôi củ hành tây (Allium cepa), RH = 95%; NN (nhỏ nhất), LN (lớn nhất), TB (trung bình).
Chỉ tiêu theo dõi

o

o

Ở 25oC thời gian đẻ trứng của nhện hành tỏi ngắn hơn so với ở 20oC, trung bình
29,8 ngày tuy nhiên tổng số trứng đẻ trung bình của một nhện cái là 564,67 trứng cao
hơn so với ở 20oC. Ở nhiệt độ 30oC thời gian đẻ trứng trung bình của nhện cái là
28,12 ngày tổng số trứng đẻ trung bình là 467,67 quả và số trứng đẻ trung bình của
một nhện cái chỉ đạt ở mức 15,09 quả. Ở 35oC thời gian đẻ trứng của nhện hành tỏi
ngắn nhất, thời gian đẻ trứng trung bình là 10,93 ngày và tổng số trứng đẻ trung bình
chỉ đạt 327,67 quả. So sánh với kết quả nghiên cứu của Sakurai et al. (1992) số lượng
trứng đẻ của nhện hành tỏi trong điều kiện thí nghiệm đều thấp hơn.
Theo dõi tỷ lệ trứng ở ở các nhiệt độ 20oC, 25oC, 30oC và 35oC ẩm độ 95% kết
quả ghi nhận ở bảng 4.6.
Bảng 4.6. Tỷ lệ trứng nở của nhện hành tỏi R. echinopus
Nhiệt độ
20oC
25oC
30oC
35oC

Chỉ tiêu theo dõi
Số lƣợng trứng nở
Tỷ lệ nở (%)
275
79,7
185

20 C
25oC
30oC
35oC
175,64 226,16 119,55
33,55
28,76
24,92
18,30
15,2
o

Hệ số nhân của một thế hệ (con) (Ro)
Thời gian của một thế hệ tính theo mẹ (ngày)(Tc)
Thời gian của một thế hệ tính theo đời con
(ngày)(T)
Thời gian tăng đôi quần thể (ngày) (DT)
Giới hạn tăng tự nhiên (lần) (λ)
Tỷ lệ tăng tự nhiên (rm)

25,21

20,68

15,99

13,47

3,38
1,23

của nhện hành tỏi R. echinopus
Loại thức ăn

Tỏi củ

Hành củ

Mật độ
(con/2cm2)
1
5
10
15
1
5
10
15

Chỉ tiêu theo dõi
Số trứng đẻ
Tổng số trứng đẻ
(quả/nhện cái/ngày)
(quả/ nhện cái)
b
9,70
263,67c
c
8,03
232,33e
5,21d

đoạn củ chắc đến cho đến cuối vụ thu hoạch vào ngày 22/12 mật độ nhện duy trì ở
mức thấp lần lượt là 53,73 con/dảnh; 39,93 con/dảnh và 57,80 con/dảnh. Tuy nhiên,
trên hành trà sớm số lượng nhện hành tỏi xuất hiện với mật độ cao trên hai giống
hành củ trắng và hành củ đỏ hơn so với giống hành củ tía.

Hình 4.2. Diễn biến mật độ loài nhện hành tỏi R. echinopus
trên các giống hành trồng trà sớm tại Nam Sách, Hải Dƣơng, năm 2014
Ở giai đoạn sinh dưỡng và hình thành củ mật độ nhện tăng cao trên cả ba giống
hành và đạt đỉnh vào kỳ điều tra ngày 3/11. Mật độ nhện tương ứng trên 3 giống hành
củ trắng, hành củ tía và hành củ đỏ là 227,3 con/dảnh; 145,20 con/dảnh và 234,33
con/dảnh. Sau đó mật độ nhện giảm dần, ở giai đoạn củ chắc đến cho đến cuối vụ thu
hoạch vào ngày 22/12 mật độ nhện duy trì ở mức thấp lần lượt là 53,73 con/dảnh;
39,93 con/dảnh và 57,80 con/dảnh.
14


Điều tra trên tỏi trồng trà sớm kết quả điều tra diễn biến mật độ nhện hành tỏi
trên hai giống tỏi củ trắng và tỏi củ tía ghi nhận ở hình 4.3.

Hình 4.3. Diễn biến mật độ loài nhện hành tỏi R. echinopus
trên các giống tỏi trồng trà sớm tại Nam Sách, Hải Dƣơng, năm 2014
Ở giai đoạn tỏi phát triển sinh dưỡng và phát triển củ mật độ NHT xuất hiện
không cao, mật độ NHT đạt đỉnh cao nhất trên hai giống tỏi củ trắng và tỏi củ tía ở
ngày điều tra 24/11 tương ứng là 61,73con/củ và 58,40 con/củ. Mật độ nhện giảm dần
đến cuối vụ thu hoạch. Giai đoạn thu hoạch mật độ NHT trung bình chỉ còn là 18,13
con/củ đối với giống tỏi củ trắng và 11,6 con/củ đối với giống tỏi củ tía.

Hình 4.4. Diễn biến mật độ loài nhện hành tỏi R. echinopus
trên các giống hành trồng trà chính vụ tại Nam Sách, Hải Dƣơng, năm 2014
15

16


được trồng quanh năm cho thấy, mật độ nhện trung bình của cả vụ trồng ở các công thức
luân canh trên lần lượt là 72,54 con/dảnh; 53,42 con/dảnh và 96,53 con/dảnh.
Bảng 4.9. Ảnh hƣởng của biện pháp luân canh tới diễn biến mật độ nhện hành
tỏi R. echinopus trên hành tại Thanh Hà, Hải Dƣơng, năm 2014 và 2015
Mật độ nhện ở các công thức luân canh (con/dảnh)
Ngày điều tra Lúa – dƣa chuột Hành đƣợc trồng
Lúa - lúa - hành
- hành
quanh năm
22/9/2014
4,47
0,67
12,40
29/9/2014
13,40
8,53
35,67
06/10/2014
28,53
22,60
37,73
13/10/2014
53,26
36,47
62,40
20/10/2014
62,73

15/12/2014
77,13
64,60
101,47
22/12/2014
70,40
58,33
81,53
29/12/2014
36,47
32,80
48,27
05/01/2015
33,60
20,53
42,73
12/01/2015
21,67
12,27
37,27
b
c
Trung bình
72,54
53,42
96,53a
Ghi chú: Các chữ cái giống nhau trong phạm vi hàng không có sự sai khác ở độ tin cậy P < 0,05.

Như vậy, luân canh hai vụ lúa một vụ hành làm giảm mật độ nhện hành tỏi so
với hai công thức luân canh lúa – dưa chuột – hành và hành được trồng quanh năm ở

20/6
27/6
04/7
11/7
18/7
25/7
Trung bình

Mật độ nhện ở các hình thức bảo quản (con/củ)
Treo túm
Đổ đống
Đóng bao
7,20
25,80
28,80
22,20
41,60
43,60
46,20
50,20
43,80
76,20
116,20
87,20
90,40
182,20
190,80
135,20
258,80
186,40

5,20
108,40
81,20
c
a
67,61
218,62
195,76b

Ghi chú: Các chữ cái giống nhau trong phạm vi hàng không có sự sai khác ở độ tin cậy P < 0,05

So sánh giữa ba hình thức bảo quản cho thấy mật độ nhện hành tỏi xuất hiện ở
trên ba hình thức có sự sai khác nhau ở mức có ý nghĩa P < 0,5. Mật độ nhện trung
bình ở cả ba hình thức bảo quản treo túm, đổ đống và đóng bao lần lượt là 67,61
con/củ; 218,62 con/củ và 195,76 con/củ. Như vậy hình thức treo túm rất có hiệu quả
trong phòng trừ nhện hành tỏi đối với hành củ bảo quản.
4.1.4.3. Biện pháp sinh học
a) Thành phần thiên địch là nhện nhỏ trên hành tỏi tại vùng đồng bằng sông Hồng
năm 2013 -2014
Loài NNBM Hypoaspis sp. xuất hiện ở trên thân củ ngầm trong đất ở ngoài
đồng và trên củ hành tỏi bảo quản trong kho. Nhện nhỏ bắt mồi xuất hiện với mức độ
rất phổ biến trên hành củ cả ngoài đồng lẫn trong kho bảo quản (bảng 4.11). Trong số
các loài thiên địch loài NNBM Hypoaspis sp. lần đầu tiên được ghi nhận trên hành tỏi ở
Việt Nam.
Bảng 4.11. Các loài nhện nhỏ thiên địch thƣờng gặp trên hành tỏi
Stt
1
2

Tên Việt Nam


b) Diễn biến mật độ nhện nhỏ bắt mồi Hypoaspis sp. trên hành ở ngoài đồng và trong
kho bảo quản

Hình 4.6. Diễn biến mật độ loài NNBM
Hypoaspis sp. trên hành ngoài đồng tại Nam
Sách Hải Dƣơng, năm 2014

Hình 4.7. Diễn biến mật độ loài NNBM
Hypoaspis sp. trên hành bảo quản tại Nam
Sách Hải Dƣơng, năm 2014

NNBM có mặt ở trong kho ở tất cả các giai đoạn phát triển (hình 4.6 và 4.7). Tuy
nhiên, trong kho ở thời kỳ đầu sau bảo quản 7-10 ngày ở kỳ điều tra ngày 4/4 mật độ
NNBM trung bình đạt 1,50 con/củ. Mật độ NNBM có xu hướng tăng dần theo thời gian
bảo quản. Ở kỳ điều tra ngày 25/7 mật độ nhện NNBM trung bình đạt 6,17 con/củ.
c) Đặc điểm hình thái loài nhện nhỏ bắt mồi Hypoaspis sp.
Loài NNBM Hypoaspis sp. thuộc họ Laelapidae là loài thiên địch đa thực và
trải qua các giai đoạn phát dục từ trứng, nhện non các tuổi (3 tuổi) và nhện trưởng
thành, kích thước của chúng được trình bày tại ở bảng 4.12.
Bảng 4.12. Kích thƣớc các pha phát dục của nhện nhỏ bắt mồi Hypoaspis sp.
Các pha phát dục
Trứng
Nhện non tuổi 1
Nhện non tuổi 2
Nhện non tuổi 3
Trưởng thành đực
Trưởng thành cái

Chỉ tiêu

0,35
0,50
0,44  0,030
0,20
0,30
0,24  0,025
0,55
0,75
0,65  0,051
0,30
0,45
0,39  0,034
0,80
0,90
0,85  0,024
0,40
0,55
0,47  0,035
0,90
1,00
0,95  0,030
0,50
0,65
0,55  0,030

Ghi chú: Nhiệt độ 30oC, RH = 80%, thức ăn NHT R. echinopus

19



Nhện non tuổi 1 (con)
LN
TB
NN
LN
TB
2
0,48 ± 0,28
0
2
0,57 ± 0,25
6
2,63 ± 0,50
1
9
3,33 ± 0,67
6
3,37 ± 0,64
2
8
5,0 ± 0,71
12
7,91 ± 0,75
6
20
12,1 ± 1,34
148
81,6 ± 11,6
52
160


0,48 ± 0,20
2,37 ± 0,27
3,37 ± 0,27
3,74 ± 0,28
3,85 ± 0,28

0,22 ± 0,17
1,85 ± 0,26
2,41 ± 0,23
2,48 ± 0,20
2,59 ± 0,74

0
1,11 ± 0,23
1,52 ± 0,20
1,48 ± 0,20
1,59 ± 0,20

Ghi chú: n= 25, Trưởng thành đực và cái ở 1 ngày tuổi

20


Từ kết quả bảng 4.13 và bảng 4.14 cho thấy pha nhện non tuổi 1 là pha vật mồi
ưa thích của loài NNBM Hypoaspis sp.
Theo dõi sức ăn trứng và nhện non tuổi 1 của nhện hành tỏi ở điều kiện 30oC, ẩm
độ 80% kết quả thí nghiệm ghi nhận ở bảng 4.15.
Bảng 4.15. Sự lựa chọn thức ăn của nhện nhỏ bắt mồi Hypoaspis sp.
đối với pha trứng và trƣởng thành của nhện hành tỏi R. echinopus

Ở pha nhện non tuổi 2 chúng đã bắt đầu tiêu thụ cả pha trứng và pha nhện
trưởng thành đực, cái. Số lượng vật mồi bị tiêu thụ đối với pha trứng, trưởng thành
đực và trưởng thành cái lần lượt là 1,85 trứng; 0,59 và 0,70 nhện.
Nhện non tuổi 3 có sức ăn ở các pha tương ứng là 2,22 trứng; 1 và 0,96 nhện
trưởng thành. Tuy nhiên sức tiêu thụ vật mồi đối với trưởng thành đực không cao.
Sức tiêu thụ của NNBM cái đều cao hơn so với nhện đực.
Loài NNBM Hypoaspis sp. là loài thiên địch quan trọng, có ý nghĩa trong phòng
trừ nhện hành tỏi. Chúng có khả năng tiêu diệt một lượng nhện hành tỏi tuổi 1 tương
đối lớn. Trong suốt một đời, mỗi cá thể nhện cái có thể tiêu thụ tối đa hết 160 nhện
non tuổi 1.
Thời gian của một thế hệ của NHT ở 30oC ẩm độ 80% là 13,26 ngày. Tỷ lệ tăng
tự nhiên của nhện bắt mồi Hypoaspis sp. (rm) là 0,176 cứ sau một ngày đêm ở nhiệt
độ 30oC ẩm độ 80% số lượng cá thể quần thể nhện bắt mồi tăng lên 17,6%. Giới hạn
gia tăng tự nhiên (λ) là 1,192; thời gian của một thế hệ (Tc) là 14,33 ngày; hệ số nhân
của một thế hệ Ro là 10,29 và thời gian tăng đôi quần thể của một thế hệ DT là 3,94
ngày (bảng 3.16).
Bảng 4.16. Các chỉ số sinh học cơ bản của loài nhện nhỏ bắt mồi Hypoaspis sp.
Chỉ số sinh học
Giá trị
Hệ số nhân của một thế hệ (con) (Ro)
10,29
Thời gian của một thế hệ tính theo mẹ (ngày) (Tc)
14,33
Thời gian của một thế hệ tính theo đời con (ngày) (T)
13,26
Thời gian tăng đôi quần thể (ngày) (DT)
3,94
Giới hạn tăng tự nhiên (lần) (  )
1,192
Tỷ lệ tăng tự nhiên (rm)

10NSXL
14NSXL
a
a
a
82,11
84,53
80,28
75,28a
68,52b
76,29b
72,35b
69,83b
76,05c
78,82b
74,37b
66,99b
42,28d
57,10c
56,33c
54,91c

Ghi chú: Các chữ cái giống nhau trong phạm vi cột không có sự sai khác ở độ tin cậy P < 0,05;
NSXL: Ngày sau xử lý; CT1: Nhúng Confidor 100SL; CT2: Nhúng Tametin annong 3.6EC; CT3:
Nhúng Super bomb 200EC; CT4: Phun Confidor 100SL; Đối chứng: Phun nước lã.

Sau 3 ngày, hiệu lực trừ nhện hành tỏi trên 3 công thức nhúng thuốc đều đạt
hiệu quả cao trên 68%, trong đó phương pháp nhúng ở công thức 1 có hiệu quả diệt
trừ đến 82,11%. Thuốc Confidor 100SL xử lý theo phương pháp nhúng có hiệu quả
hơn cả trong diệt trừ nhện hành tỏi. Hai loại thuốc sử dụng thuốc Super bomb 200EC

1,87
Ghi chú: Thời gian xử lý nhúng củ 30 phút, phun ướt củ, RH = 80%, nhiệt độ 26,3oC

Ở 1 ngày sau xử lý đối với 3 loại thuốc trên chưa xuất hiện hiện tượng gây thối
củ. Tuy nhiên sau 3 ngày thí nghiệm cũng ghi nhận ở hầu hết các công thức đều gây
nên hiện tượng thối củ ngoại trừ phun nước lã. 7 ngày sau xử lý, tỷ lệ thối củ ở các
công thức có sự sai khác nhau ở hình thức phun Confidor 100SL và phun nước lã có
tỷ lệ thối củ như nhau đều bằng 1,87%. Nhưng ở công thức nhúng Super bomb
200EC có tỷ lệ thối củ cao nhất lên tới 13,2%.

22


4.2. THẢO LUẬN
Thành phần loài nhện nhỏ hại hành tỏi tại vùng đồng bằng sông Hồng thu được
phong phú hơn so với các kết quả đã công bố trước đây của Viện Bảo vệ thực vật
năm (1976) và năm (1999). Nhên hành tỏi R. echinopus xuất hiện rất phổ biến trên
hành tỏi vùng đồng bằng sông Hồng. Mật độ NHT trên hành tỏi trà sớm cao hơn so
với trà chính vụ và trên các giống hành củ đỏ, hành củ trắng, tỏi củ tía cao hon so với
hành củ tía và tỏi củ tía. Chúng gây hại tương đối nghiêm trọng trên hành tỏi bảo
quản. Thời gian phát dục ngắn, sức sinh sản tương cao, tỷ lệ nở của trứng khá cao.
Nhện hành tỏi có tỷ lệ tăng tự nhiên (rm) ở nhiệt độ 30oC cao nhất là 0,29 và ở 35oC là
0,25 kết quả nghiên cứu này đã lý giải được các hiện tượng “bốc bay” của hành tỏi củ
bảo quản trong các tháng 6 và tháng 7.
Luân canh 2 vụ lúa 1 vụ hành, hoặc bảo quản theo hình thức treo túm, hoặc sử
dụng NNBM Hypoaspis sp.có hiệu quả phòng trừ NHT cao. Ngoài ra, có thể sử dụng
thuốc Confidor 100SL theo hình thức nhúng củ với thời gian 30 phút có hiệu quả
trong việc phòng trừ loài NHT lại ít gây thối củ.
Các kết quả nghiên cứu về đặc điểm gây hại, đặc điểm sinh học, diễn biến mật
độ số lượng và phòng trừ đều phù hợp với kết quả nghiên cứu của Sukarai et al.

- Trong vụ thu Đông năm 2013 và 2014 nhện hành tỏi gây hại nặng trên hành tỏi
trồng trà sớm từ 20/10 đến 24/11. Trên trà hành tỏi trồng chính vụ mật độ nhện hành
tỏi cao từ ngày 10/11đến ngày 8/12. Mật độ nhện hành tỏi xuất hiện cao nhất trên
giống hành củ đỏ và thấp nhất là trên giống hành củ tía.
4) Loài nhện nhỏ bắt mồi Hypoaspis sp. xuất hiện phổ biến trên cây hành tỏi tại
vùng đồng bằng sông Hồng. Ở nhiệt độ 30oC, ẩm độ 80% vòng đời của nhện ngắn
trung bình 9,37 ngày. Pha vật mồi ưa thích là pha nhện non tuổi 1 của nhện hành tỏi.
Tỷ lệ tăng tự nhiên (rm) là 0,176; thời gian nhân đôi quần thể là 3,94 ngày. Cả đời một
nhện cái tiêu thụ tối đa là 160 nhện non tuổi 1 của NHT. Đây là loài nhện nhỏ bắt mồi
có tiềm năng sử dụng trong phòng chống sinh học nhện hành tỏi.
5) Luân canh cây trồng có hiệu quả cao trong việc hạn chế số lượng loài nhện hành
tỏi R. echinopus. Trong 3 công thức lúa – dưa chuột – hành, lúa – lúa – hành và hành
được trồng quanh năm thì ở công thức luân canh lúa – lúa – hành mật độ nhện hành tỏi
thấp nhất trung bình 54,42 con/dảnh.
6) Ba loại thuốc bảo vệ thực vật Confidor 100 SL (Imidacloprid), Tametin
annong 3.6EC (Abamectin) và Super bomb 200 EC (Hexythiazox và Pyridaben) đều
có hiệu quả trong phòng trử nhện hành tỏi. Việc nhúng hành củ giống trong thuốc
Confidor 100 SL ở thời gian 30 phút có hiệu quả trừ nhện hành tỏi cao và ít gây ảnh
hưởng tới tỷ lệ thối của củ hành.
5.2. KIẾN NGHỊ
1) Tiếp tục nghiên cứu để nhân nuôi và sử dụng loài nhện nhỏ bắt mồi
Hypoaspis sp. trong phòng chống sinh học loài nhện hành tỏi.
2) Sử dụng các dẫn liệu về hình thái, triệu chứng gây hại để nhận biết nhanh các
loài nhện nhỏ gây hại trên hành tỏi trong hoạt động kiểm dịch thực vật và điều tra
nhện hại.

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status