Đánh giá chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU PHƢƠNG

§¸NH GI¸ CHøNG Cø
TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU PHƢƠNG

§¸NH GI¸ CHøNG Cø
TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN VĂN LUYỆN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

1.2.3. Phương pháp đánh giá chứng cứ ........................................................ 22
1.2.4. Nội dung đánh giá chứng cứ .............................................................. 24
1.2.5. Mối quan hệ giữa đánh giá chứng cứ với thu thập, kiểm tra, sử
dụng chứng cứ và vai trò của đánh giá chứng cứ............................... 31
1.2.6. Chủ thể đánh giá chứng cứ ................................................................. 33
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 34
Chƣơng 2: CHẾ ĐỊNH ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN HOẠT
ĐỘNG ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG QUÁ TRÌNH
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ .................................................... 36
2.1.

Chế định đánh giá chứng cứ trƣớc khi ban hành Bộ luật tố
tụng hình sự 2003 .............................................................................. 36


2.1.1.
2.1.2.
2.2.

Chế định đánh giá chứng cứ trước khi ban hành Bộ luật tố tụng
hình sự 1988........................................................................................ 36
Chế định đánh giá chứng cứ trong Bộ luật tố tụng hình sự 1988 ......... 42
Chế định đánh giá chứng cứ trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003....... 44

2.3.

Thực tiễn hoạt động đánh giá chứng cứ trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự .......................................................................... 46
2.3.1. Thực tiễn đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra ....................... 46


3.2.3. Tăng cường công tác thanh tra nghiệp vụ, kiểm tra liên ngành
trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự ...................... 76
3.2.4. Tăng cường phối hợp giữa CQĐT, VKS, Tòa án trong đánh giá
chứng cứ nói riêng và trong giải quyết vụ án hình sự nói chung ....... 77
3.2.5. Đầu tư cơ sở vật chất, trang bị phương tiện kỹ thuật phục vụ công
tác thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ có hiệu quả ........... 78
3.2.6. Thực hiện nguyên tắc tranh tụng, đổi mới hoạt động xét xử vụ án ......... 78
3.2.7. Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng và sự
giám sát của quần chúng nhân dân đối với hoạt động đánh giá
chứng cứ trong vụ án hình sự ............................................................. 79
3.2.8. Củng cố, tăng cường đội ngũ luật sư, người bào chữa tham gia
quá trình tố tụng hình sự .................................................................... 80
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................... 84
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 86


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt

Cụm từ đầy đủ

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

Bảng 2.2: Tình hình giải quyết các vụ án hình sự của VKS hai
cấp thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2014

86

Bảng 2.3: Tình hình giải quyết các vụ án hình sự của Tòa án hai
cấp thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2014

87

Bảng 2.4: Tổng hợp số liệu án hủy của Tòa án nhân dân hai cấp
thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2014

87

Bảng 2.5: Tổng hợp số liệu án trả điều tra bổ sung từ năm 2010
đến năm 2014 trên địa bàn thành phố Hà Nội

87


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của nghiên cứu đề tài
Chứng cứ luôn được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình giải quyết
vụ án hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến
hành tố tụng chỉ có thể ra các quyết định hoặc bản án dựa trên cơ sở các
chứng cứ chứng minh sự việc phạm tội cũng như con người thực hiện tội
phạm và những tình tiết liên quan, làm rõ những vấn đề phải chứng minh
trong vụ án hình sự.
Quá trình chứng minh vụ án hình sự bao gồm nhiều bước như phát

các vụ án hình sự là bài toán đang được đặt ra cho các nhà lập pháp và hành
pháp hiện nay.
Xuất phát từ nguyên nhân đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về
đánh giá chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc
xây dựng pháp luật, là cơ sở lý luận đảm bảo sự nhận thức thống nhất trong
thực thi pháp luật. Đây cũng là luận chứng cho sự cần thiết để chúng tôi lựa
chọn đề tài: “Đánh giá chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm
luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Chế định chứng cứ là một lĩnh vực phức tạp, đóng vai trò quan
trọng trong tố tụng hình sự, vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về
chế định chứng cứ:
- Giáo trình:
+ Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam (Nhà xuất bản đại học quốc
gia Hà Nội, Hà Nội) của TS.Nguyễn Ngọc Chí.
- Sách chuyên khảo:
+ "Chế định chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam" (Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tái bản năm 2009) của TS. Trần Quang Tiệp;

2


+ "Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự" (Nxb Tư pháp, Hà
Nội, 2006) của TS. Đỗ Văn Đương;
+ "Chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam" (Nxb Tư pháp, Hà
Nội, 2005) của ThS. Nguyễn Văn Cừ.
- Luận án tiến sĩ:
+ Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong Luật tố
tụng hình sự Việt Nam (Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội) của tác giả
Vương Văn Bép.

- Làm sáng tỏ về mặt lý luận chế định đánh giá chứng cứ.
- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề đánh giá
chứng cứ
- Làm rõ những hạn chế, bất cập của chế định đánh giá chứng cứ theo
pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn
thiện quy định của pháp luật về đánh giá chứng cứ.
- Thực tiễn hoạt động đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng hoạt động đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết
các vụ án hình sự.
* Phạm vi nghiên cứu
Trong thực tiễn, khi giải quyết một vụ án hình sự, hoạt động đánh giá
chứng cứ gồm nhiều đối tượng tham gia, ngoài cơ quan tiến hành tố tụng còn
có luật sư, người bào chữa thậm chí là các phương tiện thông tin đại chúng,
quần chúng nhân dân. Tuy nhiên trong phạm vi Luận văn này, tác giả chỉ
nghiên cứu hoạt động đánh giá chứng cứ của cơ quan tiến hành tố tụng đối
với mọi loại tội phạm trong các vụ án hình sự, thực tiễn trên địa bàn thành
phố Hà Nội trong khoảng thời gian 5 năm từ 2009 – 2014.
4. Phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ

4


nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng,
chống tội phạm; việc nghiên cứu đề tài luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh,
diễn giải, suy diễn logic và phương pháp xã hội học, phương pháp khoa học
luật tố tụng hình sự, điều tra hình sự để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.

Nam và thực tiễn áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự.
Chương 3. Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao chất
lượng hoạt động đánh giá chứng cứ trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự.

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Lý luận về chứng cứ
1.1.1. Khái niệm chứng cứ
Để giải quyết vụ án hình sự, trong quá trình thực hiện các hoạt động tố
tụng CQĐT, VKS và Tòa án khi giải quyết vụ án hình sự cần xác minh những
sự việc có liên quan đến tội phạm đang được tiến hành xem xét, trong đó cần
phải khẳng định được tội phạm đã xảy ra, xác định được người cụ thể đã thực
hiện tội phạm và họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện, tất cả các
sự kiện và tình tiết của vụ án phải phù hợp với hiện thực khách quan. Để làm
được điều đó, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ có thể dựa vào chứng cứ. Hay nói
cách khác, chứng cứ là phương tiện duy nhất được cơ quan tiến hành tố tụng
sử dụng để chứng minh trong tố tụng hình sự.
Hiện nay trong khoa học Luật tố tụng hình sự Việt Nam có một số quan
điểm khác nhau về chứng cứ:
Theo TS. Đỗ Văn Đương thì:
Chứng cứ là những thông tin xác thực về những gì có thật
liên quan đến hành vi phạm tội, được thu thập theo trình tự, thủ
tục do pháp luật quy định mà những người và cơ quan tiến hành
tố tụng dùng làm căn cứ để xác định sự thật khách quan của vụ

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự,
thủ tục do Bộ luật này quy định mà CQĐT, VKS và Tòa án dùng
làm ăn cứ để xác định có hay không hành vi phạm tội, người
thực hiện hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội
cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng
đắn vụ án [12; tr.55].

8


Định nghĩa này về chứng cứ mang tính khái quát cao, tuân theo các quy
luật khách quan của quá trình nhận thức, đưa ra những thuộc tính về nội dung
cũng như những đặc điểm về hình thức của chứng cứ làm cơ sở cho việc
chứng minh tội phạm.
1.1.2. Thuộc tính của chứng cứ
Chứng cứ là những sự vật, hiện tượng có thật và thống nhất không thể
tách rời, vì vậy xem xét từng thuộc tính của chứng cứ phải trong mối quan hệ
với các thuộc tính khác và trong mối quan hệ tổng thể.
1.1.2.1. Tính khách quan
Đây là thuộc tính quan trọng hàng đầu của chứng cứ. Chứng cứ là
những gì có thật, có nghĩa rằng chứng cứ là những thông tin có thật từ tài liệu,
vật chứng tồn tại khách quan, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan
của con người và những chứng cứ đó liên quan trực tiếp đến các tình tiết của
vụ án đang được chứng minh. Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố
tụng chỉ phát hiện, thu thập, nghiên cứu chứng cứ chứ không tạo ra chứng cứ
trong quá trình giải quyết vụ án. Tại Điều 66 của BLTTHS, tính khách quan
của chứng cứ còn được gọi là tính xác thực của chứng cứ.
Trong quy định tại khoản 2 Điều 64 BLTTHS năm 2003 có quy định
một trong các nguồn chứng cứ là lời khai của người tham gia tố tụng. Theo
một số quan điểm cho rằng việc lấy chứng cứ là lời khai của người tham gia

tỏ sự việc. Trong hoạt động tố tụng, CQĐT cũng như VKS, Tòa án phải xem
xét về tính liên quan của chứng cứ ở cả hai mối quan hệ này để xác định một
thông tin, đồ vật hay tài liệu có được coi là chứng cứ hay không [7, tr.85].
1.1.2.3. Tính hợp pháp
Đó là sự phù hợp với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về
chứng cứ. Tính hợp pháp của chứng cứ được thể hiện qua quá trình cung cấp,
thu thập, nghiên cứu, bảo quản theo trình tự của pháp luật quy định.
Nó được thể hiện ở các mặt sau:

10


- Chứng cứ được xác định bằng nguồn nhất định theo quy định của
pháp luật. BLTTHS năm 2003 quy định nguồn chứng cứ bao gồm:
(i) Vật chứng;
(ii) Lời khai của người tham gia tố tụng;
(iii) Kết luận giám định;
(iv) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ
vật khác [12, tr.55]
Các nguồn này phải được lưu giữ bằng nguồn tương ứng xác định.
- Chứng cứ phải được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS
quy định. Tùy thuộc vào tính chất đặc điểm của chứng cứ mà BLTTHS quy
định trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ nhằm đảm bảo được tính khách quan
và giá trị chứng minh của chứng cứ.
Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử có không ít các trường hợp cơ
quan tiến hành tố tụng thu giữ, đồ vật, tài liệu không đúng thủ tục rồi sau đó
mới tiến hành hợp pháp hóa các tài liệu đó rồi đưa vào hồ sơ vụ án hoặc thu
thập lời khai bằng cách đe dọa, đánh đập, mớm cung… [5, tr.89]. Điều này
dẫn đến các thông tin thu thập được bị thiếu tính hợp pháp, không có giá trị
chứng minh trong tố tụng hình sự và đôi khi dẫn đến các trường hợp án oan,

Thu thập chứng cứ là việc cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các
phương tiện, biện pháp và phương pháp theo quy định của BLTTHS để xác
định nguồn chứng cứ, tìm ra, thu giữ, bảo quản những chứng cứ nhằm giải
quyết chính xác đối với vụ án [24, tr.26]. Xét về bản chất, hoạt động thu thập
chứng cứ bao gồm tổng hợp các hoạt động, các hành vi phát hiện, ghi nhận,
thu giữ và bảo quản chứng cứ. Ví dụ: Biên bản hỏi cung bị can có được do
ĐTV tiến hành hỏi cung bị can, ghi lại theo đúng quy định của BLTTHS hoặc
kết luận giám định có được từ cơ quan giám định tư pháp tiến hành giám định
do cơ quan điều tra trưng cầu giám định…

12


1.1.3.2. Kiểm tra chứng cứ
Thu thập chứng cứ là giai đoạn đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng, tuy
nhiên không thể thay thế các giai đoạn khác, vì trong thực tiễn việc phát hiện,
thu giữ tài liệu, chứng cứ trong vụ án hình sự là công việc hết sức phức tạp và
khó khăn. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau,
bởi vì người phạm tội luôn luôn tìm mọi cách che giấu hành vi phạm tội, có
thể tạo hiện trường giả, tạo ra những chứng cứ giả để nhằm đánh lạc hướng
việc điều tra, phát hiện, thu thập chứng cứ. Bởi vậy, trong các vụ án hình sự,
chứng cứ cần và đủ trong việc chứng minh, xác định sự thật của vụ án không
phải lúc nào cũng đầy đủ. Trong một vụ án có thể vừa thiếu lại vừa thừa
chứng cứ, có thể thu thập các loại thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án
có nghĩa là không có giá trị chứng minh, nhưng lại bỏ sót những thông tin, tài
liệu có giá trị chứng minh, có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án [24, tr.37].
Chính vì vậy, mọi chứng cứ đã thu thập được chỉ có thể trở thành cơ sở cho
các quyết định, kết luận của CQĐT, VKS và Tòa án về vụ án hay các tình tiết
cụ thể của nó sau khi được kiểm tra một cách chu đáo và thận trọng.
Kiểm tra chứng cứ là hoạt động của ĐTV, KSV, Thẩm phán và Hội

tụng, qua việc nhận thức chứng cứ của vụ án [15, tr.55]. Việc phát hiện, thu
thập thêm chứng cứ mới là hoạt động được tiến hành liên tục cho đến khi các
cơ quan tiến hành tố tụng có đủ chứng cứ chứng minh sự thật của vụ án.
Trong quá trình chứng minh vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng phải sử dụng chứng cứ để ra các quyết định tố
tụng, Cơ quan điều tra sử dụng chứng cứ khi có đủ chứng cứ xác định một
người đã thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm thì ra quyết định khởi tố
vụ án, khởi tố bị can, thông qua quá trình chứng minh nếu xác định rõ bị can
và vụ án thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố.
Trong giai đoạn kiểm sát điều tra, quyết định truy tố, duy trì công tố tại phiên

14


tòa, KSV phải dựa trên cơ sở sử dụng đầy đủ đúng đắn các chứng cứ. Tại giai
đoạn xét xử, mọi quyết định, kết luận cuối cùng của Tòa án cũng hoàn toàn
dựa trên cơ sở việc sử dụng chứng cứ.
Quá trình sử dụng chứng cứ là một “dạng hoạt động nhận thức, hoạt
động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở
xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được
thực hiện” [24, tr.78].
1.1.4. Chứng cứ và những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự
Những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự được Luật tố
tụng hình sự quy định rất chặt chẽ, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải
nghiêm chỉnh chấp hành. Mọi sự vi phạm quy định này đều ảnh hưởng đến
kết quả giải quyết vụ án hình sự. Đây cũng là một bộ phận quan trọng của lý
luận chứng cứ trong tố tụng hình sự. Nếu coi chứng cứ là phương tiện thì
những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự là mục tiêu của quá
trình chứng minh vụ án hình sự.
1.1.4.1. Khái niệm những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự

của vụ án hình sự, bao gồm:
- Chứng minh về việc có tội phạm xảy ra hay không?
- Chứng minh để xác định ai là người phạm tội?
Nhóm thứ hai, những vấn đề cần phải chứng minh nhằm xác định mức
độ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, trách nhiệm hình sự. Cơ quan tiến
hành tố tụng có đầy đủ các chứng cứ để xác định:
- Những tình tiết định khung hình phạt tăng nặng, giảm nhẹ.
- Những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, những tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.
- Những tình tiết được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho
người phạm tội.
- Những tình tiết thuộc về đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo.

16


- Tính chất mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Nhóm thứ ba, những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ
án hình sự như: tung tích nạn nhân trong trường hợp nạn nhân chết, bị bệnh
tâm thần, trẻ nhỏ…; mối quan hệ giữa người làm chứng, người bị hại, bị can,
bị cáo…; mức độ nhận thức về hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện
phạm tội…; yêu cầu của những người tham gia tố tụng như người bị hại,
nguyên đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng cần lựa chọn tất cả những gì là
chứng cứ để chứng minh các vấn đề nêu trên trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự. Không có quy tắc để xác định cần có bao nhiêu chứng cứ để chứng
minh một tình tiết thuộc đối tượng chứng minh. Bởi bản thân mỗi chứng cứ
có khả năng chứng minh làm sáng tỏ ở những mức độ khác nhau về những
tình tiết của vụ án và tùy thuộc vào tình hình cụ thể của từng vụ án mà cần có
thêm những chứng cứ gì để làm sáng tỏ một tình tiết thuộc vấn đề cần phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status