VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
ĐỀ CƯƠNG
Tên đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng một số chủng VSV hữu ích để xử lý chất lót
chuồng nuôi gia cầm làm giảm ô nhiễm môi trường từ các trại chăn nuôi”
Học viên: Hoàng Thị Dung
Lớp: Sinh học K15
Luận văn cao học ngành: Vi sinh vật
Mã số: 60 42 40
Người hướng dẫn: PGS.TS. Tăng Thị Chính
Hà Nội, 2013
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế ở nước ta, vấn đề ô
nhiễm môi trường trở thành vấn đề cấp thiết hiện nay. Một trong những nguồn chất
thải gây ô nhiễm môi trường là từ chăn nuôi. Ngành chăn nuôi ở nước ta những
năm gần đây đã và đang phát triển nhanh chóng về cả chất lượng và quy mô. Tuy
nhiên, việc quản lý và sử dụng các nguồn chất thải trong chăn nuôi còn nhiều bất
cập. Do chỉ tập trung đầu tư nâng cao năng suất và chất lượng vật nuôi, phần lớn
các trang trại chưa chú trọng đến công tác kiểm soát, quản lý chất thải nên làm phát
sinh dịch bệnh, tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng và ảnh hưởng trực tiếp đến
việc phát triển bền vững của ngành chăn nuôi. Một số trang trại lớn đã có những
biện pháp xử lý nguồn chất thải chăn nuôi, bên cạnh đó một số trang trại chưa quan
tâm đến việc xử lý nguồn chât thải và đặc biệt trong chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình
việc xử lý chất thải hầu như còn bị thả nổi. Một trong những nguyên nhân là do
người chăn nuôi chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc xử lý nguồn chất thải; kinh
môi trường từ chất thải chăn nuôi gia cầm.
- Tạo được chế phẩm VSV để xử lý chất thải chăn nuôi gia cầm thành phân
hữu cơ góp phần phát triển nông nghiệp an toàn và bền vững.
3. Nội dung nghiên cứu của đề tài
- Tuyển chọn một số chủng vi sinh vật có khả năng phân giải các hợp chất
hữu cơ và sinh chất ức chế một số vi sinh vật gây bệnh từ bộ chủng vi sinh vật của
phòng Vi sinh vật môi trường – Viện Công nghệ môi trường.
- Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và sinh
enzym của các chủng vi sinh vật tuyển chọn.
- Nghiên cứu hoạt tính đối kháng của chủng vi khuẩn Lactobacillus.
- Nghiên cứu sản xuất chế phẩm vi sinh vật xử lý chất thải trong chăn nuôi
gia cầm.
- Đánh giá tác dụng chế phẩm vi sinh vật trong xử lý chất thải chăn nuôi gia
cầm tại huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương I
3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Hiện trạng chăn nuôi gà ở Thế giới và Việt Nam
1.1.1. Hiện trạng chăn nuôi gà trên thế giới [16]
Lương thực, thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề sống còn của
nhân loại. Ngày nay nông nghiệp có vai trò quan trọng cung cấp lương thực và các
loại thực phẩm nuôi sống cả nhân loại trên trái đất. Ngành chăn nuôi không chỉ có
vai trò cung cấp thịt, trứng, sữa là các thực phẩm cơ bản cho dân số của cả hành
tinh mà còn góp phần đa dạng nguồn gen và đa dạng sinh học trên trái đất.
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới - FAO năm 2009 số
lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: Tổng đàn trâu 182,2 triệu
con và trâu phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò 1.164,8 triệu con, dê
(1000 con)
Thế giới 182.275.837 1.164.893.633 591.750.636 816.967.639 877.569.546 14.191.101
Châu Á 176.797.915 407.423.038
415.238.186 345.158.332 534.329.449 9.101.291
Châu Âu 317.922
114.204.134
15.911.331 100.146.054 183.050.883 1.895.583
Châu Phi 4.000.000
175.046.563
137.580.921 199.832.226 5.858.898
708.019
Châu
Mỹ
1.160.000
430.340.339
22.925.369 66.707.744 151.705.814 2.374.152
Vịt
(1000con)
1.008.332
953.859
49.478
10
Châu Úc -
1.473
Trâu (Con)
cầu tiêu thụ các sản phẩm này khá lớn và là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển.
5
Trong thời gian gần đây, việc đưa các giống gà mới như tam hoàng, rốt ri về hộ
nông dân phát triển gà thả vườn đem lại hiệu quả tốt, góp phàn tăng thu nhập cho
người chăn nuôi.
Sản xuất chăn nuôi ở Việt Nam có 3 cách thức chăn nuôi chính: Chăn nuôi
nông hộ nhỏ lẻ, chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi công nghiệp.
Việt Nam với khoảng 73% dân số sống ở vùng nông thôn, phát triển kinh tế
nông nghiệp và nông thôn là một trong những mục tiêu được Đảng và Nhà nước
hết sức chú trọng, trong đó có phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các hoạt
động phát triển chăn nuôi. Theo báo cáo của 60/64 tỉnh, thành tính đến 01/10/2006
có tổng số 16.012 trang trại, trong đó miền Bắc có 6.101 trang trại, miền Nam có
9.911 trang trại. Chăn nuôi gia cầm chiếm 15,4% trang trại chăn nuôi [12]. Chăn
nuôi gà trong giai đoạn 2001 – 2005 đạt 2,74% về số lượng con, trong đó giai đoạn
trước dịch cúm tăng 9,02% và giảm trong dịch cúm gia cầm 6,67%. Sản lượng đầu
con tăng từ 158,03 triệu con năm 2001 và đạt cao nhất vào năm 2003: 185,22 triệu
con. Do dịch cúm gia cầm, năm 2004, đàn gà giảm còn 159,23 triệu con bằng
86,2% năm 2003; năm 2005, đàn gà đạt 159,89 triệu con, tăng 0,9% so với năm
2004 [34]. Theo thống kê năm 2010 của Cục Chăn nuôi, cả nước có khoảng 8,5
triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình và 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung. Với
tổng đàn 300 triệu con gia cầm và hơn 37 triệu con gia súc [35].
1.2. Chất thải trong chăn nuôi
1.2.1. Thành phần chất thải chăn nuôi [9]
Phân
Phân là sản phẩm loại thải của quá trình tiêu hoá của gia súc, gia cầm bị
bài tiết ra ngoài qua đường tiêu hóa. Chính vì vậy phân gia súc, gia cầm là sản
phẩm dinh dưỡng tốt cho cây trồng hay các loại sinh vật khác như cá, giun….
Bò thịt
0,70
0,20
Cừu
1,00
0,30
Gia cầm (gà)
1,20
1,20
Ngựa
0,86
0,13
Nguồn: Ngô Kế Sương và Nguyễn Lân Dũng, 1997
- Trong phân còn chứa nhiều loại vi sinh vật và ký sinh trùng kể cả có lợi
và có hại. Trong đó, các vi khuẩn thuộc loại Enterobacteriacea chiếm đa số với
các loài điển hình như E.coli, Samonella, Shigella, Proteus,…
Nước tiểu
Nước tiểu gia súc, gia cầm là sản phẩm bài tiết của con vật, chứa đựng
7
nhiều độc tố, là sản phẩm cặn bã từ quá trình sống của gia súc, khi phát tán vào
môi trường có thể chuyển hoá thành các chất ô nhiễm gây tác hại cho con người
và môi trường.
Thành phần chính của nước tiểu là nước, chiếm 99% khối lượng. Ngoài ra
một lượng lớn nitơ (chủ yếu dưới dạng urê) và một số chất khoáng, các
hormone, creatin, sắc tố, axít mật và nhiều sản phẩm phụ của quá trình trao đổi
chất của con vật...
Trong tất cả các chất có trong nước tiểu, urê là chất chiếm tỷ lệ cao và dễ
nước và không khí, gây nguy hiểm cho người, vật nuôi và khu hệ sinh vật trên
cạn hay dưới nước. Gia súc, gia cầm chết có thể do nhiều nguyên nhân khác
nhau. Việc xử lý phải được tiến hành nghiêm túc. Gia súc, gia cầm bị bệnh hay
chết do bị bệnh phải được thiêu hủy hay chôn lấp theo các quy định về thú y.
Chuồng nuôi gia súc bị bệnh, chết phải được khử trùng bằng vôi hay hóa chất
chuyên dùng trước khi dùng để nuôi tiếp gia súc. Trong điều kiện chăn nuôi
phân tán, nhiều hộ gia đình vứt xác chết vật nuôi bị chết do bị dịch ra hồ ao,
cống rãnh, kênh mương… đây là nguồn phát tán dịch bệnh rất nguy hiểm.
Thức ăn thừa, đệm lót chuồng và các chất thải khác
Trong các chuồng trại chăn nuôi, người chăn nuôi thường dùng rơm, rạ
hay các chất độn khác,… để lót chuồng. Sau một thời gian sử dụng, những vật
liệu này sẽ được thải bỏ đi. Loại chất thải này tuy chiếm khối lượng không lớn,
nhưng chúng cũng là một nguồn gây ô nhiễm quan trọng, do phân, nước tiểu các
mầm bệnh có thể bám theo chúng. Vì vậy, chúng cũng phải được thu gom và xử
lý hợp vệ sinh, không được vứt bỏ ngoài môi trường tạo điều kiện cho chất thải
và mầm bệnh phát tán vào môi trường.
Ngoài ra, thức ăn thừa, thức ăn bị rơi vãi cũng là nguồn gây ô nhiễm, vì
thức ăn chứa nhiều chất dinh dưỡng dễ bị phân hủy trong môi trường tự nhiên.
Khi chúng bị phân hủy sẽ tạo ra các chất kể cả chất gây mùi hôi, gây ô nhiễm
môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của gia súc và
9
sức khỏe con người.
Vật dụng chăn nuôi, bệnh phẩm thú y
Các vật dụng chăn nuôi hay thú y bị loại bỏ như bao bì, kim tiêm, chai lọ
đựng thức ăn, thuốc thú y,… cũng là một nguồn quan trọng dễ gây ô nhiễm môi
trường. Đặc biệt các bệnh phẩm thú y, thuốc khử trùng, bao bì đựng thuốc có thể
xếp vào các chất thải nguy hại cần phải có biện pháp xử lý như chất thải nguy
Tất cả các chất thải nói trên của chăn nuôi cần được nghiên cứu cẩn thận
và xử lý triệt để nhằm bảo vệ môi trường.
1.2.2. Các vấn đề môi trường từ việc chăn nuôi gà [4]
Chăn nuôi gà ở Việt Nam chủ yếu sản xuất tập trung tại các hộ quy mô nhỏ
lẻ trong nông hộ, thiếu quy hoạch nhất là các vùng dân cư đông đúc đã gây ra ô
nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng. Vì vậy, việc hiểu rõ thành phần và các
tính chất của chất thải chăn nuôi nhằm có biện pháp quản lý và xử lý thích hợp,
khống chế ô nhiễm, tận dụng nguồn chất thải giàu hữu cơ vào mục đích kinh tế
là một việc làm cần thiết.
Trên thực tế, thực trạng chăn nuôi theo phương pháp truyền thống đã bộc lộ
nhiều hạn chế. Do thiết kế chuồng hở và việc vệ sinh không đảm bảo, nên mùi hôi
của thức ăn và phân gà toả ra môi trường bên ngoài gây tình trạng hôi thối, mất vệ
sinh. Nghiêm trọng nhất là nạn ruồi, nhặng phát sinh từ trang trại gà ảnh hưởng đến
sức khoẻ của con người. Việc thải phân và nước rửa chuồng trực tiếp ra môi trường
gây ra mùi hôi thối cũng gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Người dân ở tổ 7,
khu 14, xã Long Đức (huyện Long Thành) đang khổ vì nạn ruồi, nhặng phát sinh từ
các trại chăn nuôi gà trong khu vực [4].
1.3. Vai trò của vi sinh vật trong khắc phục ô nhiễm môi trường chăn nuôi gia
cầm
Hệ vi sinh vật trong chất thải chăn nuôi gồm nhiều nhóm VSV có hoạt tính
sinh học khác nhau giữ vai trò hết sức quan trọng trong chu trình chuyển hóa các
hợp chất hữu cơ thành các chất mùn mà cây trồng có thể sử dụng được. Ở đây
11
chúng tôi chỉ đề cập các nhóm VSV có khả năng phân huỷ các hợp chất phổ
biến, là thành phần chính trong chất thải chăn nuôi gồm xenluloza, tinh bột,
protein và VSV có khả năng ức chế các vi khuẩn gây bệnh đường ruột, vi khuẩn
gây thối.
Azotobacter,
Cellulomonas,
Flavobacterium,
Vibrio,
Archromobacter,
Cellvibrio,
Cytophaga,
Angioccocus, Polyangium, Sporocytophaga, Sorangium, Archangium, Promyxobacterium, ...
12
- VK kị khí: Người ta thường gọi quá trình phân giải xenluloza kị khí là quá
trình lên men xenluloza. Điển hình là VK trong khu hệ VSV trong dạ cỏ của động
vật nhai lại: Ruminococcus flavofeciens, R. albus, R. parvum, Bacteroides
succinpgenes,
Butyrivibrio
fibriosolvens,
Clostridium
cellobioparum,
1.3.2. Vi sinh vật phân giải tinh bột
Đại phân tử tinh bột bao gồm hai cấu tử là amiloza và amilopectin, thường tỷ
lệ amiloza/amilopectin ~ 1/4. Trong phân tử amiloza các gốc D-glucoza được gắn
với nhau bằng liên kết α-1,4 glucozit tạo nên chuỗi dài khoảng 200-1000 gốc
13
glucoza và phân tử amyloza có một đầu khử. Trong phân tử amilopectin các gốc
glucoza được gắn với nhau không chỉ bằng liên kết α-1,4 glucozit mà còn bằng liên
kết α-1,6 glucozit. Vì vậy phân tử amilopectin có cấu trúc nhánh, có một đầu khử.
Tinh bột không tan trong nước lạnh nhưng bị hồ hóa ở nhiệt độ 60 – 80oC.
Tinh bột bị thủy phân duới tác dụng của enzym amilaza hoặc acid tạo thành
phân tử có trọng lượng thấp hơn gọi là dextrin. Quá trình thủy phân tinh bột này có
sự tham gia của nhiều loại enzym khác nhau và mỗi enzym có một phương thức tác
dụng đặc hiệu riêng. Amylaza là hệ enzym rất phổ biến đối với VSV. Theo tính
chất và cách tác dụng lên tinh bột, phân biệt amylaza thành các loại: α-amylaza,
β-amylaza, glucoamylaza và oligo 1-6 glucozidaza [1; 25].
Nhiều nhóm vi sinh vật có khả năng sinh amilaza như vi khuẩn, nấm mốc, xạ
khuẩn và nấm men.
Các vi khuẩn gram dương đặc biệt là Bacillus thường tạo ra nhiều α-amilaza
hơn các vi khuẩn gram âm (Forgarty & Kelly, 1990). Ngoài α-amilaza ra vi khuẩn
còn tạo ra β- amilaza (β- amilaza trước đây chỉ thấy ở thực vật). Ví dụ β -amilaza
từ B. polymyxa, khi thủy phân tinh bột có thể tạo ra 92 - 94% maltoza. Đây là βamilaza đầu tiên được phát hiện ở vi khuẩn. Hoạt tính của nó gần giống như βamilaza của thực vật. Sau này, người ta tìm thấy β- amilaza ở một số vi khuẩn khác
như Acetobacter, B. megaterium, B. cereus.
Khả năng sinh amilaza của nấm mốc là mạnh nhất trong các nhóm vi sinh
vật. Các giống nấm mốc điển hình có khả năng phân giải tinh bột mạnh đó là:
Aspergillus (A. niger, A. awamori, A. oryzae). Rhizopus (R. delemar, R. niveus..).
Xạ khuẩn cũng là một nhóm vi sinh vật có khả năng sinh amilaza mạnh, trong đó
này rất đa dạng như Lactacin, Nisin, Acidolin,...
1.4. Một số phương pháp xử lý ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gà
1.4.1. Công nghệ EM [13; 16; 33]
Vai trò của từng nhóm vi sinh vật trong EM. GS. Teruo Higa cho biết chế
phẩm EM giúp cho quá trình sinh ra các chất chống oxy hoá như inositol,
15
ubiquinone, saponine, polysaccharide phân tử thấp, polyphenol và các muối
chelate. Các chất này có khả năng hạn chế bệnh, kìm hãm các vi sinh vật có hại và
kích thích các vi sinh vật có lợi. Đồng thời các chất này cũng giải độc các chất có
hại do có sự hình thành các Enzyme phân huỷ.
Chế phẩm EM là một hỗn hợp chứa các vi sinh vật có ích tồn tại trong tự
nhiên được phân lập ra, có tác dụng tiêu diệt các vi sinh vật có hại và hướng quá
trình phân huỷ hữu cơ theo hướng có lợi cho môi trường. Sử dụng chế phẩm EM an
toàn, không độc hại và cân bằng sinh học, làm cho môi trường không khí, đất và
nước trong lành, không bị ô nhiễm, xúc tiến tăng trưởng và tăng sức đề kháng cho
gia cầm.
EM là chế phẩm được nuôi cấy hỗn hợp gồm 5 nhóm vi sinh vật có ích: Vi
khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, xạ khuẩn và nấm sợi.
EM được thử nghiệm ở nhều quốc gia: Mỹ, Nam Phi, Thái Lan, Philippin,
Trung Quốc, Braxin, Nhật Bản, Singapore, Srilanca, Nepal, Việt Nam, Triều Tiên,
Belarus,… và cho thấy những kết quả khả quan. Trong chăn nuôi, EM có tác dụng:
- Làm tăng sức khoẻ vật nuôi, tăng sức đề kháng và khả năng chống chịu
đối với các điều kiện ngoại cảnh.
- Tăng cường khả năng tiêu hoá và hấp thụ các loại thức ăn.
- Kích thích khả năng sinh sản.
- Tăng sản lượng và chất lượng trong chăn nuôi.
- Tiêu diệt các vi sinh vật có hại, hạn chế sự ô nhiễm trong chuồng trại
- Thao tác xử lý đơn giản, chi phí vận hành thấp.
- Giá cả phù hợp với thu nhập người chăn nuôi.
- Sau xử lý chuyển hoá thành oxy không để lại dư lượng độc hại.
Bảng 1.3. Khả năng khử một số hợp chất mang mùi của ozone
Hợp chất mang mùi
Hydrogen sulfide (mùi trứng thối)
Nồng
(ppm)
0.03
0.27
độ
mùi Hiệu suất xử lý
của ozone (%)
54
97
17
Methyl mercaptan (mùi bắp cải hôi) 0.01
0.03
Methyl sulfide (mùi cống rãnh)
0.01
72
92
88
- Tăng chất lượng đàn gà và chất lượng của sản phẩm.
- Hiệu quả của việc sử dụng đệm lót lên men: Tiết kiệm 80% nước trong
chăn nuôi, 60% nhân lực, 10% thức ăn, giúp môi trường chăn nuôi không bị ô
nhiễm, giúp sản phẩm thịt có màu, mùi, vị gần với chăn nuôi hữu cơ, đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm
- Hoạch toán kinh tế người chăn nuôi sẽ lợi: Môi trường không ô nhiễm,
giảm được công việc nặng nhọc trong công việc thường xuyên thay chất độn, chi
phí chung sẽ ít hơn nên thu nhập tăng lên.
Một số chú ý khi sử dụng chế phẩm Balasa – N01:
18
- Phải chú ý làm tơi xốp bề mặt đệm lót: cứ sau 1 – 2 ngày cào trên bề mặt
đệm lót một lần để giúp cho đệm lót được tơi xốp, phân sẽ được phân huỷ nhanh
hơn.
- Tránh để bị nước mưa và nước ở máng uống làm ướt đệm.
- Kiểm tra ẩm độ lớp đệm để bổ sung nước cho phù hợp.
- Khi phát hiện độn lót có mùi của khí NH 3 và thối nhẹ là tác dụng phân giải
phân chưa tốt cần phải xử lý kịp thời.
Công nghệ chăn nuôi trên đệm lót sinh thái với kỹ thuật làm chuồng, chuẩn
bị đệm lót và chăm sóc vật nuôi đơn giản vì vậy người chăn nuôi có thể dễ dàng áp
dụng, mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi mà lại giải quyết được vấn đề về ô
nhiễm môi trường.
1.4. Hiện trạng môi trường ở tỉnh Vĩnh Phúc [29]
Chăn nuôi ở Tam Dương đã giải quyết hàng ngàn lao động, nông dân có việc
làm và thu nhập ổn định, nhiều gia đình từ nghèo khó đã trở thành hộ giàu có thực
sự. Tam Dương có nguồn thực phẩm phong phú, ổn định cung cấp cho việc tiêu
dùng ở Vĩnh Phúc mà thực phẩm ở đây còn cung cấp tới cả Thủ đô Hà Nội.
Tam Dương là một huyện tuy không có rác thải độc hại phát sinh từ các khu công
3,2 lần TCCP); nước thải nhiễm E.coli và tỷ lệ số mẫu nước thải nhiễm trứng giun
cao. Hàm lượng COD trong nước thải từ 314 – 542mg/l, cao hơn giới hạn cho phép
từ 1,57 – 2,71 lần, hàm lượng BOD từ 182,5 – 406,4mg/l vượt TCCP từ 1,22 – 2,7
lần. Thực tế, do chưa thực hiện tốt công tác bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường
nên tình hình dịch bệnh đã xảy ra ở nhiều địa phương trong tỉnh như dịch tai xanh,
dịch lở mồm long móng ở gia súc; dịch cúm gia cầm tại xã Tam Quan (Tam
Dương),…
Với sự vào cuộc quyết liệt của các cấp chính quyền và các ngành chức năng,
các hộ chăn nuôi cũng đã thay đổi nhận thức về tác hại của tình trạng ô nhiễm môi
trường nên chủ động thực hiện nhiều biện pháp giảm thiểu. Đặc biệt là phương
pháp sử dụng chế phẩm sinh học thân thiện với môi trường trong xử lý chất thải
20
chăn nuôi. Ngoài việc tạo ra nguồn phân bón hữu cơ dồi dào cho phát triển nông
nghiệp, hạn chế nguồn sâu bệnh, tái chế các chất phế thải nông nghiệp thành phân
bón còn góp phần giảm chi phí sản xuất. Đây là một sản phẩm được khuyến cáo sử
dụng rộng rãi trong cộng đồng, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
21
Chương II
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
- Mẫu phân gà: Thu thập từ một số hộ chăn nuôi gà tại huyện Tam Dương,
tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chủng vi sinh vật kiểm định: Do phòng Vi sinh vật môi trường – Viện Công
nghệ môi trường cung cấp.
- Đưa ra được quy trình bổ sung vi sinh vật vào các chất độn lót chuồng gia
cầm.
- Đánh gía hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi gia cầm của chế phẩm vi sinh
vật.
Hà Nội, ngày 09 tháng 01 năm 2013
Người hướng dẫn
Học viên
PGS.TS. Tăng Thị Chính
Hoàng Thị Dung
TÀI LIỆU THAM KHẢO
23
A. Tài liệu tiếng Việt
1. Phạm Thị Trân Châu, Trần Thị áng (1992), Hóa sinh học, NXB Giáo dục.
2. GS.TS. Trần Ngọc Chấn (2002), Ô nhiễm không khí và xử lý khí thải – tập 1: Ô
nhiễm không khí và tính toán khuếch tán chất ô nhiễm. Nhà xuất bản khoa học và
kỹ thuật Hà Nội.
3. Tăng Thị Chính, Đặng Đình Kim, Phan Thị Tuyết Minh, Lê Thanh Xuân
(2006). Nghiên cứu và ứng dụng một số chế phẩm vi sinh vật để xử lý chất thải hữu
cơ. TC khoa học – Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Võ Văn Cường (2009), Cảnh báo ô nhiễm môi trường từ chăn nuôi, giải pháp
có hiệu quả. Tạp chí hoạt động khoa học.
17. Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT – BNN – TCTK ngày 26/3/2000 của Liên
Bộ Nông Nghiệp – Tổng cục thống kê.
B. Tài liệu tiếng anh
18. Alois S., et al, 1997 . Production of hemicelllose and cellulose degrading enzymes by
various strains of Sclerotium rolfsii, Applied Biochem. Biotech , 63-65, pp. 189-201.
19.
Cross F.L (1973), Handbook on air pollution control. Technomic, USA.
20. Forgaty W. M and Kelly C.T (1990). Amylases, amyloglucosidase and related glucanase,
In: “ Microbial enzym and Biotechnology. 2nd Ed, ed. By W.M Forgaty and C,T. Kelly,
Elsevier Applied Science, London and New York., pp.71-183.
21. Kundu R., Dube S. and Dube D., 1989. Extracellular cellulytic enzymes systems of A.
japonicus. Isolation, purification and characterization of multiple forms of endoglucanase,
Enzyme Microbiol. Tecnol, (10), pp. 100-108.
22. Lutzen, N.V. and m.H. Nielson (1983). Cellulose and their application in the
conversion lignocellulose to fermentable surgurs. Research and Sciene, London, Vol.
300, pp:283-291.
23. Pradyot Patnaik (1997), Handbook of Environmental Analysis. Lewis
Publishers.
24. Rao Mala B., Aparna M. Tanksale, Mohini S. Ghatge and Vasantin V. Deshpande (1998).
Molecular and biotechnological aspects of microbial proteases, Microbiology and molercular
biology reviews, 62(3), pp. 597-635.
25. Teruo Higa (2002). Technology of Effective Microorganisms: Concept and
Phisiology. Royal Agricultural College, Cirencester, UK.