BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp 1A
trường Tiểu học Bến Củi.
Họ và tên: Ngô Thị Mộng Tuyết
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Bến Củi, xã Bến Củi, huyện Dương
Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
1. Lí do chọn đề tài:
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy và chủ nhiệm lớp Một, tôi nhận thấy
việc rèn nền nếp học tập song song với việc rèn năng lực và phẩm chất cho học
sinh sẽ mang lại hiệu quả giảng dạy cao nhất, vừa làm nền tảng cho những năm
học sau. Tìm giải pháp thực hiện tốt công việc này là trách nhiệm mà bản thân
tôi cần thực hiện. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
chủ nhiệm lớp 1A trường Tiểu học Bến Củi”.
2. Đối tượng nghiên cứu:
- Giải pháp giúp học sinh lớp 1A học tập và rèn luyện tốt.
- Học sinh lớp 1A trường Tiểu học Bến Củi.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu: Tham khảo các tài liệu liên quan đến công tác chủ
nhiệm lớp.
- Điều tra: dự giờ, đàm thoại, kiểm tra.
4. Phạm vi nghiên cứu:
- Nhiệm vụ giáo viên chủ nhiệm lớp.
- Thời gian từ đầu năm học cho đến cuối học kỳ I năm học 2014-2015.
5. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Các hình thức, phương pháp dạy học, các giải pháp rèn luyện phù hợp
với tâm sinh lí của học sinh, làm cho tiết học sinh động nhằm tạo hứng thú học
tập của các em. Từ việc rèn nền nếp học tập tốt, trau dồi cho học sinh kiến thức
bài học, tôi còn chú ý đến việc giáo dục thẩm mĩ, giáo dục tình cảm, phát triển
tư duy cho học sinh.
1
nhất là giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp. Giáo viên hiểu được trẻ em đối
với gia đình và xã hội “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” như Bác Hồ nói:
2
Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan.
Giúp trẻ thực hiện tốt theo lời Bác nói thì đó là công việc của giáo viên
chủ nhiệm lớp. Học sinh lớp Một là học sinh lớp đầu cấp của bậc tiểu học, với
đặc điểm tâm lí đang phát triển và dần hoàn thiện. Trẻ chuyển từ hoạt động vui
chơi đến hoạt động học tập (hoạt động chủ đạo). Các em chưa quen với môi
trường có những điều mới lạ của lớp học, nơi có những quy định mà trẻ chưa
quen. Các em bước đầu làm quen với môi trường học tập mới, mọi cái đối với
các em còn nhiều mới lạ và bỡ ngỡ; từ môi trường, nội dung, hình thức lẫn
phương pháp học tập. Để các em học tập tốt, rèn luyện tốt và tham gia các hoạt
động của nhà trường đề ra, đó là nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp.
Giáo viên chủ nhiệm phải là người góp phần phát triển năng lực của con người
Việt Nam trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chính vì thế, bản thân tôi
giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm lớp 1A, tôi cần phải xây dựng, ổn định nền
nếp lớp, rèn các em một số kĩ năng cơ bản, để học sinh không chỉ hoàn thành
các kiến thức, kĩ năng cơ bản ở các môn học mà các em phải đạt về năng lực và
phẩm chất.
Vì vậy, tôi lựa chọn, tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp 1A trường Tiểu học Bến Củi”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Với vai trò, trách nhiệm của một giáo viên trực tiếp giảng dạy và chủ
nhiệm lớp, nghiên cứu đề tài này giúp tôi hiểu hơn về tâm lí của các em. Từ đó,
có hình thức, phương pháp dạy học, giải pháp rèn luyện các em để các em học
tập tốt và có năng lực, phẩm chất tốt.
3. Đối tượng nghiên cứu:
4
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục học sinh, ngành Giáo
dục và Đào tạo đã ban hành nhiều công văn chỉ đạo:
- Quyết định số 16/2006/QĐ - BGD&ĐT ngày 05 tháng 05 năm 2006 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục ban hành hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức kĩ năng
các môn học.
- Công văn số 5842/BGD&ĐT hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung
dạy học các môn học cấp Tiểu học.
- Thông tư 30/2014/TT - BGD&ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 do Bộ
trưởng Bộ Giáo dục ban hành quy định đánh giá học sinh Tiểu học.
- Điều lệ trường Tiểu học.
Văn kiện Hội Nghị Trung ương lần IV khóa VII của Đảng Cộng Sản Việt
Nam có viết: “Đào tạo nên những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có
kĩ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kĩ thuật, giàu lòng yêu
nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, nhân ái, sống lành mạnh đáp ứng yêu cầu phát triển
của đất nước”. Để có một thế hệ trẻ phát triển toàn diện như thế thì mỗi con
người đều được học tập. Ở bậc học tiểu học, các môn học được đan xen nhau, hỗ
trợ nhau nhằm thực hiện tốt mục đích, yêu cầu của Ngành giáo dục. Theo
chương trình đổi mới toàn diện giáo dục hiện nay, nhiệm vụ của giáo viên chủ
nhiệm là rất quan trọng. Nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp là phải
thực hiện nhằm thay mặt Hiệu trưởng quản lí quá trình giáo dục toàn diện một
lớp học, người giáo viên chủ nhiệm phải làm tất cả những công việc để phối hợp
và tổ chức tốt việc khai thác tiềm năng trong và ngoài nhà trường nhằm thực
hiện mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh một lớp học (Tài liệu bồi dưỡng
thường xuyên). Vì thế, giáo viên chủ nhiệm lớp không những trang bị cho các
em kiến thức các môn học mà còn bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ
từng đối tượng học sinh. Từ đó giúp học sinh tích cực, chủ động học tập và rèn
luyện, nhằm nâng cao chất lượng qua mỗi tiết học. Bên cạnh đó, tôi thường
xuyên gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các em
học tập và tham gia các hoạt động trong nhà trường.
3. Nội dung vấn đề:
3.1. Vấn đề đặt ra:
6
Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp là thay mặt Hiệu trưởng quản lí
quá trình giáo dục toàn diện một lớp học. Xây dựng, ổn định nền nếp lớp học và
giúp các em tích cực tham gia các hoạt động là công việc giáo dục học sinh của
giáo viên chủ nhiệm lớp. Nhiệm vụ quan trọng của nó là rèn học sinh có thói
quen, kĩ năng hỗ trợ tốt cho việc học tập. Muốn vậy, giáo viên cần trang bị cho
mình những kiến thức về tâm lí, giáo dục học lứa tuổi Tiểu học.
Trong quá trình làm công tác chủ nhiệm, giáo viên dễ gặp các tình huống
sư phạm phong phú, muôn hình, muôn vẻ đòi hỏi sự nhanh trí, linh hoạt, giải
quyết vấn đề phù hợp với từng đối tượng học sinh, từng hoàn cảnh, mới hy vọng
đạt hiệu quả trong giáo dục.
Cùng một tình huống sư phạm, nhưng có thể có nhiều cách xử lí khác
nhau. Điều đó phụ thuộc vào từng đối tượng, từng hoàn cảnh cụ thể cũng như
từng chủ thể giải quyết nó. Có câu tục nhữ nói: “Một người kém mà được dạy
dỗ thành đạt hơn một người thông minh bị bỏ rơi.” (Tục ngữ Tây Ban Nha)
Những trường hợp thường gặp trên lớp: học sinh đi học muộn, ăn quà vặt
trong lớp; nói chuyện, làm việc riêng; nói leo ngắt lời nói của cô, của bạn; chưa
biết lắng nghe, chuyện gì cũng mách với cô,… Nề nếp như thế thì không thể tiếp
thu tốt bài học.
Từ những khó khăn trên, bản thân tôi có các giải pháp để các em đi vào
nền nếp.
3.2. Giải pháp chứng minh vấn đề cần giải quyết:
học sinh. Giáo viên phối hợp với phụ huynh học sinh có phương pháp giáo dục
tốt nhất. Giáo viên yêu cầu phụ huynh phải thường xuyên quan tâm đến việc học
tập của con em mình, dành thời gian hướng dẫn trẻ học bài. Sự quan tâm của
phụ huynh đối với việc học của các em là rất quan trọng. Từ khả năng thực
hành, luyện tập, thái độ học tập của các em mà giáo viên có hình thức giảng dạy
và giáo dục phù hợp với từng đối tượng học sinh.
b) Chuẩn bị tâm thế để các em vào lớp 1:
Ngay từ khi nhận lớp đầu năm, giáo viên hướng dẫn trẻ tâm thế để học:
- Chào thầy cô khi thầy cô bước vào lớp:
Vào lớp 1 là môi trường học tập mới của trẻ, trước hết giáo viên hướng
dẫn các em phải biết chào thầy cô khi thầy cô bước vào lớp:
8
Ví dụ: Khi cô bước vào lớp, lớp trưởng hô to “Các bạn nghiêm”. Cả lớp
phải đứng dậy ở tư thế đứng nghiêm và nói: “Chúng em chào cô ạ !” (nếu đang
làm việc gì đó cũng ngưng lại, không nói chuyện riêng). Khi nghe hiệu lệnh của
cô: “Cô chào các em, các em ngồi xuống”. Cả lớp thôi chào và ngồi xuống
nghiêm túc. Cho lớp thực hành chào nhiều lần như thế để các em quen dần và
trở thành thói quen.
Nếu khi giáo viên bước vào lớp, cả lớp đều chào cô nhưng duy nhất có
một em không đứng dậy, em cứ bình thản ngồi tại chỗ. Trước tình huống đó,
giáo viên cần xuống tận nơi em đó ngồi và hỏi lí do. Sau đó, nhắc nhở em lần
sau cần thực hiện tốt.
- Cách đưa tay khi muốn phát biểu ý kiến: Khi học sinh muốn phát biểu ý
kiến, giáo viên hướng dẫn các em: đưa tay bằng tay trái, khuỷu tay đặt xuống
bàn, thầy cô gọi đến tên mình thì được phép đứng lên trình bày ý kiến, chữ đầu
câu phải có “thưa cô” hoặc “thưa thầy” và nói trọn câu.
Ví dụ: Giáo viên hỏi: Em là học sinh lớp mấy ?
mới, giáo viên chủ nhiệm cùng cả lớp tiến hành bầu cán sự của lớp: lớp trưởng,
lớp phó, các tổ trưởng, các tổ phó. Ở lớp 1, các em thiếu kinh nghiệm sống
nhưng lại có nhu cầu được chia sẻ, giàu cảm xúc,… Vì vậy, chọn đội ngũ tự
quản chọn những em cởi mở, biết nhường nhịn, biết lắng nghe, biết quan tâm
giúp đỡ bạn bè, biết thuyết phục bạn bè… làm đội ngũ tự quản lớp.
c) Triển khai nội quy:
Vào đầu năm học mới, giáo viên nêu những nội quy, quy định trong nhà
trường, lớp học và nhắc nhở thường xuyên trong tiết sinh hoạt lớp, yêu cầu các
em phải thực hiện tốt các điều sau:
Điều 1: Đi học đều, đúng giờ, nghỉ học phải xin phép, thuộc và làm bài
đầy đủ trước khi đến lớp.
Điều 2: Giữ trật tự trong giờ học, hăng hái phát biểu ý kiến, không quay
cóp bài khi làm bài kểm tra, không nhắc bài cho bạn, không chép bài của bạn.
Điều 3: Tham gia đầy đủ và làm tốt nhiệm vụ trực nhật, hằng ngày làm vệ
sinh trường lớp, chăm sóc cây kiểng theo khu vực được phân công, có ý thức
bảo vệ của công như bàn ghế, cây kiểng, không vẽ bậy lên tường, bàn ghế,...
Điều 4: Tập trung đúng hiệu lệnh trống, xếp hàng ngay ngắn, trật tự mỗi
buổi sinh hoạt, tập thể dục, ra vào lớp đúng vị trí.
10
Điều 5: Luôn giữ gìn thân thể, áo quần sạch sẽ, đi tiêu, đi tiểu và bỏ rác
đúng nơi quy định.
Điều 6: Tham gia đầy đủ các hoạt động do Liên Đội tổ chức.
Điều 7: Kính trọng, lễ phép, vâng lời thầy giáo, cô giáo, nhân viên nhà
trường và người lớn tuổi.
Điều 8: Đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ bạn bè; không nói tục, chửi thề,
không bắt nạt, đánh bạn; không lấy cắp của bạn; nhặt của rơi phải báo cho nhà
trường, thầy cô để trả lại cho người mất.
Điều 9: Sử dụng xe đạp đi đến trường phải xếp xe đúng nơi quy định,
Trong giờ học, các em đem bánh ra ăn. Giáo viên nhắc nhở các em không
nên ăn trong giờ học, chỉ được ăn vào giờ ra chơi, nếu có trường hợp ăn vụn
trong giờ học, giáo viên cất thức ăn vào tủ, giờ ra chơi phát ra cho em đó.
* Nói chuyện, làm việc riêng và đùa nghịch:
Việc nói chuyện, làm việc riêng và đùa nghịch trong giờ học thường phổ
biến trong các lớp học nhất là học sinh lớp Một.
Ví dụ: Trong giờ học, khi cô đang giảng bài, ở dưới lớp một số em nói
chuyện riêng, cô giáo đã nhắc một, hai lần nhưng tình trạng đó vẫn như vậy. Lúc
này, giáo viên dừng giảng bài và gọi học sinh đang nói chuyện nhắc lại ý cô vừa
giảng. Dù em đó có nói được hay không, giáo viên vẫn nhắc nhở chung cả lớp
giữ trật tự và chú ý nghe cô giảng và tiếp tục giảng bài.
Có trường hợp, giáo viên đang đọc mẫu bài tập đọc, phát hiện 2 em Linh
và Nghĩa đang nói chuyện riêng. Giáo viên nhìn về phía 2 em tỏ ý nhắc nhở và
tiếp tục đọc bài. Hai em đó cố tình không hiểu ý cô. Cô dừng đọc và gọi 1 trong
2 em đứng lên.
- Linh ? Tại sao em nói chuyện riêng trong giờ học ?
- Thưa cô ! em có nói chuyện đâu ? Em nhắc bạn đừng nói chuyện riêng
đấy chứ !
- Nếu đúng là em Linh nhắc bạn không nói chuyện nữa thì cô khen em có
ý thức tốt. Nhưng bạn thường không thể nói chuyện một mình được.
Sau đó, giáo viên nhắc nhở 2 em không nói chuyện riêng chú ý vào bài và
cuối buổi học gặp cô để không làm ảnh hưởng đến giờ học cả lớp.
Có em giờ học môn này lại mang môn khác ra làm:
12
+ Hà là một học sinh không những học khá mà giỏi về môn vẽ. Một lần
trong tiết học môn Tiếng việt, em đã lấy giấy ra vẽ tranh và khi em đặt lên bàn
ngắm nghía thì cô giáo phát hiện. Ở tình huống trên, giáo viên xuống chỗ em Hà
nhân do sức khoẻ hay do hoàn cảnh nhà em. Sau đó, cô cùng một số em học giỏi
trong lớp giúp đỡ riêng em, theo dõi và động viên từng sự tiến bộ nhỏ của em.
Trong lớp có em ngồi đầu bàn ngay cửa ra vào không chú ý vào bài học
hay nhìn ra ngoài sân trường. Giáo viên nhắc nhở nhưng em vẫn tái phạm, giáo
viên cần đổi chỗ ngồi cho em đó.
Bình thường trong những giờ dạy của cô, học sinh rất hăng hái phát biểu ý
kiến. Nhưng giờ học hôm nay có đoàn kiểm tra về dự giờ, mặc dù cô đã dặn dò
và chuẩn bị cho các em rất chu đáo. Vậy mà khi cô đặt câu hỏi, cả lớp không có
ai giơ tay, kể cả câu hỏi dễ nhất.
Trước tình huống đó, giáo viên nên giải thích luôn và sau giờ học cô gặp
cả lớp để tìm nguyên nhân. Từ đó rút kinh nghiệm trong phương pháp sư phạm
của mình.
Bên cạnh đó, có em chậm chạp không nhanh nhẹn, giáo viên cần hướng
dẫn riêng, có thể ban đầu em chưa làm kịp, giáo viên động viên, khen ngợi nếu
thấy em đó có chút tiến bộ. Có em rất thích phát biểu ý kiến. Ví dụ: Trong giờ
học, khi giáo viên đặt câu hỏi sẽ có nhiều học sinh đưa tay phát biểu ý kiến,
nhưng có em đưa tay nhiều lần nhưng không được gọi, có em có vẻ không vui,
nhiều khi còn bực tức. Cô giáo đã nhận ra điều đó. Gặp phải trường hợp trên,
giáo viên đặt câu hỏi khác và gọi em trả lời. Nếu em trả lời đúng thì cần khen
ngợi nhưng vẫn góp ý với em phải bình tĩnh, chờ đợi. Nếu em trả lời chưa đúng,
phân tích chỗ chưa đúng câu trả lời của em, đồng thời nhắc nhở em cần suy nghĩ
kỹ, không nên nôn nóng, phải biết chờ đợi.
Để xây dựng, ổn định và rèn nền nếp học tập học sinh lớp 1, giáo viên cần
nắm được những đặc điểm nhân cách của các em. Các em có tính hiếu động, hay
bướng bỉnh bất thường, thích ăn thì ăn, thích nói thì nói, hay phát biểu linh tinh
trong giờ học,… Trẻ dễ xúc cảm, xúc động, tình cảm của trẻ gắn liền với hành
động. Tình cảm tích cực không chỉ kích thích trẻ nhận thức mà còn thúc đẩy trẻ
hoạt động. Nhu cầu nhận thức giúp trẻ khắc phục khó khăn để tự chiếm lĩnh tri
thức. Cung cấp kiến thức cho học sinh phải chính xác, khoa học, đơn giản, dễ
hiểu, những kĩ năng, thói quen, hành vi giáo dục trẻ phải chuẩn xác. Chẳng hạn,
Để gây hứng thú trong giờ học, giáo viên cho học sinh học kết hợp trò chơi để
tiết học thêm sinh động. Trò chơi học tập trong dạy học nhằm mục đích hướng
vào việc củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho học sinh, đồng thời giúp học
15
sinh duy trì hứng thú học tập. Vì đặc điểm tâm lí của học sinh “học mà chơi,
chơi mà học”, khả năng tập trung chú ý chưa cao, ưa hoạt động, còn ham chơi
các trò chơi có tính tự do ngay trong giờ học...
Ngoài ra, đàm thoại là phương pháp phù hợp với tâm lí trẻ nhỏ, các em
thích hoạt động (ở đây là hoạt động lời nói), giúp học sinh tham gia tìm hiểu bài
một cách tự giác, chủ động. Giáo viên nắm được trình độ học sinh, lớp học sinh
động, góp phần phát triển lời nói.
Giáo viên đưa ra một hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài, cần hướng dẫn các
em bằng những câu hỏi đàm thoại dễ hiểu.
- Trí nhớ:
Lứa tuổi của các em là trí nhớ trực quan hình tượng, trí nhớ máy móc phát
triển mạnh hơn trí nhớ logic, cho nên học sinh lớp 1 có xu hướng học thuộc lòng
từng câu, từng chữ. Giáo viên phải có phương pháp không làm cho các em học
vẹt. Để rèn trí nhớ, giáo viên sử dụng phương pháp luyện tập. Luyện tập có ý
nghĩa lớn đối với sự phát triển tích cực và tính độc lập ở học sinh, giúp các em
hình thành được nhiều phẩm chất như tính kiên trì, ý thức khắc phục khó khăn.
Là phương pháp dùng chủ yếu, thường xuyên khi dạy.
Để phương pháp này không trở nên nhàm chán, giáo viên cần chú ý luyện
tập từ dễ đến khó.
Ví dụ: Khi dạy môn Tiếng việt về âm, vần thường xuyên ôn tập cho học
sinh nắm vững âm, vần; khi đọc bài chỉ bất kì chữ trong bài cho học sinh đọc rồi
sau đó cho các em đọc câu, đọc đoạn và cả bài.
Nếu trong giờ học, giáo viên đang giảng bài trên lớp và nhận thấy nhiều
học sinh ngồi một cách uể oải, mệt mỏi giáo viên cần cho lớp nghỉ giải lao, cả
+ Biết làm một số việc vừa sức, phù hợp với lứa tuổi như: dọn dẹp nhà
cửa, rửa chén, trông em bé, chăm sóc ông bà, bố mẹ, anh chị em khi ốm đau
hoặc khi cần thiết.
+ Biết tôn trọng mọi người, không làm phiền người khác.
- Với nhà trường:
+ Biết chào hỏi các thầy cô giáo trong trường.
+ Biết nghe và thực hiện những điều thầy cô dạy bảo.
+ Biết chia sẻ, giúp đỡ bạn bè và thầy cô khi cần thiết.
17
+ Biết hợp tác với bạn bè trong học tập và hoạt động tập thể, trong vui
chơi và cuộc sống hằng ngày.
+ Biết giữ vệ sinh cảnh quan lớp học, trường học.
- Với cộng đồng:
+ Biết chào hỏi, xưng hô phù hợp với mọi người xung quanh và ngoài xã
hội.
+ Cởi mở khi khách đến nhà.
+ Có hành vi văn hoá khi đến nhà người khác, khi nghe với nói điện thoại.
+ Sẵn lòng giúp đỡ hàng xóm, láng giềng khi cần thiết.
+ Biết giữ vệ sinh môi trường tại nơi ở.
- Với môi trường tự nhiên:
+ Có ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên.
+ Bảo vệ vật nuôi, cây trồng (không hái hoa, bẻ cành cây…).
+ Biết ngăn cản bạn bè, mọi người xung quanh khi có hành vi làm hại đến
môi trường.
* Để thực hiện tốt công tác chủ nhiệm lớp, giáo viên cần phải có:
- Trí: Không chỉ là kiến thức môn học mà giáo còn cần kiến thức nghệ
thuật giáo dục, về quản lí giáo dục, về các kiến thức khoa học xã hội, nhân văn
+ Nỗ lực học tập, rèn luyện thường xuyên
+ Tôn trọng các giá trị văn hoá
+ v.v…
Trong suốt quá trình giảng dạy, làm công tác chủ nhiệm lớp cũng như
nghiên cứu và áp dụng đề tài, tôi đã thực hiện như sau:
Kiểm tra và phân loại đối tượng học sinh: Đây là công việc đầu tiên của
mọi giáo viên muốn đạt được kết quả cao. Khi đó, giáo viên mới nắm được trình
độ, nhận thức, tâm lí của từng học sinh mà điều chỉnh phương pháp giảng dạy và
giáo dục cho phù hợp. Bên cạnh đó, giáo viên tạo điều kiện gần gũi, trò chuyện,
gợi mở thân thiện để các em mạnh dạn, tự tin.
Mặt khác, tôi đã rà soát khả năng tiếp thu, trình độ nhận thức của mỗi học
sinh, từ đó đề ra biện pháp thực hiện cho từng đối tượng học sinh như:
- Các em chậm các kĩ năng được chuyển lên ngồi bàn đầu để giáo viên dễ
dàng theo dõi và kịp thời uốn nắn giúp đỡ các em.
19
- Giáo viên giao việc cho học sinh khá, giỏi kèm bạn học yếu vào đầu
buổi học để các em biết giúp đỡ bạn trong học tập và cùng nhau tiến bộ.
Sự tự tin, tích cực, hứng thú học tập là điều kiện giúp tất cả trẻ em phát
triển bình thường đều thành công. Để tích cực hóa hoạt động học tập của học
sinh, cần có những phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi
của học sinh lớp Một, phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể.
Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm lớp còn giáo dục thẩm mĩ, giáo dục tình
cảm cho các em:
+ Giáo dục thẩm mĩ: là hướng các em tới cái đẹp, biết cảm nhận rung cảm
trước cái đẹp của cảnh vật; hành vi, cử chỉ đẹp của bạn... thông qua việc cho các
em tham gia các hoạt động vệ sinh lớp, chăm sóc hoa kiểng và các hoạt động do
Đội tổ chức như: Kế hoạch nhỏ, Nuôi heo đất, Hũ gạo tình thương, Tặng sách
Với những giải pháp trên, tôi đã rèn học sinh từ đầu năm học cho đến cuối
học kì I. Hiện tại, học sinh ít đi học muộn giờ, chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập,
lấy đồ dùng nhanh nhẹn, những giờ học có nền nếp, trật tự hơn. Các em ngồi
học đúng tư thế, ít nói chuyện riêng, không còn ăn quà bánh, mạnh dạn phát biểu
ý kiến, không nói leo, các em chú ý vào bài học hơn, không khí lớp học sinh
động, chất lượng học tập của học sinh có chuyển biến và tiết dạy đạt hiệu quả
hơn. Các em tích cực tham gia các phong trào, các hoạt động ở trường, hoạt
động sao nhi đồng. Lớp đã đạt giải nhất hoạt động tuần ở học kì I và đạt giải nhì
ở phong trào tặng sách truyện.
Sau đây là bảng so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện đề tài:
BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ
TRƯỚC VÀ SAU KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Các tiêu chí
Quên đồ dùng,
sách vở
Học kì I
Học kì I
Năm học 2013-2014
Năm học 2014-2015
(Chưa áp dụng)
Số
Tỉ lệ
học muộn
Ăn quà vặt
2/24
Nói chuyện, làm
việc riêng
Học không tập
trung chú ý
Nhút nhát, chậm
chạp
Không tham gia
các
hoạt
4/24
6/24
4/24
5/24
4/24
16.7
8.3
25.0
16.7
20.8
16.7
2
Giảm
17.9
4
Giảm
16.7
2/34
1/34
0/34
động,
2.9
4
phong trào
Trong quá trình công tác và thực hiện đề tài, tôi thường xuyên theo dõi,
bổ sung, thay đổi kịp thời các giải pháp để công tác giảng dạy và chủ nhiệm lớp
của mình ngày càng hoàn thiện hơn.
5. Phạm vi áp dụng:
Đề tài đang được áp dụng cho học sinh khối 1 trường Tiểu học Bến Củi và
đề tài có thể áp dụng cho các trường trong toàn huyện.
22
kết quả khả thi, được áp dụng trong trường Tiểu học Bến Củi và đề tài có thể áp
23
dụng cho các trường trong toàn huyện. Kết quả này đã động viên, khích lệ tôi
không ngừng cố gắng, tìm tòi, sáng tạo hoàn chỉnh đề tài cũng như trong việc
giảng dạy và giáo dục học sinh ngày càng tốt hơn.
Bến Củi, ngày
tháng
năm 2015
Người thực hiện
Ngô Thị Mộng Tuyết
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Sách tâm lí học lứa tuổi tiểu học
- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên mô đun 34 về Công tác chủ nhiệm lớp của
Bộ giáo dục và đào tạo
- Sách “Sự thông minh trong ứng xử sư phạm” (Nhà xuất bản thanh niên)
- Điều lệ trường Tiểu học của Bộ giáo dục và đào tạo
24
25