BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------
VŨ ĐỨC CẦN
Công trình
hoànRỦI
thành
Trường
Đại VÀ
họcRỦI
KinhRO
tế Thành
SỞđược
THÍCH
RO,tại:
VỐN
XÃ HỘI
phố Hồ Chí Minh.
CHO VAY TÍN DỤNG VI MÔ – NGHIÊN CỨU
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trương Quang Thông.
THÍ NGHIỆM TẠI
VÙNG Đức Quang.
TS. Nguyễn
Phản biện 1:…………………………………………….………
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Phản biện 2:…………………………………………….………
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
khu vực ĐBSCL. Đồng thời cũng xem xét đến sở thích rủi ro, vốn
xã hội và các yếu tố khác của người vay vốn TDVM để đánh giá
mức độ ảnh hưởng của nó đến rủi ro cho vay TDVM của các tổ
chức TCVM.
Trong nghiên cứu này, thông qua các thí nghiệm kinh tế với
các chủ thể tham gia là những người vay vốn TDVM tại 6 tỉnh
thuộc khu vực ĐBSCL nhằm xem xét tác động của sở thích rủi ro,
vốn xã hội tới rủi ro cho vay TDVM. Các kết quả nghiên cứu cho
thấy sở thích rủi ro và vốn xã hội đều có tác động đến rủi ro cho
vay TDVM. Cụ thể, những người tìm kiếm rủi ro càng cao càng ít
có khả năng bị nợ xấu, trong khi những người càng e ngại rủi ro sẽ
có khả năng bị nợ xấu lớn hơn. Đối với vốn xã hội thì tính tương
trợ trong cộng đồng và lòng tin có tác động tích cực đến rủi ro cho
vay TDVM. Đây cũng là những cơ sở quan trọng cho tác giả có
những hàm ý về chính sách phù hợp có liên quan trực tiếp đến việc
cho vay TDVM của các tổ chức có hoạt động cho vay TDVM.
Từ khóa: Tài chính vi mô, sở thích rủi ro, vốn xã hội, tìm kiếm rủi
ro, e ngại rủi ro.
Chương 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
1.1. Đặt vấn đề.
TCVM đã hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới và đã
chứng minh được vai trò, tác động của nó đối với phát triển kinh tế
nói chung và cho công cuộc xóa đói giảm nghèo nói riêng. TCVM
4
tại Việt Nam mới chỉ phát triển gần đây và hoạt động của các tổ
chức TCVM chính thức còn rất hạn chế. Thống kê của NHNN Việt
Nam đến cuối năm 2018 có 16 công ty tài chính với 6 công ty là
hướng tới các quyết định rủi ro của các cá nhân, các nhà đầu tư
nhằm mục đích được mức sinh lợi cao nhất. Handa (1971) cho rằng
sở thích rủi ro là việc lựa chọn giữa một tài sản có rủi ro cao so với
tài sản có rủi ro thấp để có thể nhận được lợi nhuận cao hơn.
Charness và cộng sự (2013), Eckel, Dave và cộng sự (2010) đúc
kết rằng kinh tế học có thể xem xét, tập trung vào các phương pháp
gợi mở khi phân tích điều tra sở thích rủi ro và sở thích được gợi ra
có thể bị tác động và ảnh hưởng bởi thước đo được sử dụng. Theo
Stiglitz và Weiss (1981) thì người vay vốn có động cơ và khuynh
hướng đầu tư nhiều vào các dự án có nhiều rủi ro. Có nghĩa là
người vay vốn có nợ xấu sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao. Thí
nghiệm của Zeballos và cộng sự (2014) cho thấy những người vay
không có nợ xấu tìm kiếm rủi ro nhiều hơn người vay có nợ xấu.
Giả thuyết của Stiglitz và Weiss (1981): Những người đầu tư vào
những dự án kém rủi ro hơn là những người có nợ xấu. Người
nghèo không trả được nợ vay của họ bởi vì họ không dám chấp
nhận rủi ro nên hiệu quả thấp (Zeballos và cộng sự, 2014).
Tại Việt Nam, Vieider và cộng sự (2013) kết luận rằng nông
dân trung lập với rủi ro ở mức trung bình (average risk neutral) và
thu nhập có tương quan trái chiều với tính né tránh rủi ro. Các
nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2016), Tanaka và cộng sự
(2010) tại các làng quê miền Bắc và miền Nam nghiên cứu tác
động của thái độ rủi ro và sở thích rủi ro về thời gian đối với sự tin
tưởng và sự tin cậy, e ngại rủi ro và tính kiên nhẫn. Vậy thì những
yếu tố, đặc điểm hành vi nào của người vay vốn vi mô có tác động
đến rủi ro TDVM? Liệu có sự khác biệt về sở thích rủi ro trong
hoạt động TDVM giữa khu vực thành thị và nông thôn? Đây là
khoảng trống và vấn đề mà tôi quan tâm nghiên cứu.
1.1.2. Vốn xã hội và rủi ro TDVM.
cũng như các yếu tố xã hội-nhân khẩu học khác của người vay vốn
có ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro trong hoạt động cho vay
7
TDVM của các tổ chức TCVM? (2)- Vốn xã hội cũng như các yếu
tố xã hội-nhân khẩu học khác của người vay vốn vi mô có ảnh
hưởng như thế nào đến rủi ro trong hoạt động cho vay TDVM của
các tổ chức TCVM?
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Từ lược khảo các tài liệu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu,
dựa vào khung lý thuyết có liên quan cũng như các kết quả của
những nghiên cứu trước đó để đề xuất các giả thuyết nghiên cứu.
Tác giả sử dụng phương pháp thí nghiệm trực tiếp tại hiện trường
để thu thập số liệu. Tổng hợp, thống kê và xử lý số liệu, tác giả sử
dụng phương pháp phân tích hồi quy với biến nhị phân Binary
Logistic và phân tích mô hình Probit nhằm kiểm định tính vững
chắc của kết quả hồi quy Logit đã thực hiện. Sàng lọc, thảo luận và
giải thích các kết quả đã tính toán được để đề xuất các hàm ý chính
sách đối với các cơ quan có thẩm quyền có liên quan; nêu ra những
hạn chế của nghiên cứu để làm tiền đề cho các nghiên cứu trong
tương lai.
Tác giả chọn phương pháp của Eckel và Grossman (2002) thực
hiện thí nghiệm khơi gợi sở thích rủi ro, về vỗn xã hội, tác giả sử
dụng thí nghiệm đóng góp cho cộng đồng, về lòng tin thì dựa theo
phương pháp thí nghiệm của Camerer và Fehr (2003).
1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng: Bao gồm các khách hàng vay vốn TDVM của các tổ
chức TCTD có hoạt động cho vay TDVM, các tổ chức TCVM
Luận án gồm 5 chương có kết cấu như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan.
Chương 2: Sở thích rủi ro, vốn xã hội và rủi ro cho vay TDVM.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích tác động của các yếu tố đến rủi ro TDVM
- Các khảo sát và thí nghiệm kinh tế tại vùng ĐBSCL.
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu,các hàm ý chính sách.
9
Chương 2: SỞ THÍCH RỦI RO, VỐN XÃ HỘI VÀ RỦI RO
CHO VAY TÍN DỤNG VI MÔ
2.1. Sở thích rủi ro và rủi ro trong hoạt động cho vay TDVM.
Trong xã hội loài người, rủi ro luôn tồn tại trong tất cả mọi
hoạt động. Thái độ đối với rủi ro của mỗi người là khác nhau, do
vậy nó có thể được sử dụng để suy đoán các quyết định và hành vi
kinh tế của người đó. Nó có ảnh hưởng trực tiếp từ hành vi, hoạt
động của người vay vốn đến rủi ro như đầu tư, sản xuất, tiêu dùng
và hành vi đối với rủi ro. Ngoài ra cũng còn có các ảnh hưởng từ
các yếu tố nhân khẩu học, tài chính, vật chất và vốn xã hội.
2.1.1. Lý thuyết triển vọng (Prospect theory).
Là nền tảng của khoa học hành vi, Tversky và Kahnerman
(1979) với lý thuyết triển vọng cho rằng con người đôi khi thể hiện
sự e ngại rủi ro và đôi khi lại thể hiện sự tìm kiếm rủi ro phụ thuộc
vào bản chất của triển vọng (Ackert và Deaves, 2013). Tversky và
Kahneman đã đưa ra các nội dung chính của lý thuyết triển vọng
như sau: (i) Tùy thuộc vào bản chất của triển vọng là gì, hành vi
của con người đôi lúc thực hiện sự không thích rủi ro (né tránh rủi
ro) song đôi lúc lại ưa thích rủi ro (tìm kiếm rủi ro). Con người lựa
2.2.1. Vai trò của vốn xã hội.
Vốn xã hội cũng được người ta xem như là một loại vốn. Vốn
xã hội là mạng lưới xã hội tương đối bền vững, sự thông cảm, mức
độ thông cảm, tương tác lẫn nhau giữa các thành viên (Bourdieu,
1986; Fukuyama, 2001-2002; Coleman, 1988; Portes, 1998).
Karlan (2005): Vốn xã hội của cá nhân là khả năng nắm bắt thông
tin, sự giao tiếp và các mối quan hệ xã hội của cá nhân đó để giải
quyết và khắc phục các vấn đề liên quan đến những thông tin
không hoàn hảo. Các nhà nghiên cứu cho rằng lòng tin được xem
là một thành tố quan trọng của vốn xã hội. Karlan (2005) đã cho
thấy, càng tin người khác thì khả năng tiết kiệm cao hơn; càng
đáng tin thì càng ít bị xảy ra rủi ro tín dụng hơn; và càng đóng góp
cho cộng đồng thì cũng sẽ càng ít gặp rủi ro tín dụng hơn. Knack
11
và Keefer (1997), Karlan (2005): Các quốc gia, các nền văn hóa xã
hội có nhiều sự tin cậy lẫn nhau hơn sẽ có tỷ lệ phát triển và tăng
trưởng tốt và cao hơn về kinh tế. Glaeser và cộng sự (2000):
Những người được tin tưởng nhiều hơn thì họ sẽ đáng tin cậy hơn.
2.2.2. Vốn xã hội và hoạt động cho vay TDVM.
Feigenberg và Field (2010): Cho vay nhóm tỷ lệ nợ xấu thấp
mà không cần thế chấp. Akram và Routray (2013): Chỉ số vốn xã
hội có ảnh hưởng không đáng kể đến sự tham gia TCVM. Lòng tin
như một sự đo lường tạo sự dễ dàng vay vốn từ nhóm dựa trên
chương trình TCVM. Các hộ nghèo có thể sử dụng nguồn vốn xã
hội của họ làm tài sản thế chấp vay vốn. Karlan (2005): Càng có
vốn xã hội cao thì khả năng trả nợ tốt và có tiết kiệm càng cao.
Greiner và Wang (2009) cho thấy có sự không đối xứng thông tin
tôi quan tâm nghiên cứu trong luận án này.
2.3. Đo lường hiệu quả và rủi ro hoạt động TCVM.
2.3.1. Khái niệm về TCVM:
Cụm từ “tài chính vi mô” được hiểu như là các mô hình cung
cấp DVTC cho người nghèo giúp cho họ có điều kiện phát triển
sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống.
2.3.2. Đo lường và đánh giá rủi ro hoạt động TCVM.
2.3.2.1. Đo lường hiệu quả hoạt động TCVM.
Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả, sự bền vững của tổ chức
TCVM tương đối đa dạng, tập trung vào ba chỉ tiêu sau: (Ackert &
Deaves, 2013). (1) Tự bền vững về thể chế (Institutional SelfSustainability-ISS). (2) Tự bền vững về hoạt động (Operational
Self-Sustainability-OSS)..(3)Tự.bền.vững.về.tài.chính(Financial
Self-Sustainability-FSS).
2.3.2.2. Rủi ro trong hoạt động cho vay TCVM.
Rủi ro do nguyên nhân khách quan: Môi trường thiên
nhiên, môi trường kinh tế-xã hội, môi trường pháp lý.
Rủi ro do nguyên nhân chủ quan:
13
⁕ Về phía các tổ chức TCVM: Năng lực quản trị, điều hành.
Quy trình, chính sách cho vay. Quy trình kiểm tra, giám sát cho
vay. Chất lượng, phẩm chất đạo đức nhân viên TD.
⁕ Về phía khách hàng vay vốn: Trình độ văn hóa, năng lực
sản xuất kinh doanh. Vấn đề đạo đức.
2.3.3. Đo lường rủi ro cho vay TDVM trong nghiên cứu này.
2.3.3.1. Khái niệm về nợ xấu và các quan điểm về nợ xấu.
- Trung lập rủi ro.
khong-qua-xau/329380.html
4
https://www.imf.org/external/np/sta/fsi/eng/2004/guide/index.htm
[4.84-4.85]
14
Hình 2.2: Khung phân tích nghiên cứu.
(Nguồn: Tác giả đề xuất từ cơ sở lý thuyết và nghiên cứu tổng quan).
2.3.3.2. Quan điểm về nợ xấu của Việt Nam.
Căn cứ theo thông tư 02 (2013) của NHNN, nợ xấu là nợ từ
nhóm 3 (nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên) đến nhóm 5.
2.4. Khung lý thuyết nghiên cứu. (Hình 2.2)
Chương 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu.
3.1.1. Phương pháp định tính.
Trực tiếp phỏng vấn 176 khách hàng vay vốn vi mô tại hiện
trường, đồng thời cũng tham khảo ý kiến các chuyên gia, các lãnh
đạo cấp cao của NHNN và các TCTD khác trong địa bàn.
3.1.2. Phương pháp định lượng.
Với số liệu thu thập từ thí nghiệm, tác giả sử dụng phương
pháp thống kê mô tả, phân tích hồi quy với biến nhị phân Binary
Logistic, thực hiện phương pháp phân tích mô hình Probit nhằm
kiểm định tính vững của kết quả hồi quy Logit đã thực hiện để xử
lý và phân tích đánh giá mô hình đưa ra.
3.2.5. Về căn cứ xác định các mức tiền thưởng trong Game.
Bảng 3.2: Bình quân thu nhập và chi tiêu 1 ngày/người
ĐVT: Đồng.
Cả nước
Thành thị
Nông thôn
Thu nhập
78.900
132.134
67.934
Chi tiêu
62.934
82.034
48.134
(Nguồn: Niên giám Thống kê Việt Nam, 2016 và tính toán của tác giả).
3.3. Cách thức và các bước thực hiện các thí nghiệm.
Thí nghiệm 1: Khơi gợi sở thích rủi ro.
(ĐVT: Đồng)
Lựa chọn
Kết quả
0
+30.000
+60.000
+90.000
+120.000
+140.000
(Nguồn: Lựa chọn của tác giả).
Thí nghiệm 2: Đóng góp cho cộng đồng
Chia thành các nhóm từ 10-15 người, mỗi người tham gia sẽ
nhận được 50 ngàn đồng. Người điều khiển sẽ hỏi họ chọn đóng
góp hay không đóng góp. Nếu người tham gia đồng ý đóng góp,
người đó sẽ phải đưa cho người điều khiển 30 ngàn đồng, và số
tiền này sẽ chia cho những người chơi trong nhóm sau khi trò chơi
kết thúc. Nếu người tham gia không đồng ý đóng góp thì số tiền
của tất cả những người tham gia trò chơi sẽ giữ nguyên không đổi.
Thí nghiệm 3: Sự tin tưởng đối với người khác.
Người điều khiển sẽ hỏi người số 1 xem họ quyết định có đưa
tiền cho người số 2 hay không. Nếu như người số 1 không đưa tiền
thì trò chơi sẽ kết thúc. Nếu người số 1 có đưa tiền thì họ sẽ đưa
cho người điều khiển trò chơi. Người điều khiển sẽ nhân đôi số tiền
đó và đưa cho người số 2. Tiếp đó, người điều khiển sẽ hỏi người
số 2 xem họ có đưa tiền lại cho người số 1 hay không.
của người tham gia.
3.5. Các giả thuyết trong mô hình phân tích.
3.5.1. Giả thuyết về hành vi trong khơi gợi sở thích rủi ro:
H1: Những người tìm kiếm rủi ro càng cao càng ít có khả năng bị
nợ xấu, trong khi những người càng e ngại rủi ro sẽ có khả năng bị
nợ xấu lớn hơn.
3.5.2. Giả thuyết về hành vi trong đóng góp cho cộng đồng:
18
H2: Những người đóng góp cho cộng đồng ít có khả năng bị nợ
xấu, trong khi những người không đóng góp cho cộng đồng sẽ có
khả năng bị nợ xấu cao hơn.
3.5.3. Giả thuyết về hành vi trong sự tin tưởng:
H3: Phần trăm số tiền người tham gia đưa cho đối tác của
mình càng lớn thì người đó càng ít có khả năng bị nợ xấu, ngược
lại, phần trăm số tiền người tham gia đưa cho đối tác càng nhỏ thì
khả năng người đó bị nợ xấu càng cao.
3.6. Phương pháp hồi quy.
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong phân tích hồi quy
với biến nhị phân là phương pháp Binary Logistic. Ngoài ra, tác
giả sẽ thực hiện thêm phương pháp phân tích mô hình Probit nhằm
kiểm định tính vững của kết quả hồi quy Logit đã thực hiện.
Chương 4: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN
RỦI RO TDVM – KẾT QUẢ KHẢO SÁT, THỐNG KÊ VÀ THÍ
NGHIỆM TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
4.1. Phân tích thống kê mô tả dữ liệu.
4.1.1. Thống kê mô tả chung các đặc điểm của người trả lời.
4.1.2. Thống kê chung về các đặc điểm lựa chọn.
4.1.2.1. Thống kê lựa chọn trong thí nghiệm sở thích rủi ro.
Lựa chọn 1 có 6,3%, lựa chọn 2 là 24,4%, lựa chọn 3 là 19,3%,
lựa chọn 4 là 15,9% (tổng số người trong 4 lựa chọn này là 65,9%),
lựa chọn 5 có 6,3% và lựa chọn 6 là 27,8%. Theo quan điểm chung
về rủi ro, những người e ngại rủi ro sẽ có lựa chọn từ 1 đến 4 với
tổng số là 65,9%. Có khá ít người trung lập với rủi ro (lựa chọn 5
với 6,3%), những người tìm kiếm rủi ro (lựa chọn 6) chiếm số
lượng đáng kể với 27,8%. Mẫu dữ liệu có sự phân chia khá rõ về 2
xu hướng: Một là e ngại với rủi ro và hai là tìm kiếm rủi ro.
4.1.2.2. Thống kê về lựa chọn trong thí nghiệm đóng góp cho
cộng đồng.
Có 81,8% đồng ý đóng góp, 18,2% không đóng góp.
20
4.1.2.3. Thống kê về lựa chọn trong thí nghiệm sự tin tưởng.
Kết quả có 92% đồng ý đưa tiền cho đối tác của mình.
4.1.3. Thống kê chi tiết về đặc điểm trong các thí nghiệm.
4.1.3.1. Thống kê kết hợp đặc điểm và lựa chọn của
người tham gia trong thí nghiệm sở thích rủi ro.
Số người chơi có lựa chọn 6 chiếm đa số với 49 người (27,8%);
lựa chọn số 2 và số 3 tỷ lệ lần lượt là 24,4% và 19,3%. Như vậy, chỉ
có ít sự khác biệt về rủi ro giữa nam giới và nữ giới. Đối với những
người sống ở thành thị, đa số chọn lựa chọn số 6 (32,3%), lựa chọn
số 3 (24,6%) và lựa chọn 2 (15,4%). Những người sống ở nông
thôn, đa số chọn lựa chọn số 2 (29,7%), lựa chọn số 6 (25,2%) và
lựa chọn 4 (17,1%). Những người sống ở thành thị, đa số là người
ưa thích tìm kiếm rủi ro, bên cạnh đó là xu hướng những người e
Về nơi sinh sống: Ở khu vực thành thị có 65 người và nông thôn có
111 người. Với mức ý nghĩa thống kê 10%, không có sự khác biệt
về đặc điểm khoản nợ vay theo khu vực sinh sống.
4.2.2. Kiểm định sự khác biệt về một số đặc điểm trong thí
nghiệm sở thích rủi ro.
4.2.2.1. Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm trung lập với nhóm
tìm kiếm rủi ro và nhóm e ngại rủi ro.
Với mức ý nghĩa thống kê 10%, kết quả như sau:
Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm đối tượng có lựa chọn 5 và lựa
chọn 1: Không có sự khác biệt về tình hình nợ xấu.
Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm đối tượng lựa chọn 5 và lựa
chọn 2: Không có sự khác biệt về tình hình nợ xấu.
Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm đối tượng lựa chọn 5 và lựa
chọn 3: Có sự khác biệt về nợ xấu.
Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm đối tượng lựa chọn 5 và lựa
chọn 4: Có sự khác biệt về nợ xấu.
Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm đối tượng lựa chọn 5 và lựa
chọn 6: Có sự khác biệt về tình hình nợ xấu.
4.2.2.2. Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm người tìm kiếm rủi
ro với nhóm e ngại rủi ro.
Với mức ý nghĩa thống kê 10%:
Đối với những người trung lập với rủi ro: Có sự khác biệt đáng kể
về nợ xấu giữa những người trung lập với rủi ro và những người ít
22
e ngại với rủi ro; giữa những người trung lập với rủi ro với những
người tìm kiếm rủi ro. Không có sự khác biệt về nợ xấu giữa
4.2.4.3. Kiểm định sự khác biệt về tỷ lệ số tiền đưa cho đối tác
theo đặc điểm nợ của người tham gia trong thí nghiệm sự tin
tưởng.
Những người không có nợ xấu thường sẽ đưa tiền cho đối tác
của mình với một tỷ lệ nhiều hơn so với những người có nợ xấu.
4.3. Kết quả hồi quy tác động của các nhân tố đến nợ
xấu.
4.3.1. Kết quả hồi quy các nhân tố tác động đến nợ xấu trong
thí nghiệm sở thích rủi ro.
Với mức ý nghĩa thống kê 10%, kết quả:
Những lựa chọn càng nhiều rủi ro thì sẽ có tác động trái chiều với
nợ xấu, tức là những người càng ưa thích tìm kiểm rủi ro nhiều thì
khả năng có nguy cơ rơi vào tình trạng bị nợ xấu càng ít và ngược
lại.
Khi chỉ xem xét tác động của tuổi và giới tính cả hai yếu tố này
đều không tác động đến việc có bị nợ xấu hay không.
Trình độ học vấn càng cao thì khả năng có nợ xấu sẽ càng giảm.
Những người còn trẻ, số tuổi càng tăng thì khả năng mắc nợ xấu
càng giảm. Số tuổi càng tăng lên thì người đó càng có nguy cơ bị
nợ xấu cao hơn.
Quy mô khoản vay càng cao thì khả năng mắc nợ xấu sẽ càng thấp.
Chưa có thể kết luận sự khác biệt về nợ xấu giữa những người sinh
sống ở khu vực thành thị và nông thôn; không có sự khác biệt về
nợ xấu giữa tỷ lệ số người tham gia lao động của các hộ gia đình;
không có sự khác biệt về nợ xấu theo kỳ hạn vay nợ.
4.3.2. Kết quả hồi quy các nhân tố tác động đến nợ xấu trong
thí nghiệm đóng góp cho cộng đồng.
Với mức ý nghĩa thống kê 10%, kết quả hồi quy như sau:
nợ xấu cao hơn.
•
Quy mô khoản vay càng cao thì khả năng mắc nợ xấu sẽ càng thấp.
Chưa có thể kết luận sự khác biệt về nợ xấu giữa khu vực thành thị
và khu vực nông thôn; không có sự khác biệt về nợ xấu giữa tỷ lệ
số người tham gia lao động của các hộ gia đình; không có sự khác
biệt về nợ xấu theo kỳ hạn vay nợ.
25
4.3.4. Kết quả hồi quy các nhân tố tác động đến nợ xấu khi kết
hợp thí nghiệm sở thích rủi ro và đóng góp cho
cộng đồng.
Với mức ý nghĩa thống kê 10%, kết quả:
• Tuổi tác, giới tính và trình độ học vấn đều không có tác động đến
khả năng mắc nợ xấu.
• Khi khoản vay có giá trị càng lớn thì khả năng bị nợ xấu càng
giảm. Chưa thể kết luận sự khác biệt về nợ xấu giữa khu vực thành
thị và khu vực nông thôn; không có sự khác biệt về nợ xấu giữa tỷ
lệ số người tham gia lao động của các hộ gia đình; không có sự
khác biệt về nợ xấu theo kỳ hạn vay nợ.
4.3.5. Kết quả hồi quy các nhân tố tác động đến nợ xấu khi kết
hợp thí nghiệm sở thích rủi ro và sự tin tưởng.
Với mức ý nghĩa thống kê là 10%, kết quả:
•