Triển Vọng Phát Triển Chăn Nuôi Việt Nam
Hội thảo - Hà Nội – Việt Nam
Ngày 29/11/2010
MỨC ĐỘ TIÊU THỤ THỰC PHẨM VÀ HIỂU BIẾT CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỀ
VẤN ĐỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Vũ Đình Tôn
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển về kinh tế cũng như sự tăng trưởng dân số, nhu cầu của người dân về
lương thực thực phẩm ngày càng cấp thiết về cả số lượng và chất lượng. Theo Tổng cục Thống
kê, dân số của Việt Nam năm 2002 là 80 triệu người, năm 2009 là 86,2 triệu người, tốc độ tăng
hàng năm là 1,22%, trong khi đó, tổng chi phí tiêu thụ thực phẩm của cả nước năm 1992 – 1993
là 3,4 tỷ USD đến năm 2002 chi phí này lên đến 7,2 tỷ USD. Theo Vũ Đình Tôn & cs (2002)
mức chi tiêu lương thực, thực phẩm ở các khu vực đô thị là 2,2 triệu đồng/người và ở các vùng
nông thôn khoảng 1,1 triệu đồng/người. Như vậy, chi phí cho lương thực và thực phẩm chiếm
một phần lớn trong chi phí sinh hoạt của người dân. Nó có vai trò vô cùng quan trọng trong đời
sống xã hội.
Tuy nhiên trong bối cảnh thị trường cạnh tranh mạnh mẽ hiện nay thì việc đảm bảo chất
Chợ 30 30 30 90
Tổng 80 65 65 210
Đặc điểm của các vùng nghiên cứu:
Hà Nội là thành phố có số dân đứng thứ hai ở Việt Nam, với 6,472 triệu người, nằm giữa
vùng đồng bằng sông Hồng. Sauk hi sát nhập với tỉnh Hà Tây và 1 phần Vĩnh Phúc thì Hà Nội
không chỉ là khu vực tiêu thụ thực phẩm lớn mà còn là nơi có tiềm lực sản xuất chăn nuôi quan
trọng với nhiều nhà máy chế biến thức ăn gia súc và các cơ sở chăn nuôi lớn tại các huyện thuộc
tỉnh Hà Tây cũ.
Hải Dương là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng. Trung tâm hành chính của tỉnh là
thành phố Hải Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía đông, cách thành phố Hải Phòng
45 km về phía tây. Hải Dương bao gồm 01 thành phố trực thuộc, 01 thị xã và 10 huyện. Dân số
toàn tỉnh là 1706,8 triệu người. Do vị trí thuận lợi về giao thong cho nên Hải Dương là một trong
những tỉnh có mức công nghiệp hóa cao, đồng thời cũng là tỉnh có ngành chăn nuôi phát triển.
Do phát triển công nghiệp mạnh trong những năm vừa qua cho nên mức tiêu thụ thực phẩm cũng
tăng nên đáng kể.
Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, miền Bắc Việt Nam. Trung tâm tỉnh
là thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía đông nam, cách thành phố Hải Phòng
70 km về phía tây nam. Thái Bình được chia thành 7 huyện và 1 thành phố trực thuộc. Tỉnh Thái
Bình có 287 đơn vị cấp xã gồm 10 phường, 9 thị trấn và 268 xã. Dân số Thái Bình là 1784,0
triệu người. So với Hải Dương và Hà Nội thì Thái Bình vẫn chủ yếu là tỉnh nông nghiệp có hoạt
động sản xuất trồng trọt và chăn nuôi khá phát triển, công nghiệp còn hạn chế.
2
THÁIBÌNH
HẢIDƯƠNG
HÀNỘI
với việc tiêu dùng thực phẩm nhiều, vì vậy 3 tỉnh trên là nơi tiêu thụ thực phẩm chính của vùng
đồng bằng sông Hồng.
Không những là nơi tiêu thụ thực phẩm chính mà 3 tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình còn
là vùng sản xuất ra thực phẩm chủ yếu cung cấp cho các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, kết
quả chi tiết được trình bày ở bảng 2.
3
Bảng 2. Số lượng lợn và gia cầm của các tỉnh nghiên cứu từ 2
vị: Nghìn con
S
ợn cầ
003 – 2009
Đơn
TT Tỉnh
L Gia m
2003 2005 2007 2009 2003 2005 2007 2009
1 Hà Nội 366,6 372,1 349,7
1682,0 16508
3321 3391 3436
2 Hà Tây 1224,8 1320,2 1208,7 11393 10766 10820
3 Hải Dương 787,3 855,5 614,5 597,7 8592 8034 6686 7123
4 Thái Bình 905,9 1133,8 1042,1 1111,1 8531 8150 7773 8549
(Nguồn: Niên giám thống kê 2009 – NXB Thống Kê, 2010
008 Hà Tây sát nhập vào Hà Nội.
u phát triển mạnh cả chăn nuôi lợn và
gia cầm và có sản lượng thịt sản xuất ra khá lớn (bảng 3).
Bảng 3. Sản lượng thịt lợn và gia cầm của các tỉnh nghiên cứu
: Tấn
4
cầm đều tăng mạnh. Điều đó chứng tỏ trình độ và quy trình chăn nuôi của người dân ngày càng
III. KẾ
h), tỷ lệ <18 tuổi và >50 tuổi ở cả 3 tỉnh đều dao động trong
khoảng 20%. Điều đó cho thấy cơ cấu độ tuổi của Việt Nam tương đối tốt cho việc cung cấp
nguồn lực lao
B cấu độ tuổi và n iệp hộ vùng nghiên cứu
Đ
C Hà N Hả Thái Bình
tốt hơn.
T QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1. Thông tin chung về các hộ điều tra
Bảng 4 cung cấp một số thông tin cơ bản về các hộ điều tra. Nhìn chung, đa số hộ có số
thành viên nằm trong độ tuổi từ 18 – 50, đây là độ tuổi nằm trong lực lượng lao động. Điều này
không có sự khác biệt nhiều trong cơ cấu độ tuổi của hộ ở các tỉnh. Ở cả 3 tỉnh Hà Nội, Hải
Dương và Thái Bình tỷ lệ người có tuổi 18-50 chiếm tỷ lệ rất cao (55,05% ở Hà Nội, 54,25% ở
Hải Dương và 55,04% ở Thái Bìn
động cho đất nước.
ảng 4. Cơ ghề ngh của các
ơn vị: %
Cơ cấu h ng
n=180
u ội
n=70
i D ơng
n=55
ư
người phụ nữ (bảng 5). Bản lệ các thành viên
đình làm nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất ít, đa phần các hộ gia đình làm thêm 1 ngh
thu nhập cho gia đình.
2.2. Tỷ lệ các thành viê
Ở
g 5. Tỷ đi chợ
5
Người đi chợ C
n=180
H Hả ng Thái Bình hung à Nội
n=70
i Dươ
n=55 n=55
Vợ
67,22
60,00 61,82 81,82
Con 11,11 14,29 7,27 10,91
Người giúp việc
0,56 1,43
0,00 0,00
Khác 21,11 24,29 30,91 7,27
Tổng 100,00 100 100,00 100,00
Chú thí
đi chợ là vợ của chủ hộ chiếm tới 67,22%. Tỷ lệ
người g ợ
ũi, thân thiết với chủ hộ như mẹ,
4,29 1,82 0
Khá 24,44 42,86 18,18 7,27
TB
68,89
51,43 76,36 83,64
Khó khăn 4,44 1,43 3,64 9,09
Tổng 100,00 100,00 100,00 100,00
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2009
Số liệu bảng 6 cho thấy các hộ có mức thu nhập trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (68,89%)
trong khi số hộ giàu có tỷ lệ thấp nhất (2,22%).
Trong số 3 tỉnh nghiên cứu thì các hộ ở Hà Nội là có mức thu nhập cao hơn 2 tỉnh còn lại
nên tỷ lệ các hộ giàu và khá là cao nhất với 4,29% và 42,86%, tỷ lệ hộ khó khăn là thấp nhất với
1,43%. Hai tỉnh Hải Dương và Thái Bình chủ yế là các hộ trung bình với 76,36% và 83,64%.
Để số liệu về
mức thu nhập uả trình bày ở
B thu nhập uân g c hộ điề %)
C H Hả Thái Bình
u
hiểu rõ hơn về mức sống của các hộ điều tra ở 3 tỉnh chúng tôi thu thập
/đầu người, kết q bảng 7.
ảng 7. Mức bình q người/thán của cá u tra (
Mức thu nhập hung
n=180
à Nội
n=70
i Dương
n=55 n=55
Từ < 1 triệu 26,95 28,07 18,18 34,55
Từ 1 - < 2 triệu
hụ
ở bảng 8.
ảng 8a: Mức tiê oại thịt và
n=1
ng tuần của
( 0)
thụ
Theo n
Số g
(k
Số g
(k
lượn
g/tuần)
Tỷ lệ
%
lượn
g/tuần)
Tỷ lệ
%
- Thịt lợn 1,76 32,29
0,47
32,19
- Thịt gia cầm 1,29 23,67 0,34 23,29
- Thịt bò 0,38 6,97 0,10 6,85
- Thủy hải sản 2,02 37,06
0,55
37,67
Tổng 5,45 100,00 1,46 100,00
Số lượng
(kg/tuần)
Tỷ lệ
%
Số lượng
(kg/tuần)
Tỷ lệ
%
- Thịt lợn 1,83 27,60 0,43 26,71
- Thịt gia cầm 1,75 26,40 0,42 26,09
- Thịt bò 0,47 7,09 0,12 7,45
- Thủy hải sản 2,58 38,91 0,64 39,75
Tổng 6,63 100,00 1,61 100,00
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra,
2009
Bảng 8c. Mức tiêu thụ các loại thịt và thuỷ - hải sản hàng tuần (Hải Dương, n= 55)
Lượng thịt tiêu
thụ
(Hải Dương)
Theo hộ Theo người
Số lượng
(kg/tuần)
Tỷ lệ
%
Số lượng
(kg/tuần)
Tỷ lệ
%
- Thịt lợn 1,73 38,88 0,49 38,89
- Thịt gia cầm 0,86 19,33 0,23 18,25
1,61kg/tuần/người trong khi đó ở Hải Dương là 1,26kg/tuần/người và ở Thái Bình là
1,46kg/tuần/người. Mức sống và thu nhập bình quân của các hộ ở Hà Nội cao hơn các vùng khác
nên lượng thịt tiêu thụ hàng ngày cũng nhiều hơn. Tỷ lệ tiêu dùng thịt lợn và thịt gia cầm ở Hà
Nội là tương đương nhau (0,43kg/tuần/người với thịt lợn và 0,42kg/tuần/người với thịt gia cầm).
Ở Hải Dương tiêu thụ 0,49kg thịt lợn/người/tuần trong khi đó thịt gia cầm chỉ tiêu thụ
0,23kg/người/tuần; Ở Thái Bình mức tiêu thụ 2 loại thịt này còn chênh lệch hơn (với 0,5kg thịt
lợn/người/tuần và 0,33kg thịt gia cầm/người/tuần). Người dân khu vực nông thôn ít tiêu dùng thịt
gia cầm cho bữa ăn hàng ngày, thịt gia cầm chủ yếu được sử dụng trong các dịp lễ, tết, hiếu, hỷ.
8
Hơn nữa do tập quán ăn uống nên chủ yếu ở nông thôn bán gia cầm sống nên tiêu thụ khó khăn
hơn.
2.4. Địa điểm mua thịt
Kết quả tiêu thụ bên trên cho thấy nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thịt là tương đối lớn, và
tùy theo từng địa phương mà việc mua các sản phẩm này khác nhau (bảng 9).
Bảng 9. Địa điểm mua các sản phẩm thịt
(Đơn vị: %)
Nơi mua
Chung
(n=180)
Hà Nội
(n=70)
Hải Dương
(n=55)
Thái Bình
(n=55)
Thịt
Lợn
Gia
phép của chính quyền địa phương, chợ được xây dựng có quy mô và thiết kế rõ ràng. Mua hàng
ở chợ tập trung là một thói quen từ lâu của người dân. Theo họ, các sản phẩm thịt ở chợ tươi
sống, ngon hơn các nơi khác. Hiện nay chưa có nhiều hộ mua thịt trong siêu thị (tỷ lệ 12,78% với
thịt lợn và 7,78% với thịt gia cầm) bởi giá cả hàng hoá trong siêu thị nói chung và giá cả các loại
thịt nói riêng luôn đắt hơn so với mua ở chợ. Mặt khác, sản phẩm thịt ở siêu thị đa số là sản
phẩm đông lạnh, chưa phù hợp với thị hiếu và thói quen tiêu dùng của người dân.
Bên cạnh đó, cũng có một tỷ lệ nhỏ các hộ mua thịt ở các chợ tự phát trung bình 12,78%.
Loại chợ này thường có ở khu dân cư đông đúc. Mọi người mua bán trên một bãi đất trống hoặc
thậm chí là ngã tư ngã năm một con đường lớn. Trong chợ hầu hết là những người bán hàng trên
xe đạp, xe máy, xe thồ hoặc có gian hàng nhỏ được dựng nên một cách sơ xài. Chợ phục vụ chủ
yếu cho người dân trong khu vực. Những người đi chợ tự phát thường ở ngay sát chợ, mua hàng
khi không có nhiều thời gian đi chợ lớn. Theo người dân, tuy chợ tự phát nhỏ, không quá đa
dạng các mặt hàng nhưng cũng đủ phục vụ nhu cầu cần thiết cho họ một cách nhanh chóng và
tiện lợi. Hơn nữa, các sản phẩm thịt - cá - rau trong chợ đều "tươi".
Nhìn vào 3 tỉnh nghiên cứu chúng ta thấy chợ tập trung vẫn là lựa chọn chủ yếu của người
dân, sự lựa chọn thứ 2 là chợ tự phát và siêu thị. Người dân ở Hà Nội đi chợ tự phát chiếm tỷ lệ
cao nhất (hơn 18%) và ở Thái Bình là thấp nhất (với 1,8%). Hà Nội là nơi đông dân cư vì vậy
nhu cầu tiêu dùng rất cao, việc hình thành các chợ tự phát là hiển nhiên, trong khi đó ở các vùng
nông thôn dân cư ít, nhu cầu tiêu dùng không cao nên người dân chủ yếu mua bán ở chợ tập
trung.
9
2.5. Đánh giá hiểu biết của người tiêu dùng về VSATTP
2.5.1. Những hiểu biết chung
Vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề nhức nhối trong xã hội Việt Nam hiện nay. Các
ca ngộ độc thực phẩm vẫn liên tiếp xảy ra và đe dọa đến tính mạng của người dân. Mặc dù
phương tiện thông tin đại chúng luôn luôn cập nhập cảnh báo cho người tiêu dùng về vệ sinh an
toàn thực phẩm nhưng sự tiếp thu của người dân về vấn đề này vẫn còn hết sức hạn chế. Kết quả
về những hiểu biết chung của vấn đề này được chúng tôi điều tra và trình bày ở bảng 10.
15,71%.
Kết quả chi tiết vấn đề này ở 3 tỉnh nghiên cứu được trình bày ở bảng 10b, 10c và10d.
Bảng 10b. Hiểu biết của người dân về VSATTP – Hà Nội
Hà Nội VSATTP Quản lý VSATTP Hóa chất ảnh
hưởng
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Có biết 73 91,25 9 11,25 57 71,25
Biết ít 5 6,25 39 48,75 9 11,25
Không
biết 2 2,50 32 40,00 14
17,50
Tổng 80 100,00 80 100,00 80 100,00
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2009
10
Bảng 10c. Hiểu biết của người dân về VSATTP - Hải Dương
Hải
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Có biết 56 86,15 5 7,69 50 76,92
Biết ít 7 10,77 31 47,69 4 6,15
Không
biết 2 3,08 29 44,62 11
16,92
Tổng
65 100,00 65 100,00 65 100,00
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2009
Hà Nội có số người dân biết về VSATTP cao nhất (91,25%), còn ở Hải Dương và Thái
Bình tỷ lệ này chỉ là 86,15%. Số người dân của cả vùng đồng bằng sông Hồng không biết đến
VSATTP rất thấp (2,38%). Điều đó chứng tỏ trình độ dân trí của người dân Việt Nam ngày được
nâng cao cũng như vấn đề này rất được người dân chú ý.
Nhìn chung người dân Việt Nam mới được nghe các thông tin về VSATTP qua các
phương tiện thông tin đại chúng, chứ hiểu biết rõ về cơ quan quản lý VSATTP thì vẫn ở mức
thấp. Hiện nay, các cơ quan quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam còn chồng chéo,
không phân biệt rõ nhiệm vụ của từng bộ phận nên người dân chưa hiểu rõ là vấn đề dễ hiểu.
Những hộ được phỏng vấn thường chỉ biết 1 cơ quan quản lý (tỷ lệ đó là 50,48%). Câu trả lời
thường gặp đó là Cục vệ sinh an toàn thực phẩm hoặc Cục thú y. Như vậy việc trang bị các kiến
thức và hiểu biết về VSATTP của người dân cần được củng cố nhiều hơn nữa.
8,10 12,50 6,15 4,62
Dioxin
10,00 17,50 6,15 4,62
PCB
1,90 2,50 1,54 1,54
Khác
*
14,29 18,75 12,31 10,77
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2009
Chú thích: Khác
*
: là thuốc tăng trọng, phormon, chất nhuộm màu, chất bảo quản
Số lượng người dân biết đến sự ảnh hưởng của Hormon là cao nhất (66,67%), số lượng
người biết đến PCB là thấp nhất (1,90%) và số lượng người biết đến sự ảnh hưởng của kháng
sinh là đứng thứ 2 (29,05%). Như vậy hiện nay người dân đang bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến
dư lượng tồn dư kháng sinh trong sản phẩm thịt.
Trong 3 tỉnh thì tỷ lệ người dân Hà Nội biết đến kháng sinh tồn dư trong sản phẩm thịt là
cao nhất với 36,25%, tỷ lệ này ở Hải Dương và Thái Bình tương tự nhau (với 24,62%).
Mặc dù đã biết đến có những ảnh hưởng không tốt của tồn dư các loại hóa chất đến sức
khỏe con người, song để đánh giá được mức độ quan tâm chú ý của người dân đến những vấn đề
này khi mua sản phẩm là rất quan trọng (bảng 12).
Bảng 12. Mức độ quan tâm về dư lượng thuốc kháng sinh tồn dư trong thịt
Mức độ Chung
n=210
Hà Nội
Tỷ lệ %
Có dấu kiểm dịch thú y 47/210
22,38
Quầy bán thịt sạch sẽ 51/210
24,29
Màu sắc thịt 189/210
90,00
Mùi thịt 146/210
69,52
Giá cả 20/210
9,52
Mối quan hệ thân quen với cửa
hàng
66/210
31,43
Quầy có tủ bảo quản (làm
lạnh)
10/210
4,76
Có bao bì đóng gói ghi rõ xuất
xứ
15/210
7,14
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2009
Đa số người dân đi chợ mua thịt đều chọn theo cảm quan (màu sắc (90,00%) và mùi
(69,52%)). Rất ít người dân quan tâm đến xuất xứ của sản phẩm (7,14%) và dấu kiểm dịch
(22,38%). Đây là 2 tiêu chí tương đối quan trọng cho biết mức độ an toàn của thực phẩm nhưng
người tiêu dùng lại thường không quan tâm. Qua điều tra chúng tôi thấy nhu cầu của người Việt
Nam nói chung và nhu cầu của người dân ở 3 tỉnh (Hà Nội, Hải Dương và Thái Bình) nói riêng
đều có sở thích ăn thịt “tươi”. Cho nên tiêu chí lựa chọn thông qua màu sắc, mùi vị được hầu hết
9,23
13/65
20,00
Màu sắc thịt
69/80
86,25
63/65
96,92
57/65
87,69
Mùi thịt
60/80
75,00
53/65
81,54
33/65
50,77
Giá cả
13/80
16,25
3/65
4,62
4/65
6,15
Mối quan hệ thân
quen với cửa hàng
36/80
45,00
12/65
18,46
14
Bảng 14. Loại sản phẩm động vật mua
Loại sản phẩm
Chung
n=210
Hà Nội
n=80
Hải Dương
n=65
Thái Bình
n=65
Thịt
lợn
Gia
cầm
Thịt
lợn
Gia
cầm
Thịt
lợn
Gia
cầm
Thịt
lợn
Gia
cầm
Còn sống
0,00
0,00 0,00 0,00
Tổng
100 100
100,00 100,00
100 100,00 100 100
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2009
* Chú thích:
- Còn sống: gà vẫn còn sống cả con
- Làm sẵn: gà, lợn đã cắt tiết, làm sạch, chưa nấu chín
- Thịt đông lạnh: thịt để trong tủ lạnh, đông ( thường có ở siêu thị)
- Sống + làm sẵn: gia đình đó vừa mua con vật còn sống và vừa mua thực phẩm làm sẵn,
- Làm sẵn + chế biến: Vừa mua thực phẩm được làm sẵn vừa mua thực phẩm được chế biến
Kết quả cho thấy người dân chủ yếu mua các sản phẩm thịt “tươi” đã được làm sẵn.
93,3% hộ được phỏng vấn chọn mua thịt lợn còn “tươi” - mới mổ thịt xong, rất hiếm hộ mua
thịt đông lạnh và thịt đã chế biến. Điều này được giải thích là thịt lợn rất phổ biến và có ở tất cả
những nơi họp chợ nên thuận tiện cho người tiêu dùng. Có những gánh hàng rong, những cửa
hàng nhỏ bày bán ở ven đường hay những chợ nhỏ tự phát thì sản phẩm lúc nào cũng có là thịt
lợn. Chỉ những gia đình khá giả mới đi siêu thị mua thịt đông lạnh hay thịt đã được chế biến sẵn.
Thịt gia cầm cũng tương tự, các hộ phỏng vấn chủ yếu mua thịt gia cầm còn tươi đã được
giết mổ (56,67%), một số hộ có mua gia cầm còn sống (27,62%). Bởi vì gia cầm là loại động vật
nhỏ, dễ làm và cũng dễ vận chuyển nên người ta có xu thế mua cả con rồi mang về giết mổ hay
nhờ chủ quán giết mổ. Ngoài ra, 10,48% số hộ được phỏng vấn mua gia cầm còn sống và thỉnh
thoảng lại mua gia cầm đã được chế biến. Nói chung, chủ yếu người dân mua thịt gia cầm còn
tươi đã làm sẵn hoặc còn sống, không có hộ phỏng vấn nào thường xuyên mua gia cầm chế biến,
chỉ một số ít hộ phỏng vấn vừa mua thịt gia cầm đã chế biến và thịt gia cầm làm sẵn hoặc đông
lạnh.
15
Vẫn mua bình thường 10,00
18,75
1,54 7,69
Ý kiến khác 0,95 0,00 0,00 3,08
Tổng 100,00
100,00 100,00 100,00
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2009
Chú thích: Ý kiến khác: tuỳ điều kiện gia đình, tuỳ điều kiện dịch bênh hoặc dịch xong thì
lại ăn
Số liệu bảng 15 cho thấy người dân đã có ý thức cảnh giác khi có dịch bệnh xảy ra trong
khu vực sinh sống. Tuy nhiên tỷ lệ này vẫn chưa cao. Chỉ có 33,81% hộ phỏng vấn hoàn toàn
không mua khi có dịch bệnh xảy ra; 55,24% hộ phỏng vấn là vẫn mua nhưng có sự cảnh giác và
10% hộ phỏng vấn là vẫn mua thịt bình thường. Vì đại đa số người dân cho rằng nếu dịch bệnh
xảy ra thì cũng không tránh được vì ăn uống là nhu cầu hàng ngày không thể tránh mãi được. Cả
3 tỉnh điều tra thì tỷ lệ mua ít hơn và có sự cảnh giác khi có dịch bệnh đều cao (hơn 50%). Tuy
nhiên Hà Nội là nơi mà người dân vẫn tiếp tục mua nhiều hơn vì tỷ lệ vẫn mua thịt bình thường
khi có dịch bệnh xảy ra là cao nhất (18,75%). Có lẽ người dân Hà Nội quan niệm thịt đã được
bán ở chợ Hà Nội là thịt đã qua các trạm kiểm dịch
IV. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
Mức thu nhập của người dân đồng bằng sông Hồng tương đối thấp. Đa số người dân có
mức thu nhập từ 1 đến 2 triệu đồng/người/tháng (tỷ lệ này chiếm tới 43,11%).
Sản lượng thịt trung bình tiêu thụ của người dân là 1,46kg/người/tuần. Trong đó thủy hải
sản có mức tiêu thụ cao nhất (0,55kg/người/tuần), đứng thứ 2 là thịt lợn
16
17
(0,47kg/người/tuần) và tiếp theo là thịt gia cầm với 0,34kg/người/tuần. Hà Nội là nơi tiêu