Thành tựu của quản lý nhà nước về kinh tế
Một là, đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng
trưởng nhanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, đời sống của các
tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện.
Từ năm 1986 đến năm 1989, công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu bước
đầu rất quan trọng. Nhưng vào đầu thập kỷ 90, khi bước vào thực hiện chiến lược
10 năm 1991 - 2000, đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Nhờ
triển khai mạnh mẽ đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, đến năm 1995, hầu hết
các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch năm 1991-1995 được hoàn thành vượt mức; đất
nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đã tạo được tiền đề cần thiết để
chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Từ năm 1996 đến năm 2000 đất nước đã đạt được nhịp độ tăng trưởng cao. Tốc độ
tăng trưởng GDP bình quân của 10 năm (1990-2000) đạt 7,5%; năm 2000 so với
năm 1990, GDP tăng hơn 2 lần. Trong 5 năm (2001-2005) của nhiệm kỳ Đại hội
IX, GDP bình quân tăng gần 7,5%; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể,
nguồn lực phát triển trong các thành phần kinh tế đã được huy động khá hơn; nhiều
lợi thế so sánh trong từng ngành, từng vùng đã được phát huy. Năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế được cải thiện
Hai là, thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần.
Để nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, Đảng đã quan tâm lãnh đạo đổi
mới cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước. Luật Doanh nghiệp nhà
nước năm 2003 tạo khung pháp lý, có tác dụng giải phóng lực lượng sản xuất, phục
vụ cho việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước. Cơ chế quản lý
doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng theo hướng xoá bao
cấp, thực hiện chế độ công ty, phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm của doanh
nghiệp trong kinh doanh, giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp; đã tập trung chỉ đạo sắp xếp, đổi mới, nâng
cao chất lượng và hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước. Qua sắp xếp, đổi mới và
cổ phần hoá, số doanh nghiệp nhà nước giảm đi (năm 1990 là 12.084, đến tháng 6
năm 2005 còn 2.980 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước), ngoài ra còn có 670 công
ty cổ phần do Nhà nước chi phối trên 51% vốn điều lệ. Nhờ đổi mới như vậy mà
tháng 6 -2004, có 4.575 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép và
còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt trên 43 tỷ USD. Năm 2005, khu vực này
đóng góp 15,5% GDP, trên 7,5% tổng thu ngân sách, trên 17,1% tổng vốn đầu tư
xã hội, trên 23% kim ngạch xuất khẩu (không kể dầu khí), đạt trên 35% giá trị sản
xuất công nghiệp; thu hút hơn nửa triệu lao động.
Ba là, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần được hình
thành.
Nền kinh tế nhiều thành phần theo chủ trương của Đảng và được quy định trong
Hiến pháp 1992 đã được cụ thể hoá bằng các luật, pháp lệnh. Với Luật Doanh
nghiệp, quyền tự do kinh doanh được Hiến pháp 1992 quy định đã thực sự đi vào
cuộc sống. Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế, Bộ Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật
Đầu tư nước ngoài, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước đã tạo khung pháp lý ban
đầu cho các yếu tố thị trường hình thành và vận hành từng bước. Đồng thời, Nhà
nước đã thể chế hoá thành cơ chế, chính sách về đất đai, tín dụng, ưu đãi thuế,...
Nhờ đó, đã góp phần tích cực cho quá trình phát triển kinh tế thị trường trong suốt
gần 20 năm qua.
Nhà nước đã từng bước tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của các cơ
quan nhà nước, chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước của Nhà nước và
chức năng kinh doanh của doanh nghiệp chuyển từ quản lý cụ thể các hoạt động
của nền kinh tế sang quản lý tổng thể nền kinh tế quốc dân; chuyển từ can thiệp
trực tiếp vào nền kinh tế sang can thiệp gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật, kế
hoạch, cơ chế, chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô khác.
Bốn là, cơ cấu kinh tế ngành, vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Về cơ cấu ngành kinh tế: từ năm 1988 đến nay, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng
trong GDP tăng nhanh và liên tục (năm 1988 là 21,6% GDP, năm 1995 là 28,8%,
năm 2003 là 40%, dự kiến năm 2005 chiếm 41% GDP). Từ chỗ chưa khai thác
dầu, đến nay đã có sản lượng (quy ra dầu) gần 20 triệu tấn/năm; ngành công nghiệp
sản xuất tư liệu sản xuất; xây dựng kết cấu hạ tầng; đầu tư phát triển nguồn nhân
lực, xoá đói, giảm nghèo - nhất là ở vùng núi, vùng khó khăn.
Năm là, đạt được những kết quả tích cực trong hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới.
Vượt ra khỏi chính sách bao vây cấm vận của Mỹ và các lực lượng thù địch nước
ngoài, Việt Nam đã tham gia hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế trên các cấp độ và
trong các lĩnh vực kinh tế then chốt (như thương mại dịch vụ, lao động, đầu tư,
khoa học và công nghệ ...). Đặc biệt là, nước ta đã tham gia Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á (ASEAN) ngày 28-7-1995, đã không ngừng mở rộng các quan hệ
kinh tế song phương, tiểu vùng, vùng, liên vùng và tiến tới tham gia liên kết kinh
tế toàn cầu. Đến năm 2005, nước ta đã có quan hệ thương mại với 221 nước và
vùng lãnh thổ, ký 90 hiệp định thương mại song phương, trong đó, nổi bật là Hiệp
định Thương mại với Mỹ, tạo điều kiện mở rộng giao lưu hàng hoá với nước ngoài
và sẵn sàng ra nhập tổ chức thương mại quốc tế.
Hạn chế của quản lý nhà nước về kinh tế
Thứ nhất, sức ép lạm phát và tiềm ẩn bất ổn kinh tế vĩ mô vẫn còn lớn. Việc điều
chỉnh giá các mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước định giá như điện, than bán cho điện,
nước, giáo dục, y tế... theo cơ chế thị trường còn chậm, gặp nhiều khó khăn. Mặt
bằng lãi suất cho vay có giảm nhưng còn cao, tăng trưởng tín dụng vẫn còn ở mức
thấp so với định hướng tăng 12% của năm 2013.
Nợ xấu tuy được kiểm soát nhưng vẫn còn cao, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn
còn khó khăn. Quản lý thị trường vàng mới chỉ đạt kết quả bước đầu, chưa huy
động được nguồn lực vàng cho phát triển kinh tế. Cân đối ngân sách nhà nước khó
khăn, tiến độ thu ngân sách chậm và đạt thấp. Đầu tư từ khu vực tư nhân trong
nước còn hạn chế.
Thứ hai, chủ trương, cơ chế chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh
doanh tuy sớm được ban hành nhưng việc hướng dẫn cụ thể, tổ chức triển khai
thực hiện còn chậm nên không ít trường hợp chưa đi vào cuộc sống. Sản xuất kinh
đảm an toàn, an ninh thông tin của các cơ quan nhà nước còn nhiều hạn chế, sơ
hở.
Thứ năm, tình trạng khiếu kiện, nhất là khiếu kiện đông người về đất đai còn diễn
biến phức tạp. Một số vụ việc xử lý chưa tốt, gây bức xúc, bị kẻ xấu lợi dụng. Tai
nạn giao thông vẫn ở mức cao, nhất là trong các dịp Lễ, Tết và ở khu vực nông
thôn. Tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp.
Thứ sáu, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao. Năng lực, phẩm chất của
một số cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là thái độ ứng xử cửa quyền,
vô cảm. Việc khắc phục tình trạng nợ đọng các văn bản quy định chi tiết, hướng
dẫn thi hành pháp luật tuy có nhiều tiến bộ nhưng việc ban hành một số văn bản
vẫn còn chậm. Chất lượng ban hành văn bản, quy định hành chính vẫn còn hạn
chế. Một số quy định còn bất cập, thiếu tính khả thi, chưa sát thực tế gây bức xúc
trong nhân dân. Cải cách hành chính còn chậm, kết quả chưa rõ rệt trong một số
lĩnh vực. Kỷ luật, kỷ cương hành chính còn chưa nghiêm. Kết quả phát hiện xử lý
tham nhũng còn hạn chế.