SKKN nâng cao chất lượng phân môn luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 trường tiểu học bàu năng b bằng phương pháp tổ chức trò chơi - Pdf 34

I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tiếng Việt là môn học có vai trò rất quan trọng đối với học sinh, nhất là học
sinh bậc Tiểu học. Môn Tiếng Việt cung cấp kiến thức và trau dồi ngôn ngữ cho
học sinh, tạo điều kiện cho các em học tốt các môn khác. Bậc Tiểu học, ở lớp 2
học sinh mới làm quen với phân môn Luyện từ và câu nên các em còn bỡ ngỡ.
Đầu năm học, các em không biết luyện từ và câu là gì, học như thế nào. Luyện
từ và câu vừa hình thành, khai thác, cung cấp về từ ngữ vừa kết hợp với việc
cung cấp các kiến thức về câu. Các kiến thức về từ và câu không dạy riêng lẻ,
tách biệt nhau mà chúng đồng hành hỗ trợ qua lại cho nhau giúp cho việc dạy và
học môn Tiếng Việt đảm bảo tính chặt chẽ, lôgic. Vì vậy, muốn các em học tốt
phân môn này để làm nền tảng cho những lớp trên của bậc Tiểu học, trước hết
giáo viên cần rèn cho các em những kĩ năng cơ bản trong quá trình học, đồng
thời cũng rèn cho các em các kỹ năng dùng từ đặt câu, mở rộng vốn từ để làm cơ
sở cho việc học phân môn Tập làm văn và các môn học khác.
Qua dự giờ thăm lớp và thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy nhiều học
sinh nắm kiến thức về từ và câu chưa chắc chắn, một số em chỉ nắm kiến thức
mang tính tức thời, dễ nhớ, mau quên, trong giờ học còn lơ là, chưa tập trung, kĩ
năng dùng từ chưa chính xác, đặt câu chưa đúng theo mẫu, lời văn chưa hay, ý
chưa phong phú. Một số em rất sợ khi học đến phân môn này.
Đối với môn Tiếng Việt, ở lớp Một các em chỉ chú trọng đến đọc đúng, viết
đúng. Sang lớp Hai các em phải học nhiều phân môn hơn, Luyện từ và câu lại là
phân môn khó, làm thế nào để thu hút học sinh học tập ? Làm thế nào để học
sinh không cảm thấy bỡ ngỡ, sợ sệt khi học Luyện từ và câu ?
Trò chơi học tập môn Tiếng Việt nhằm tạo điều kiện cho các em thực hành,
rèn luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết đồng thời tiếp thu bài học một cách
nhẹ nhàng, tự giác và sáng tạo. Tham gia vào các trò chơi học tập, học sinh còn
được rèn luyện phát triển cả về thể lực và nhân cách, đáp ứng yêu cầu của môn
học.
Đặc biệt trò chơi học tập được áp dụng nhiều nhất ở phân môn Luyện từ và
câu, là hình thức tổ chức dạy học gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp học
sinh thoải mái học tập, tạo không khí sôi nổi, làm cho các em thấy gần gũi với

* Đối với giáo viên:
Khi dạy, giáo viên thường cung cấp sẵn kiến thức cho học sinh, chú trọng
nhiều đến yêu cầu của chương trình chứ chưa chú trọng nhiều đến phương pháp
dạy học cho học sinh, chưa giúp cho các em tự suy nghĩ và sáng tạo vì sợ mất
thời gian, thường bằng lòng với kết quả học sinh tìm được, chưa chú ý mở rộng
vốn từ cho học sinh giúp các em có nhiều vốn từ hơn, đặt câu hay hơn, phong

2


phú hơn. Kết quả là học sinh chưa làm quen với sự tư duy, sáng tạo trong cách
nghĩ, cách làm .
Trong thực tế, giáo viên thường tổ chức trò chơi để củng cố kiến thức, kỹ
năng chứ chưa mạnh dạn tổ chức cho học sinh trò chơi để hình thành kiến thức,
kỹ năng mới. Mặc khác, giáo viên ngại phải đầu tư, suy nghĩ và mạo hiểm vì
muốn tổ chức trò chơi phải có nhiều đồ dùng dạy học và mất nhiều thời gian
hoặc nếu làm không tốt sẽ làm mất trật tự trong giờ học khiến hiệu quả tiết dạy
không cao.
* Đối với học sinh:
- Học sinh còn bỡ ngỡ khi học phân môn này, các em chưa có hứng thú và
tâm thế để học tập.
- Phần mở rộng vốn từ học sinh tìm từ rất ít, chỉ một đến hai từ, đặt câu chủ
yếu dựa vào câu mẫu của giáo viên, các em chưa biết tự suy nghĩ để tìm ra câu
mới.
- Khả năng tiếp thu bài của học sinh còn chậm.
Để làm thay đổi hiện trạng trên, đề tài nghiên cứu này chú trọng đến
phương pháp tổ chức trò chơi học tập khi dạy Luyện từ và câu cho học sinh. Sử
dụng phương pháp tổ chức trò chơi không những ở phần củng cố kiến thức, kĩ
năng mà còn áp dụng vào phần truyền thụ kiến thức mới giúp các em tiếp thu
bài học một cách nhẹ nhàng, thoải mái, tích cực hơn và hiệu quả hơn.

nghiệm).
+ Cô Nguyễn Thị Thu Thích-giáo viên dạy lớp 2D (phụ trách lớp đối
chứng).
- Học sinh: Chọn hai lớp 2C (26 học sinh) - lớp chúng tôi đang giảng dạy
và 2D (25 học sinh) tham gia nghiên cứu vì hai lớp này có điểm tương đồng
nhau về tỉ lệ giới tính, dân tộc và thành tích học tập của năm học trước (năm học
2013-2014). Về ý thức học tập: tất cả các em đều tích cực, chủ động học tập.
Bảng 1: Bảng tương quan giữa hai nhóm:
Các
thông
tin
2C
2D

Học sinh các nhóm
TS
26
25

NỮ
15
13

Hạnh

Học lực

DT KINH GIỎI KHÁ
26
15

6,67

Điểm trung bình
Kiểm chứng T- test

Lớp 2C (thực nghiệm)
6,71

P = 0,46 > 0,05

độc lập P

Do P = 0,46 > 0,05 nên từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình
của hai lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trước tác động là không có ý nghĩa,
hai lớp được coi là tương đương.
Bảng 3: Bảng thiết kế nghiên cứu trước tác động và sau tác động đối
với các lớp tương đương:

Lớp

KT trước tác
động

Thực
nghiệm (lớp

(lớp 2D)

KT sau tác
động

+ Giáo viên tiến hành tham khảo tài liệu, nghiên cứu một số trò chơi có thể
áp dụng vào các bài tập trong các tiết Luyện từ và câu.
+ Chuẩn bị kĩ các đồ dùng dạy học liên quan đến bài dạy.

5


+ Giáo viên nắm vững yêu cầu bài tập, các bước thực hiện trò chơi để phổ
biến đến học sinh.
- Cô Thích dạy lớp đối chứng: Thiết kế bài dạy không có sử dụng phương
pháp tổ chức trò chơi học tập đối với lớp đối chứng, quy trình chuẩn bị bài dạy như
bình thường.
3.2. Tiến hành dạy thực nghiệm:
Thời gian dạy thực nghiệm được tiến hành theo kế hoạch của giáo viên và
dựa theo thời khóa biểu của nhà trường để đảm bảo tính khách quan, cụ thể:
Bảng 4: Thời gian dạy thực nghiệm
Tiết
Ngày dạy

Lớp

theo

Bài học

Bài tập

PPCT
06/11/2014


2C

25

Từ ngữ về tình cảm. Dấu Bài tập 1, 2 sgk
phẩy
Từ ngữ về công việc gia

trang 99
Bài tập 1 sgk

đình. Kiểu câu Ai làm gì ?
Từ chỉ đặc điểm. Kiểu câu

trang 108
Bài tập 2 sgk

Ai thế nào ?
Từ chỉ tính chất. Kiểu câu

trang 122
Bài tập 3 sgk

Ai thế nào ?
Mở rộng vốn từ. Từ ngữ về

trang 132
Bài tập 1sgk

vật nuôi.

và lớp đối chứng. Các câu hỏi có phản ánh các vấn đề của đề tài nghiên cứu:
Các câu hỏi luyện từ và câu có mở rộng vốn từ và đặt câu theo mẫu, tìm từ có
liên quan đến việc tổ chức trò chơi.
- Về kết quả: Lớp thực nghiệm có điểm trung bình là 8,13. Lớp đối chứng
có điểm trung bình là 6,82 thấp hơn lớp thực nghiệm là 1,31. Điều đó cho thấy
lớp thực nghiệm có sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi trong dạy học nên có kết
quả cao hơn.
4.4. Kiểm chứng độ tin cậy:
Bài kiểm tra trước tác động do chúng tôi tự thiết kế. Chúng tôi tiến hành
kiểm tra độ tin cậy bằng công thức Spearman- Brown kết quả như sau:
Trước tác động: Nhóm đối chứng: r SB = 0,78, nhóm thực nghiệm: r SB =
0,71> 0,7 là dữ liệu đáng tin cậy.

7


Sau tác động: Nhóm đối chứng: rSB = 0,71, nhóm thực nghiệm: rSB = 0,76 >
0,7 là dữ liệu đáng tin cậy.

8


IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
1. Trình bày kết quả:
Trước tác động
Thực
Đối chứng
nghiệm
Giá trị
trung bình


P = 0,001
0,81

2. Phân tích dữ liệu:
* Kiểm chứng để xác định nhóm tương đương trước tác động:
Với kết quả P1 = 0,46 > 0,05 chứng tỏ sự chênh lệch điểm số trung bình
cộng trước tác động của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng là không có ý nghĩa
nên có khả năng xảy ra ngẫu nhiên. Hai nhóm được coi là tương đương.
* Phân tích dữ liệu và kết quả sau tác động:
Với kết quả P2 = 0,001 < 0,05 chứng tỏ sự chênh lệch giữa điểm trung bình
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng là rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả
điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng là không ngẫu
nhiên mà do kết quả của tác động.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD =

8,13 − 6,82
= 0,81. Điều đó cho
1,61

thấy mức độ ảnh hưởng của việc dạy học luyện từ và câu có sử dụng phương
pháp tổ chức trò chơi học tập đến kết quả học tập của học sinh là lớn.

9


Giả thuyết của đề tài: “Nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu cho
học sinh lớp 2 trường Tiểu học Bàu Năng B bằng phương pháp tổ chức trò chơi”
đã được kiểm chứng.
Biểu đồ so sánh kết quả điểm trung bình giữa hai lớp trước tác động và sau tác



V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Việc sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học luyện từ
và câu cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học Bàu Năng B đã nâng cao kết quả học
tập môn Tiếng Việt một cách rõ rệt.
Học sinh biết tìm từ đặt câu, mở rộng vốn từ phong phú hơn, học sinh
không còn khó khăn khi tìm từ, đặt câu, từ đó các em càng tự tin hơn trong học
tập và đặc biệt là các em say mê khi học Tiếng Việt.
Sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi học tập giúp học sinh phát triển tư
duy, rèn các kỹ năng: giao tiếp, xử lý tình huống, ứng phó, thao tác, phản xạ
nhanh.
Sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi học tập giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp
tác, chia sẻ; tính trung thực trong thi đua học tập. Tạo môi trường và không khí học
tập vui tươi, thân thiện.
* Để giúp học sinh vận dụng tốt phương pháp này giáo viên cần phải:
- Bước 1: Giới thiệu tên, mục đích của trò chơi.
- Bước 2: Hướng dẫn chơi. Bước này bao gồm những việc sau:
+ Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia
(mấy đội chơi), quản trò, trọng tài.
+ Các dụng cụ dùng để chơi (giấy khổ to, quân bài, thẻ từ, cờ…).
+ Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời
gian chơi, những điều người chơi không được làm….
+ Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, các giải của cuộc chơi
(nếu có).

12



ĐỀ KIỂM TRA TRƯỚC TÁC ĐỘNG
Câu 1. (1,5 điểm):
Tìm 3 từ chỉ hoạt động của học sinh.
Câu 2. (1 điểm): Sắp xếp lại các từ trong câu sau để tạo thành 2 câu mới:
Thu là bạn thân nhất của em.
Câu 3. (0,5 điểm): Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng:
Các từ chỉ sự vật là:
a) Cô giáo, học trò, quý mến.
b) Bảng, sách, xanh.
c) Phượng vĩ, cô giáo, thước kẻ.
Câu 4. (2 điểm): Đặt dấu câu thích hợp vào câu sau và viết lại cho đúng
chính tả:
Trời mưa to Hòa quên mang áo mưa Lan rủ bạn đi chung áo mưa với
mình đôi bạn vui vẻ về nhà.
Câu 5. (1 điểm): Đặt câu hỏi cho bộ phận câu được gạch chân sau:
Em là học sinh lớp Hai.
Câu 6. (1 điểm): Đặt một câu theo mẫu Ai là gì ?
Câu 7. (1 điểm): Điền từ thích hợp vào chỗ chấm:
Cô …….chúng em chăm học.
Câu 8. (2 điểm): Tìm 4 từ chỉ hoạt động của người, sự vật trong bài “Làm
việc thật là vui”.
…..…………………………….Hết………………..………………

14


HƯỚNG DẪN CHẤM KIỂM TRA TRƯỚC TÁC ĐỘNG
Câu 1. (1,5 điểm): Học sinh tìm được mỗi từ chỉ hoạt động đạt 0,5 điểm,
tìm được 3 từ đúng đạt 1,5 điểm.
Câu 2. (1 điểm): Học sinh sắp xếp lại các từ trong câu sau để tạo thành 2

…..…………………………….Hết………………..………………

16


PHỤ LỤC 2
ĐỀ KIỂM TRA SAU TÁC ĐỘNG
Câu 1. (1 điểm):
Tìm 2 từ chỉ đặc điểm về tính tình của một người.
Câu 2. (1 điểm):
Nói lời đáp của em khi chị bảo em nhặt rau giúp chị nhưng em chưa
làm xong bài tập.
Câu 3. (1 điểm): Đặt câu hỏi cho bộ phận câu được gạch chân sau:
Những đêm trăng sáng, dòng sông trở thành một đường trăng lung linh
dát vàng.
Câu 4. (2 điểm): Chép lại đoạn văn dưới đây cho đúng chính tả sau khi
thay ô trống bằng dấu chấm hoặc dấu phẩy:
Ngày xưa có đôi bạn là Diệc và Cò  chúng thường cùng ở  cùng ăn,
cùng làm việc và đi chơi cùng nhau  hai bạn gắn bó với nhau như hình với
bóng.
Câu 5. (1 điểm): Tìm 4 từ có tiếng “biển”.
Câu 6. (1 điểm): Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng:
Câu hỏi được dùng để đặt câu cho bộ phận gạch chân trong câu “Chúng
khoan khoái đớp bóng nước mưa.” là:
a) Vì sao ?
b) Như thế nào ?

17



Câu 8. (2 điểm): Học sinh tìm được mỗi từ chỉ đặc điểm trong câu đạt 0,5
điểm.
* Gợi ý: vàng tươi, sáng trưng, xanh mát…
…..…………………………….Hết………………..………………

19


PHỤ LỤC 3
KẾ HOẠCH DẠY HỌC
(KHÔNG CÓ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI)
TỪ NGỮ VỀ TÌNH CẢM. DẤU PHẨY
I. MỤC TIÊU:
- Kiến thức: Học sinh biết ghép tiếng thành câu.
- Kĩ năng:
+ Học sinh biết ghép tiếng thành từ theo mẫu để tạo thành các từ chỉ tình
cảm gia đình, biết dùng một số từ tìm được để điền vào chỗ trống trong câu.

20


+ Học sinh nói được 2 đến 3 câu về hoạt động của mẹ và con được vẽ trong
tranh.
+ Học sinh biết đặt dấu phẩy vào chỗ hợp lí.
- Thái độ: Học sinh biết yêu thương cha mẹ.
- GDMT: Giáo dục học sinh tình cảm yêu thương, gắn bó với gia đình.
II. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
1. Hoạt động 1: HS làm bài tập.
* Bài tập 1: Ghép các tiếng sau thành những từ có hai tiếng: yêu, thương,
quý, mến, kính.

được vẽ trong tranh.
- Học sinh quan sát tranh thảo luận nhóm đôi dựa vào câu hỏi gợi ý của
giáo viên như:
+ Tranh vẽ gì ?
+ Trên tay mẹ có gì ?
- Hết thời gian thảo luận giáo viên gọi đại diện một số học sinh trình bày
kết quả.
- Ví dụ: Bạn gái đưa cho mẹ xem một bài kiểm tra có ghi điểm 10 đỏ chói.
Mẹ một tay ôm em bé trong lòng và tay kia cầm bài kiểm tra của bạn mẹ khen:
“Con gái mẹ giỏi lắm!” Cả hai mẹ con đều rất vui.
- Nhận xét bạn nêu hay, đủ ý.
* Bài tập 4: Có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong những câu sau:
(hs đọc yêu cầu)
a/ Chăn màn quần áo được xếp gọn gàng.
b/ Giường tủ được kê ngay ngắn.
c/ Giày dép mũ nón được để đúng chỗ.
- Mục tiêu: Học sinh biết đặt dấu phẩy vào chỗ hợp lí trong câu.
- Bài tập yêu cầu ta làm gì ? ( đặt dấu phẩy vào chỗ hợp lí trong câu)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh làm mẫu câu a. (ta có thể đặt dấu phẩy vào
những chỗ nào trong câu, có thể học sinh nêu nhiều ý kiến khác nhau)
- Giáo viên chốt ý câu a/ Chăn màn, quần áo, được xếp gọn gàng.
- Tương tự học sinh làm câu b, c vào vở.
- Giáo viên nhận xét, sửa bài.
2. Hoạt động nối tiếp: Củng cố, dặn dò.
3. Rút kinh nghiệm:

22


……………………………………………………………………………………

1. Hoạt động 1: Trò chơi “Thi ghép tiếng thành từ ”

24


* Bài tập 1: Ghép các tiếng sau thành những từ có hai tiếng: yêu, thương,
quý, mến, kính.
Mục tiêu: Học sinh biết ghép tiếng theo mẫu để tạo các từ chỉ tình cảm gia đình.
- Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng.
- Rèn khả năng nhận ra từ, rèn tác phong nhanh nhẹn.
Tiến hành:
- Giáo viên gọi 2 học sinh đọc yêu cầu bài tập (học sinh đọc).
- Giáo viên hỏi: bài tập yêu cầu gì ? (yêu cầu ghép các tiếng cho sẵn thành
từ có hai tiếng có nghĩa)
- Giáo viên tổ chức cho học sinh trò chơi học tập.
+ Giáo viên chuẩn bị sẵn 4 bộ quân bài ghi tiếng (đủ cho số nhóm học sinh
tham gia thi); mỗi quân bài có kích thước khoảng 5cm x 15cm. Mỗi bộ gồm 24
quân ghi các tiếng sau: yêu (8 quân); thương (4 quân); quý (3 quân); mến (6
quân); kính (3 quân).
+ Băng dính để ghép 2 quân bài ghi tiếng thành một từ (2 tiếng).
- Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm (hai nhóm 6 học sinh, hai nhóm 7 học
sinh) giáo viên phát cho mỗi nhóm 1 bộ quân bài.
- Giáo viên giới thiệu tên trò chơi, nêu thể lệ cuộc chơi, hướng dẫn học sinh
nắm cách thực hiện trò chơi:
+ Mỗi nhóm có 1 bộ quân bài ghi các tiếng dùng để ghép thành các từ có 2
tiếng, các nhóm dùng bộ quân bài để ghép từ (xếp lên mặt bàn, hoặc dùng băng
dính để ghép 2 quân bài ghi tiếng lại để thành 1 từ, ví dụ: yêu mến, quý mến).
+ Các nhóm xếp các từ trong thời gian 3 phút, hết thời gian các nhóm dừng
lại; nhóm nào xếp được nhiều từ chính xác thì nhóm đó thắng cuộc.
- Giáo viên trao các bộ bài cho các nhóm thi ghép từ; phát lệnh ''bắt đầu''.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status