Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng vị trí
con người, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Văn
kiện hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 khoá VII đã nêu: "Con
người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần,
trong sáng về đạo đức là động lực xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của
xã hội. Vì vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước phải quán triệt về
chăm sóc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người".
Ngày nay "Muốn tién hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải
phát triển mạnh Giáo dục-Đào tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản
của sự phát triển nhanh và bền vững" (Nghị quyết TƯ II - khoá 8)
Đứng trước yêu cầuđó của cách mạng, Giáo dục - Đào tạo phải đào tạo
những con người tự chủ, năng động sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề
thường gặp , tự lo được việc làm, lập nghiệp và thăng tiến trong cuộc sống, qua đó
góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Thực hiện được nhiệm vụ, mục tiêu của giáo dục, không ai khác ngoài vai
trò của người thầy giáo, vì đó là lực lượng chủ chốt của ngành, đồng thời quyết
định sự thành bại của sự nghiệp giáo dục- đầo tạo. Bàn về vị trí, vai trò của người
thầy giáo trong sự nghiệp Giáo dục, nguyên thủ tướng Phạm Văn Đồng có nói:
"Thầy giáo là nhân vật trung tâm trong nhà trường, là người quyết định đào tạo nên
những con người mới xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy thầy giáo phải không ngừng
phấn đấu vươn lên, rèn luyện, tu dưỡng về mọi mặt, để thực sự xứng đáng là người
thầy giáo xã hội chủ nghĩa". Thủ tướng cũng chỉ rõ "Vấn đề lớn nhất trong giáo
dục của ta hiện nay là tạo điều kiện thuận lợi nhất để đội ngũ GV dần dần trở thành
một đội quân đủ năng lực, đủ tư cách làm tròn sứ mạng của mình. Chất lượng giáo
dục trước mắt và tương lai tuỳ thuộc vào đội ngũ này. Cho nên lo cho sự phát triển
về giáo dục thì khâu quan trọng bậc nhất là lo chất lượng đội ngũ giáo viên."
Đặc trưng hiện đại của mỗi nghề nghiệp là sự đòi hỏi người thực hành nghề
nghiệp luôn luôn thay đổi phương pháp và thói quen sử dụng phương tiên lao động
lý GV và quán triệt Nghị quyết của Đảng về giáo dục, các nhà quản lý giáo dục
cần đặc biệt quan tâm tới công tác bồi dưỡng GV và cần xem đó là một đòi hỏi cấp
bách cần được giải quyết.
Cần có sự nghiên cứu để tìm ra những giải pháp đúng đắn, góp phần giải
quyết những vướng mắc về chất lượng của đội ngũ GV tiểu học để nâng cao chất
lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phươngvới yêu cầu của tiểu luận cuối khoá lớp
trung học chính trị, bản thân được được qua thực tế quản lí Nhà nước về Giáo dục
- Đào tạo. Đề tài này được đề cập đến thực trạng và những giải pháp nâng cao hiệu
quả công tác bồi dưỡng GV ở trường Tiểu học Minh Tân - Kinh Môn - Hải Dương.
II. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng của công tác bồi
dưỡng GV tiểu học ở trường tiểu học Minh Tân để đề xuất một số biện pháp nhằm
nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội ngũ GV trong toàn trường.
III. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp bồi dưỡng đội ngũ GV tiểu học trường tiểu học Minh Tân.
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu và kinh nghiệm thực tiễn về công tác bồi dưỡng GV.
Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
2
Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
- Điều tra khảo sát, đánh giá thực trạng về công tác bồi dưỡng GV để có cơ
sở đề xuất biện pháp.
- Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng đội ngũ GV trường tiểu học Minh
Tân.
V. Phương pháp nghiên cứu:
1. Nghiên cứu tài liệu.
2. Điều tra khảo sát, thu thập và xử lí thông tin.
3. Tổng kết kinh nghiệm.
4. Trao đổi, đàm thoại, phỏng vấn (phương pháp bổ trợ).
VI. Phạm vi nghiên cứu:
1. Đào tạo:
Trước hết theo cách giải nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì "Đào tạo" là tổ
chức cho học tập để có khả năng làm những công việc, nghề nghiệp nhất địng.
Với quá trình đào tạo của người GV là quá trình được tiến hành ở các trường
sư phạm, với những thời gian nhất định , theo mục tiêu, chương trình, nội dung
chính thống của Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành. Cuối khoá học được cấp bằng
tốt nghiệp sư phạm.
Như vậy: Đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức, kĩ năng từ ban đầu,
đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ cho HS, sinh viên để học có thể trở
thành người lao động có kĩ thuật.
2. Bồi dưỡng:
Theo cách giải nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì:"Bồi dưỡng" là giữ và tăng
thêm (Về sức khoẻ, khả năng, trình độ hiểu biết hoặc tư cách đạo đức).
Bồi dưỡng với mục đích là nhằm nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm
chất đạo đức nghề nghiệp, nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để
củng cố và mở rộng hoặc nâng cao một cách có hệ thống những tri thức, kĩ năng
chuyên môn, nghiệp vụ có sẵn để làm việc đạt hiệu quả cao hơn (Không nhằm mục
đích để đổi nghề). Điều này càng thiết thực với người làm công tác giáo dục.
3. Đào tạo lại:
Là quá trình đào tạo cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực
chuyên môn mới, nhằm mục đích để chuyển đổi nghề khác khi xã hội có nhu cầu
chuyển đổi nghề nghiệp trong điều kiện xã hội phát triển.
II. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên tiểu học trong sư nghiệp giáo
dục:
Mục đích đào tạo của bậc tiểu học - trường tiểu học đã được cụ thể hoá tại
luật giáo dục và điều lệ trường tiểu học mà nhà nước và bộ giáo dục ban hành.
GV tiểu học là người tổ chức quá trình phát triển của trẻ em bằng phương
pháp và những nhiệm vụ của người GV được nêu trong luật và điều lệ là: "Phải
thường xuyên học tập văn hoá và bồi dưỡng nghiệp vụ, rèn luyện đạo đức và tác
phong để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao theo tiêu chuẩn quy định đối với người
những phương pháp giáo dục tối ưu.
Bồi dưỡng GV phải trở thành một nhu cầu không thể thiếu, phải tiến hành
liên tục và suốt cả cuộc đời làm việc của mỗi người.
IV. Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng giáo viên:
Cũng như chất lượng giáo dục, chất lượng của công tác bồi dưỡng GV cũng
chịu sự tác động và chi phối của nhiều nhân tố.
Trước hết là quan điiểm, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với công tác Giáo
dục- Đào tạo ( Giáo dục - Đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu) là sự nghiệp
của Nhà nước, của toàn Đảng, toàn dân.
Nghị quyết trung ương II xác định: Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo
dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ trẻ tha thiết gắn bó với lí tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ gìn và
phát huy những giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa dân tộc,
phát huy tiềm năng của dân tộc và của con người Việt Nam, có tác phong công
nghiệp, có tính tổ chức và kỉ luật đồng thời có sức khoẻ để trở thành những người
Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
5
Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
kế thừa việc xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên như lời căn dặn của
Bác Hồ vô vàn kính yêu.
Vấn đề xây dựng đội ngũ GV, tạo động lực cho người dạy, người học. Nghị
quyết cũng chỉ rõ: GV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội
tôn vinh. GV phải có đủ đức, đủ tài thực hiện chương trình bồi dưỡng thường
xuyên, bồi dưỡng chuẩn hoá nâng cao phẩm chất và năng lực đội ngũ GV.
Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt
chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hoá đội ngũ GV cũng như đội ngũ cán bộ
quản lí giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ (Phát
biểu của đ/ c Đỗ Mười tại hội nghị BCH trung ương lần thứ II khoá VIII).
Sự ra đời của luật giáo dục (1998)và các luật có liên quan đến giáo dục như:
I. Thực trạng giáo dục ở trườmg Tiểu học Minh Tân:
1. Về phía học sinh:
* Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển số lượng và chất lượng diáo dục:
Trường được thành lập vào tháng 8/1990, được tách ra từ trường PTCS
Minh Tân với quy mô năm đầu là 1246 HS, với 34 lớp và có 49 cán bộ giáo viên,
công nhân viên. Trong quá trình xây dựng và phát triển đến nay, trường luôn ổn
định về quy mô trưiờng hạng 1 với trên dưới 1000 học sinh, trường có chất lượng
cao và ổn định.
Số lượng GV, học sinh và chất lượng của nhà trường được biểu thị qua các
biểu mẫu cụ thể sau:
Biểu mẫu 1:
Kết quả thực hiện số lượng học sinh 5 năm học
( 2001-2002)- (2005-2006)
Năm học TS
Lớp
TS
HS
Khối 1 Khối 2 Khối 3 Khối 4 Khối 5
Lớp HS Lớp HS Lớp HS Lớp HS Lớp HS
2001- 2002 31 1005 6 198 6 191 6 196 6 188 7 232
2002- 2003 30 960 6 163 6 202 6 201 6 204 6 190
2003- 2004 29 973 6 192 5 160 6 210 6 209 6 202
2004- 2005 28 958 5 165 6 205 5 167 6 213 6 208
2005- 2006 27 964 5 179 5 173 6 214 5 171 6 227
Qua bảng tổng hợp cho thấy số lượng học sinh của nhà trường trong 5 năm
học liền kề đến nay cơ bản là ổn định và có giảm ít. Có được kết quả như vậy là do
nhà trường thực hiện tốt kết quả luật phổ cập giáo dục Tioêủ học với các chỉ số cao
trong cụm dân cư trong toàn thị trấn. Ngay trong năm học( 1990-1991) nhà trường
đã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học và luôn được duy trì, ổn
3HSG cấp QG,
227 HSHTCTTH
Quán triệt việc thực hiện nghiêm tinh thần chỉ thị, nhiệm vụ năm học của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục- Đào tạo và hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ dạy và học của Vụ
giáo dục Tiểu học, Sở giáo dục- Đào tạo, phòng gioá dục đối với bậc học. Trường
Tiểu học Minh Tân luôn đổi mới, cải tiến công tác quản lí, chỉ đạo, thực hiện hoạt
động dạy và học và các hoạt động giáo dục phối hợp giáo dục theo các chỉ đạo của
ngành. Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học đày đủ 100%, sách tham khảo
và trang thiết bị dạy học luôn được coi trọng và bổ sung phong phú. Nhà trưòng
thực hiện tốt việc kiểm tra, đánh giá, xếp loại HS theo thông tư 15 và QĐ/30 Bộ
Giáo dục- Đào tạo. Thực hiện nghiêm túc các đợt kiểm tra( khảo sát) đánh giá chất
lượng giáo dục theo quy định đầu kì, giữa kì và cuối năm học.
Qua thóng kê chất lượng giáo dục 5 năm học cho thấy chất lượng giáo dục
của nhà trường luôn ổn định và khá cao kể cả về chất lượng đại trà và kết quả HS
đạt giải cấp tỉnh, năm học ( 2005-2006) có HS đạt giải Quốc gia trong hội thi "
Đọc hay- Viết đẹp".
2. Về đội ngũ giáo viên:
2.1. Số lượng:
Đội ngũ GV trường Tiểu học Minh Tân tương đối ổn định trong những năm
qua, đạt mức quy định biên chế của Bộ giáo dục- Đào tạo. Đội ngũ có trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ khá tốt. Tuy nhiên do đặc điểm của bậc học, hệ đào tạo
gioá viên Tiểu học phong phú, tạo ra trình độ GV không đều. Số GV dạy giỏi toàn
năng chưa nhiều, GV dạy chuyên các môn năng khiếu còn thiếu ( Âm nhạc, Mĩ
thuật…), việc dạy theo yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học còn gặp nhiều
khó khăn.
Tình hình thực tế về đội ngũ GV trong trường được biểu thị qua biểu mẫu
sau:
Biểu mẫu 3:
Cơ cấu đội ngũ của 5 năm học từ ( 2001- 2002)- ( 2005-2006)
+ Số GV trên 45 tuổi thường có từ 5-7 người chiếm 10-15% là những GV có
nhiều năm công tác, có trình độ chuyên môn đào tạo ở nhiều loại hình khác
nhau( Thái Nguyên, Quảng Ninh…), nâng chuẩn trung học hoàn chỉnh, chuyển hệ
GV cấp 1 ( Tiểu học). Số GV này qua thực tế bộc lộ về chuyên môn, nghiệp vụ
mức độ thấp, khó khăn trong việc giảng dạy học đủ 9 môn. Đặc biệt là dạy theo
chương trình, SGK mới và theo cách dạy đổi mới phương pháp như hiện nay.
2.3. Về trình độ chuyên môn đào tạo:
Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
9
Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
Trường Tiểu học Minh Tân hiện nay có đội ngũ cayanr là 100%. Tuy nhiên, trình
độ đào tạo tồn tại nhiều hệ, đa dạng: THHC ( 10+2),( 12+2), Cao đẳng tiểu học,
Đại học sư phạm khoa Tiểu học( hệ chính quy, hệ tại chức và từ xa). So với mục
tiêu phấn đấu chuẩn đội ngũ của bậc học đối với khu vực của huyện là tốt. Tuy
nhiên so với mục tiêu phấn đấu chuẩn đội ngũ của bậc học đến năm 2010 đối với
khu vực trung tâm của huyện thì còn ở mức độ thấp, chưa đáp ứng được mục tiêu
đơn vị chất lượng cao của bậc học.
Biểu mẫu 4:
Trình độ đào tạo của đội ngũ trường Tiểu học Minh Tân
Năm học ( 2001-2002)- (2005-2006)
Năm học 2001-2002 2002-2003 2003-2004 2004-2005 2005-2006
Tổng số
46 42 39 40 42
(10+2)và (12+2)
35 25 21 19 13
Tốt nghiệp ĐH
2 5 7 10 17
Tốt nghiệp CĐ
3 5 6 6 8
chuyên môn cao và nghiệp vụ giảng dạy giỏi các cấp ngày một tăng lên, được
ngành đánh giá là đơn vị có đội ngũ mạnh, nhà trường không còn giáo viên yếu về
chuyên môn nghiệp vụ.
Biểu mẫu số 5:
Chất lượng đội ngũ giáo viên Trường tiểu học Minh Tân qua 5 năm.
Năm học TS
GV
GV
giỏi
huyện
GV
giỏi
tỉnh
Xếp loại chuyên môn
nghiệp vụ
Số GV cần bồi dưỡng các
mặt
Giỏi Khá TB
Kiến
thức
P.Pháp
N.Vụ
SP
2001 - 2002 340 5 1 10 22 6 9 10 12
2002 - 2003 36 5 2 18 13 5 7 8 7
2003 - 2004 33 5 2 22 6 3 4 5 5
2004 - 2005 34 7 2 24 7 3 3 3 3
2005 - 2006 36 9 2 26 8 2 3 2 2
Qua điều tra thống kê cho thấy số GV xếp loại chuyên môn yếu không có, số
GV có loại chuyên môn TB ( đạt yêu cầu ) thực chất là chuyên môn nghiệp vụ
đồng thời giúp cho GV nhận thức đúng về trình độ, khả năng của bản thân để có
hướng phấn đấu học tập, bồi dưỡng tự hoàn thiện.
3. Thực trạng về công tác bồi dưỡng giáo viên:
3.1.Tình hình chung về công tác bồi dưỡng GV ở Trường tiểu học Minh
Tân
Chương trình bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1997 - 2000 và chu kì 2003 -
2007. Do Bộ GD - ĐT ban hành được nhà trường quán triệt chỉ đạo thực hiện tốt.
Đội ngũ GV hưởng ứng tích cực tự giác 100% cán bộ GV tham gia với chất lượng
đạt các chứng chỉ khá và tốt cao. Không có GV không đạt yêu cầu .
Thông qua chương trình bồi dưỡng thường xuyên, đã giúp cho GV cập nhật
kiến thức mới cùng phương pháp dạy mới thông qua các chuyên đề bộ môn, hội
thảo khoa học thực hiện đa dạng các hình thức bồi dưỡng tập trung giải quyết vấn
đề trình độ- nghiệp vụ cho GV trong trường.
Biểu mẫu số 6
Kết quả đạt được sau chu kì bồi dưỡng 1997 - 2000
Môn học
Tổng số
CB- GV
Tổng số
GV tham
Kết quả đạt loại khá - giỏi Không đạt
Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
12
Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
Tổng số %
Tiếng Việt 46 45 35 77,1
Toán 46 45 37 82,2 0
Đạo đức 46 45 40 88,8 0
TN - XH 46 45 38 84,4 0
tình cảm nhạy bén và tinh tế. Nếu thiếu phẩm chất đó thì lao động sư phạm trở
thành một điều khổ ải".
Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
13
Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
Bồi dưỡng lòng nhân ái sư phạm cho GV là trách nhiệm của người quản lí ,
cần làm cho họ hiểu rõ ý nghĩa và tạo điều kiện cho họ thể hiện lòng yêu thương
HS thông qua các hoạt đông dạy học và GD cần nêu gương người tốt, việc tốt phê
phấn một số biểu hiện không tốt của một số GV.
3.2.3.Bồi dưỡng tình yêu nghề nghiệp
Yêu nghề là yếu tố cơ bản nhất để dẫn đến thạo nghề và giỏi nghề. Yêu nghề
thể hiện ở sự say sưa hứng khởi, sự kiên trì, bền bỉ và ý chí khắc phục khó khăn
trong việc học tập, rèn luyện và bồi dưỡng với người thầy giáo, tình yêu thương
con người gắn với tình yêu nghề nghiệp.
Câu nói của cố Tổng bí thư Lê Duẩn " Càng yêu người bao nhiêu, càng
yêu nghề bấy nhiêu" nói lên trách nhiệm cao cả của người thầy giáo.
Người cán bộ quản lí cần giáo dục cho GV tình yêu nghề, say sưa với nghề,
tự hào về nghề. Muốn vậy phải đáp ứng được những yêu chính đáng của GV để họ
có thể sống bằng chính nghề của mình, phải quan tâm hơn nữa đến việc bồi dưỡng
lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm, cốt cách nhà giáo, ý trí và hoài bão vươn lên của
đội ngũ GV để họ có bản lĩnh, lí tưởng nghề nghiệp vững vàng.
3.2.4.Bồi dưỡng năng lực sư phạm( nghiệp vụ sư phạm):
Năng lực sư phạm bao gồm năng lực tổ chức, quá trình dạy học và năng lực
tổ chức quá trình giáo dục. Đây là một trong những nội dung của chương trình bồi
dưỡng thường xuyên của đội ngũ GV.
3.2.5.Bồi dưỡng tri thức chuyên môn:
Tri thức học sâu và học rộng là nền tảng của năng lực sư phạm. Muốn có tri
hức đảm bảo chất lượng giảng dạy GV phải học tập và tự học.
Nhà trường đã bố trí và tạo điều kiện cho GV đi học tập trung hoặc tại chức
về Cao đẳng và Đại học để đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn.Đồng thời cử các GV
không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục. Việc bbồi dưỡng nhân cách và phẩm
chất cho GV cần được tiến hành thường xuyên, liên tục theo một chương trình hợp
lí, trong đó cần kết hợp giữa việc tổ chức bồi dưỡng tập thể với việc tự bbồi dưỡng
của cá nhân. Các hình thức và phương pháp bồi dưỡng cần sáng tạo, linh hoạt để
phù hợp với đặc điểm và điều kiện của đơn vị. Đây chính là việc nhằm nâng cao và
phát huy tiềm năng, trí tuệ của người GV để đạt được nhiều hiệu quả cao trong
giáo dục.
3.3. Hình thức bbồi dưỡng:
Thực hiện phương thức đa dạng hoá hình thức bbồi dưỡng và linh hoạt vận
dụng để phù hợp với điều kiện của GV và của nhà trường. Trong điều kiện thực tế
của trường Tiểu học Minh Tân đã áp dụng các hình thức sau:
3.3.1.Bồi dưỡng tập trung dài hạn:
Tạo mọi điều kiện động viên và hỗ trợ kinh phí để GV đi học Cao đẳng và
Đại học khoa Tiểu học, GV học các chuyên ngành chuyên môn như: Âm nhạc, Mĩ
thuật, Thể dục…
3.3.2.Bồi dưỡng tập trung ngắn hạn: GV đi học Cao đẳng, Đại học hệ tại
chức.
3.3.3.Bồi dưỡng từ xa: GV đi học Đại học hệ từ xa.
3.3.4.Bồi dưỡng tại trường:
Thực hiện chu kì bồi dưỡng thường xuyên( 2003-2007) gồm:
+ Bồi dưỡng theo chuyên đề, hội thảo.
Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
15
Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
+ Bồi dưỡng dưới hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn.
+ Hội giảng, dự giờ rút kinh nghiệm.
3.3.5.Hình thức tự bồi dưỡng:
GV tự nghiên cứu tài liệu, tập san, sachs tham khảo, học hỏi đồng nghiệp,
viết sáng kiến kinh nghiệm…
Kết quả
đạt yêu
cầu
Ghi chú
Bồi dưỡng nâng
trên chuẩn( Cao
đẳng, Đại học)
1998-2006 Tại chức 29 21
8 đ/c đang
theo học
ĐH tại chức
Bồi dưỡng đại trà Hè các năm học Bồi dưỡng thường
xuyên
41 41
Bồi dưỡng
GV,HS giỏi( cốt
cán)
Thường xuyên
trong năm học
Chuyên đề,hội thảo,
mời chuyên gia 8 8
Bồi dưỡng Thường xuyên Tổ chức chuyên đề, 36 36
Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
16
Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
nghiệp vụ dạy
MT, ÂN, TD
trong năm học mời GV chuyên
3.5.Công tác tổ chức chỉ đạo bồi dưỡng:
Nhà trường đã lên kế hoạch dài hạn và ngắn hạn cho việc bồi dưỡng GV tuỳ
Năm học
TS
GV
Xếp loại chuyên môn Giáo viên giỏi
Tốt Khá T.Bình Giỏi
trường
Giỏi
huyện
Giỏi tỉnh
S
L
%
S
L
%
S
L
%
S
L
%
S
L
% SL %
Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
17
Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
2001-2002 40 23 57,5 12 30,0 5 12,5 8 20,0 14 35,0 1 2,5
2002-2003 36 21 58,3 12 33,3 3 8,4 6 16,6 13 36,1 2 5,5
2003-2004 33 23 69,6 8 24, 2 6,2 7 21,2 14 42,4 2 6,0
- Căn cứ vào thực trạng của đội ngũ GV tiểu học Minh Tân, trình độ đào tạo
không đồng đều, chất lượng đội ngũ chưa cao.
Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
18
Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
- Căn cứ vào mục tiêu của bậc học, xây dựng đội ngũ GV đủ về số lượng,
mạnh về chất lượng để đáp ứng yêu cầu phổ cập, đảm bảo GD HS theo hướng
phát triển toàn diện.
- Các yếu tố ảnh hưởng tới đội ngũ GV, khoa học, kĩ thuật ngày càng phát
triển và tác động trên mọi lĩnh vực của cuộc sống con người, lượng thông tin ngày
càng phong phú, HS có thể tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn khác nhau, vì vậy GV
không còn giữ vai trò độc tôn trong việc trang bị kiến thức mới.
1.1 Những định hướng chiến lược:
Để xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ GV tiểu học đủ về số lượng,
mạnh về chất lượng để thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, nâng cao chất lượng giáo dục ở nhà trường.
Căn cứ vào mục tiêu của Bộ GD- ĐT đề ra cho ngành GD tiểu học đến năm
2005, tiếp tục thực hiện nghị quyết TU II khoá VIII và kết luận TU VI khoá I X về
GD- ĐT.
+ Hoàn thiện bậc Tiểu học theo điều lệ trường tiểu học mới ban hành.
+ Hoàn thiện mô hình trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia của thời kì công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
+ Phổ cập Tiểu học 100% đúng độ tuổi.
1.2. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV tiểu học:
Trên cơ sở phân tích thực trạng của đội ngũ giáo viên cần có một kế hoạch
tổng thể và những kế hoạch cụ thể cho công tác bồi dưỡng giáo viên tạo được
không khí sôi nổi, nhiệt tình và tự giác trong học tập cho mọi giáo viên, từ đó tạo
ra được môi trường mới về công tác bồi dưỡng. phong trào bồi dưỡng, tự bồi
dưỡng liên tục theo nhu cầu cần thiết của mỗi giáo viên với quan điểm: Cần gì học
nấy và bồi dưỡng xây dựng đội ngũ trên cơ sở đội ngũ giáo viên Tiểu học hiện có.
2- Biện pháp về nội dung bồi dưỡng:
Trên cơ sở khảo sát thực trạng đội ngũ, thực trạng công tác bồi dưỡng giáo
viên. Những nội dung cần bồi dưỡng đó là kiến thức chuyên môn và các kỹ năng,
năng lực sư phạm.
-Hệ thống năng lực sư phạm cần bồi dưỡng là:
+ Năng lực phán đoán: Là năng lực nhận biết và phát hiện đầy đủ, chính xác
và kịp thời với sự phát triển của học sinh, những đặc điểm của sự phát triển đó và
những nhu cầu cần được giáo dục của từng học sinh.
+ Năng lực đánh giá: Là năng lực nhìn nhận sự thay đổi trong nhận thức kỹ
năng, thái độ của học sinh, từ đó nhìn nhận được tính đúng đắn của chuẩn đoán.
+ Năng lực đáp ứng: Là năng lực đưa ra các nội dung, biện pháp giáo dục
phù hợp với nhu cầu của người hoc và yêu cầu của mục tiêu giáo dục.
+ Năng lực triển khai chương trình dạy học: Tiến hành dạy và giáo dục căn
cứ vào mục đích và nội dung giáo dục được quy định nhưng phù hợp với đặc điểm
của đối tượng. Năng lực này có nội dung trong việc triển khai phương pháp dạy
học. Phương pháp dạy lấy học sinh làm trung tâm.
- Về kiến thức: cần bồi dưỡng kiến thức ở tất cả các phân môn vì người giáo
viên Tiểu học cần phải có trình độ văn hóa rộng, cần có hiểu biết trên nhiều lĩnh
vực mà những kiến thức này trong quá trình đào tạo chưa đủ. Vì vậy cần phải được
cập nhật, bồi dưỡng thường xuyên, liên tục để có sự hiểu biết đầy đủ.
- Hệ thống kỹ năng cần được bồi dưỡng:
+ Kỹ năng thiết kế bài dạy: Vận dụng các phương pháp dạy học nhằm đổi
mới phương pháp dạy học, đáp ứng với yêu cầu đổi mới về nội dung, chương trình
và sách giáo khoa hiện nay. Đặc biệt là: Kỹ năng nghe- nói- đọc –viết là một khâu
quan trọng của quá trình dạy học ở bậc Tiểu học.
+ Thiết kế cho từng giai đoạn cụ thể: Tuần- Tháng – Học kỳ – Năm học.
+ Thiết kế cho một bài học, một tiết học hay một hoạt động giáo dục.
Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
20
Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
và cán bộ quản lý đông nhất trong toàn huyện. Trường được tách ra từ năm học
1992- 1993, tổng số cán bộ giáo viên là 54 người có 42 lớp và luôn có trên dưới
1000 học sinh. Thời gian này trường gặp rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất đặc
biệt là trình độ đội ngũ giáo viên cụ thể như sau:
Năm học 1992 – 1993
+ Trình độ giáo viên: Đại học: Không
Cao đẳng: Không
10+2: 27 đồng chí
7+1 : 11 đồng chí
Trung học hoàn chỉnh: 04 đồng chí
Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
21
Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
Trường Tiểu học Minh Tân có nhiều thuận lợi , có nhiều nhà máy, xí nghiệp
đóng trên địa bàn trong đó có Công ty xi măng Hoàng Thạch. Con em nhà máy
được phụ huynh quan tâm, vì vậy để đáp ứng việc nâng cao chất lượng của nhà
trường trên địa hình phức tạp, đòi hỏi trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý và đội
ngũ giáo viên phải được nâng cao.
Do đó từ năm học 1996 – 1997 được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo
ngành về chủ trương nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý. Nhà
trường đã lên kế hoạch dài hạn và ngắn hạn cho việc bồi dưỡng đội ngũ như: Đã
cử giáo viên đi học lớp cử nhân Cao đẳng và Đại học khoa Tiểu học do trung tâm
bồi dưỡng của huyện và của tỉnh tổ chức. Năm học 1997 – 1999 phòng giáo dục
Kinh Môn được sự đồng ý của sở giáo dục Hải Dương cho mở tiếp 03 lớp cử nhân,
mỗi năm nhà trường đều cử từ 02 đến 03 giáo viên đi học. Như vậy tính từ năm
học 1996 – 1999 đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý của nhà trường đã đạt trình
độ cử nhân Cao đảng và Đại học chuyên ngành Tiểu học là13 đồng chí.
Năm học 2000 – 2001 đến nay, hàng năm nhà trường đều chủ động lập kế
hoạch, tham mưu với phòng giáo dục huyện, trung tâm bồi dưỡng thường xuyên để
bồi dưỡng giáo viên theo chuyên ngành đào tạo. Mặt khác nhà trường tích cực
Nhà nước và các cấp quản lý giáo dục cần tạo điều kiện để nâng cao chất
lượng đào tạo và đào tạo lại của các trường sư phạm. Khuyến khích những người
giỏi vào các trường sư phạm, khắc phục tình trạng thiếu giáo viên như hiện nay ở
các bậc học, ở những vùng khó khăn như vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, vùng núi biên giới hải đảo…
Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là một hướng làm đúng đắn đáp ứng như cầu,
nguyện vọng của đông đảo giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh. Đồng thời
làm cho mỗi giáo viên thấy rõ tầm quan trong của công tác giáo viên, đây là một
nhiệm vụ cấp bách và cần phải làm và làm thường xuyên để nâng cao chất lượng
và hiệu quả giáo dục nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn lực con
người trong điều kiện mới.
Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cần phải căn cứ vào cơ sở lý luận và thực trạng
của công tác bồi dưỡng cũng như các yêu cầu mới về hoạt động và nhân cách của
người giáo viên Tiểu học trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước,
dưới sự tác động của nhiều nhân tố có ảnh hưởng.
Đề tài này đi sâu tìm hiểu và phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên trường
Tiểu học Minh tân về số lượng, trình độ cơ cấu, chất lượng đội ngũ cũng như thực
trạng về công tác bồi dưỡng đã tiến hành trong những năm qua. Đồng thời cũng
phân tích thực trạng, tình hình học sinh nhà trường về số lượng và chất lượng giáo
dục để khẳng định hiệu quả rõ ràng của công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Qua
phân tích, đề tài chỉ ra: Muốn công tác bồi dưỡng giáo viên đạt kết quả cần chú ý
các vấn Đề sau:
+ Đảm bảo được nguyên tắc phân loại giáo viên, phù hợp với nhu cầu lợi ích
của từng giáo viên, làm tốt công tác tư tưởng để từng giáo viên nhận thức được
rằng: Tự học, tự bồi dưỡng vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗi giáo viên,
gắn kết quả học tập bồi dưỡng của giáo viên với các chế độ chính sách khuyến
khích về vật chất và tinh thần. Đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng để giáo viên
chủ động cho phù hợp với điều kiện của mình.
+ Phải có liên kết phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với phòng giáo dục và
trung tâm giáo dục thường xuyên – trường Cao đẳng sư phạm để làm tốt công tác
huyện.Tạo điều kiện và khuyến khích các trường tổ chức thăm quan học tập các
đơn vị tiên tiến điển hình.
Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương
24