ĐÁNH GIÁ NGUỒN NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở CÁC ĐÔ THỊ LỚN - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BÁO CÁO KHOA HỌC

ĐÁNH GIÁ NGUỒN NƯỚC SẠCH
VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
NƯỚC Ở CÁC ĐÔ THỊ LỚN

MỤC LỤC

1


Mục lục……………………………………………………………………………………………..1
Danh mục bảng biểu……………………………………………………………………...………2
Danh mục viết tắt…………………………………….…………………………………..………..3
Lời tựa…………………………………………………………………………………….………..4
Tóm tắt nghiên cứu……………………………………………………………………….……….6
1. Bối cảnh nghiên cứu :
Tình hình cấp nước ở các đô thị lớn……………………………………………………..………8
Hiện trạng cấp thoát nước và xử lý chất thải………………………………………….……….12
2. Phương pháp nghiên cứu:…………………………………………………..………..............14
3.Kết quả nghiên cứu :
Nguồn nước sạch, vệ sinh môi truòng gây ảnh hưởng đến các khía cạnh khác của đời
sống đô
thị………………………………………………………………………………………………..…..14
Khai thác nguồn nước sạch và hệ lụy cho môi trường ở đô thị………………………………16
4. Khuyến nghị……………………………………………………………………….……............18
Tài liệu tham khảo…………………..……………………………………………………………..21

DANH MỤC BẢNG BIỂU:

2010. Tuy nhiên, chưa đến 60% trong số họ có đường ống nước đầu nối tại nhà; số
còn lại phải lấy nước từ các đường ống chung hoặc dùng nước giếng. Các huyện lị
thường có ít dịch vụ nước cơ bản. Tiêu chuẩn dịch vụ hiện nay rất thấp, cả về khối
lượng, cũng như chất lượng, chưa nói đến tỷ lệ thất thoát nước cao.
Bảng 1: Tỷ lệ người dân đô thị dùng nước sạch và người dân nông thôn
dùng nước hợp vệ sinh từ 2005-2010
Chỉ tiêu TNMT & PTBV

Thực hiện Mục tiêu KH 200 200 200 Ước thực Dự kiến Thực hiện
2001-2005 2006-2010 6
7
8
hiện 2009 2010
2006-2010

Tỷ lệ dân số nông thôn
được cung cấp nước hợp 62,0
vệ sinh

75

66,0 70,0 75,0 79,0

83,0

83,0

Tỷ lệ dân số đô thị được
cung cấp nước sạch



3


chất lượng kém, thiết kế không phù hợp. Cá biệt có những công trình sau khi xây
dựng đã không đáp ứng yêu cầu để có thể đưa vào sử dụng.
Từ những hạn chế nói trên, bài viết này nhằm đánh giá khách quan lần nữa những
kết quả từ việc thực hiện những chính sách do nhà nước đề ra nhằm đem lại tối ưu
nguồn nước sạch đến cho mỗi người dân đồng thời xem xét tình trạng môi trường
nước ở tình trạng hiện tại một cách khách quan nhất dựa trên những số liệu đáng tin
cậy từ những báo cáo chuyên môn và báo cáo khoa học, theo đó đề ra những
khuyến nghị nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm và thiếu hụt nguồn nước sạch ở các
đô thị lớn.
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU:
Việt Nam là quốc gia không còn giàu có về tài nguyên nước. Vấn đề nguồn nước
cạn kiệt, giảm chất lượng, ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, hạn hán, nước
biển xâm nhập đồng bằng,... ngày càng trở thành nguy cơ lớn đe dọa đối với nguồn
nước sinh hoạt và nước sản xuất tại nhiều địa phương. Việc khai thác, sử dụng cũng
như quản lý nguồn nước ở Việt Nam không có sự quản lý thống nhất, phối hợp chặt
chẽ giữa các bộ, ngành và chính quyền; chưa tách bạch rõ chức năng khai thác và
chức năng điều tiết, quản lý của các cơ quan có trách nhiệm dẫn đến việc tài nguyên
nước bị khai thác ồ ạt, cạnh tranh lợi ích. Mâu thuẫn, tranh chấp trong việc sử dụng
các nguồn nước giữa các chủ thể kinh tế khác nhau đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến
quyền người dân đối với nước. Trong khi đó, nhiều dự án nước sạch không hiệu
quả, thiếu tính bền vững, gây lãng phí nước, do chi phí cao, do thói quen, nhận thức
người dân. Điều này cản trở phát triển người dân từ góc độ tổn hại sức khỏe và thiệt
hại kinh tế do phải mua nước giá cao hoặc mất nhiều thời gian để lấy nước.
Tình trạng thiếu các quyền nguồn lực. Tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch còn thấp
do khó khăn trong tiếp cận nguồn chính thức đối với tài nguyên nước đang là lỗ hổng
trong thể chế, gây khó khăn không nhỏ trong việc quản lý phân bổ nguồn nước bền

nước liên quan tới NS&VSMT.

1. BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU:
Tình hình cấp nước ở các đô thị lớn :
Tính đến cuối năm 2011, Việt Nam có 756 đô thị được phân loại như sau:
- 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
-3 thành phố trực thuộc trung ương loại I, gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ; và 8
thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại I, gồm: Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy
Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên và Nam Định.
- 11 thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại II gồm: Biên Hòa; Hạ Long; Vũng
Tàu; Việt Trì; Hải Dương; Thanh Hóa; Mỹ Tho; Long Xuyên; Pleiku; Phan Thiết; Cà
Mau.
- 35 đô thị loại III.
Bảng 2: Mục tiêu phát triển cấp nước ở các đô thị
Chỉ số
Loại đô thị
Diện phủ dịch vụ ( % )

Năm
2015
Loại III hoặc cao 90
hơn

Năm
2020

Năm
2025
100


120

100
18

15

25
24

24

--

Nguồn : Quyết định số 1929/QD-TTg ngày 20/11/2009 đề cập các định hướng phát
triển ngành cấp nước Việt Nam tại các khu vực đô thị và khu vực công nghiệp tới
năm 2025 và tầm nhìn 2050.

5


Hệ thống cấp nước:
- Công suất các hệ thống cấp nước còn hạn chế do sự đầu tư không đầy đủ các
nhà máy xử lý nước, các mạng lưới đường ống truyền dẫn và phân phối nước sạch.
- Do mạng lưới truyền dẫn và phân phối nước sạch hiện có không được cải tạo và
nâng cấp đồng bộ với các nhà máy xử lý, do đó, tỷ lệ rò rỉ và thất thoát nước sạch là
35%, đặc biệt có một số thành phố tỷ lệ này rất cao như 49% ở Hà Nội, 38% ở TP
Hồ Chí Minh và 40% ở Nam Định.
- Mặc dù công suất cấp nước hiện tại đã tăng lên gấp 3 và gấp 2 lần so với năm1975
và 1990, tuy nhiên so quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, rất nhiều khu công

cấpnước trong thời gian tới sẽ chủ yếu dựa vào nguồn nước mặt lấy từ sông Đà,
sông Hồng và sông Đuống. Năm con sông chính: sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông
Lạch Tray, sông Văn Úc và sông Thái Bình chảy qua thành phố Hải Phòng và đổ
thẳng vào vịnh Bắc Bộ. Vì đây là các con sông bị ảnh hưởng bởi triều cường, nguồn
cấp nước chính của thành phố Hải Phòng là các chi lưu cấp 2, được bảo vệ khỏi ảnh
hưởng của triều (xâm nhập mặn). Trong khi đó, số liệu về giám sát chất lượng nước
do Sở TNMT thành phố Hải Phòng lập lại cho thấy nguồn nước mặn đã có dấu hiệu
của ô nhiễm do nước thải xâm nhập từ các hoạt động sinh hoạt của con người. Vì
vậy, thành phố đã tính đến việc bảo vệ nguồn nước trong tương lai.

6


Ở tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, các biện pháp đối phó tình
trạng nhập mặn đã được thực hiện tại các cống lấy nước thô. Vì các sông ở các tỉnh
này có đặc trưng của các sông miền Trung Việt Nam là dao động mực
nước theo mùa, sẽ cần phải xem xét đảm bảo cấp nước trên quan điểm quản lý tài
nguyên nước tương lai.
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu – Vũng Tàu, hồ Đá Đen cung cấp 94% nguồn nước cho các
khu vực đô thị lớn như thành phố Vũng Tàu và thị xã Bà Rịa. Nam 2010, mực nước
hồ Đá Đen hạ thấp bất thường do mùa khô kéo dài và Công ty cấp nước Bà Rịa Vũng Tàu đã phải lắp đặt các máy bơm tại các cống lấy nước của hồ Đá Đen. Để đối
phó với khó khăn tương tự, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu – Vũng Tàu đã có kế
hoạch cấp nước bổ sung từ một hồ chứa sẽ được xây dựng trên sông Ray sang hồ
Đá Đen qua một kênh hở trên quãng đường 30 km.
Sông Đồng Nai là nguồn cấp nước lớn cho thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai và
Bình Dương. Sông hiện đang phục vụ 74% nguồn nước cho thành phố Hồ Chí Minh,
64% cho Đồng Nai và 87% cho Bình Dương. Tuy nhiên, một số thông số nước thô
đã vượt tiêu chuẩn cho phép loại A của QCVN 08:2008/BTNMT. Nếu quá trình xử lý
nước bảo đảm tiêu chuẩn nước uống và vị trí cống lấy nước thô không bị ảnh hưởng
bởi xâm nhập mặn thì chất lượng nước sẽ không ảnh hưởng nghiêm trọng. Chất

Thoát
hoặc cao hơn
các đô thị
nươc
90- 95%
mưa Diện phủ dịch
vụ
70 – 80 %
> 80 %
100% ở đô thị
loại IV hoặc
cao hơn.
40 – 50% ở đô thị 60% ở đô thị loại III hoặc 70- 80% ở đô
loại III hoặc cao cao hơn
thị loại IV hoặc
hơn
cao hơn
Diện phủ dich
40% ở đô thị loại IV và 50% ở đô thị
vụ hệ thống
loại V, và các làng nghề loại V và các
thu gom và
làng nghề
xử lý
Nhà máy xử lý
Thoát
nước thải phân
nước
cấp ở các làng
thải



mới nghiên cứu áp dụng khung giá nước thải mới, hướng tới bù đắp đủ chi phí vận
hành của hệ thống thoát nước và xử lý nước thải.
Trong quan niệm truyền thống của chính quyền đô thị, hệ thống thoát nước đô thị
bao gồm các tuyến cống rãnh, ao hồ và kênh mương mà việc quản lý tương đối
đơn giản, không cần nhiều kiến thức kỹ thuật. Thế nhưng ngày nay khi diện tích đô
thị ngày càng lớn, tỷ lệ bao phủ dịch vụ ngày càng tăng, nhu cầu tiếp cận dịch vụ của
người nghèo cần được đáp ứng, yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng chặt chẽ,
nhiều công nghệ phức tạp hơn được áp dụng, yêu cầu chi phí ngân sách cho thoát
nước ngày càng phình to ra, thì cách quản lý truyền thống theo phương thức quản trị
tài sản của chính quyền đô thị đối với lĩnh vực thoát nước không còn thích hợp nữa,
cần được đổi mới và chuyển sang phương thức cung ứng dịch vụ thoát nước dựa
trên các nguyên tắc thương mại. Mô hình đặt hàng – đấu thầu thực hiện dịch vụ
công ích: vận hành, duy tu, bảo dưỡng hệ thống thu gom và xử lý nước thải là
hướng đi thích hợp trong giai đoạn hiện nay cho mảng thoát nước đô thị, trong khi
khối tư nhân chưa tìm thấy sự hấp dẫn đầu tư trong các hoạt động này vì thu không
bủ bù đắp chi phí.

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên việc nghiên cứu những tư liệu có sẵn, từ
đó tổng hợp, phân tích và đưa ra kết luận. Hệ thống hóa các chỉ tiêu cần thống kê,
tiến hành điều tra thống kê, tổng hợp thống kê, phân tích và dự đoán.Thời gian thực
hiện trong tháng 9 và tháng 10, năm 2015.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU :
Nguồn nước sạch, vệ sinh môi truòng gây ảnh hưởng đến các khía cạnh khác
của đời sống đô thị :
Theo như kết quả thống kê năm 2010, tuy có nhiều tiến bộ so với những năm
trước, cho đến hết 2010 mới chỉ có 62% người dân đô thị có thể tiếp
cận được vớ i nước sạch. Chỉ có 35 trong số 67 thành phố được khảo sát (chiếm

Tỷ lệ chết do các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh

3%

(Nguồn: Đánh giá của
Sector Brief, 2011).

WASH:

Vietnam

Water,

Sanitation

and

Hygiene

Các chương trình quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường,đặc biệt giai đoạn
2011-2015 sẽ là tăng tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ
sinh hộ gia đình góp phần làm giảm tỷ lệ trẻ mắc bệnh tiêu chảy, bệnh đường tiêu
hóa khác, bệnh giun sán , góp phần giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng. Cải thiện cấp
nước và vệ sinh môi trường sẽ hạn chế tình trạng bệnh tật trong dân cư, đặc biệt
là các bệnh có liên quan đến nước và vệ sinh như thương hàn, tiêu chảy, lỵ, sốt rét,
tả, mắt hột…một số bệnh thường gặp nhất là đối với trẻ em, chị em phụ nữ, giảm chi
phí khám chữa bệnh cho gia đình và xã hội, tăng cường sức khoẻ nhân dân. Việc sử
dụng nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh, thực hiện thói quen vệ sinh an toàn và giữ gìn
môi trường xanh-sạch-đẹp góp phần đảm bảo sức khoẻ cho cộng đồng dân cư,
nâng cao chất lượng sống của người dân nông thôn. Nhân dân càng thêm tin tưởng

nhiễm phốt phát (P-PO4 ) cũng có xu hướng tăng theo thời gian.Thành phố Cần Thơ
là một trong năm đô thị lớn của cả nước với nền kinh tế phát triển quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các quận huyện ngày càng gia tăng, việc phát triển mạnh
về nền kinh tế đồng nghĩa với việc các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị, cơ
sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ….mọc lên ngày càng nhiều, làm tăng nhanh số
lượng các nguồn gây ô nhiễm, tác động xấu đến môi trường đất, nước, không
khí. Nguồn nước ngầm cũng không nằm ngoài sự tác động này. Điển hình chất
lượng nước ngầm ở gần khu công nghiệp ngày càng bị ô nhiễm, trong khi đó việc
sử dụng nguồn nước sinh hoạt của người dân chủ yếu là nước ngầm.

4. KHUYẾN NGHỊ :
Thứ nhất, về hệ thống thể chế đảm bảo quyền con người đối với nguồn nước
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về tài nguyên nước. Các quy định pháp
lý, các chính sách và các chiến lược hiện có cần được xem xét lại để đảm bảo rằng
chúng phù hợp với các nghĩa vụ và quyền lợi phát sinh từ quyền sử dụng nước cả ở
cấp độ quốc gia và cả ở cấp độ người dân.
- Củng cố khung quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở cấp quốc gia, bao gồm các
chính sách và quy định luật pháp liên quan đến bảo vệ, khai thác, sử dụng tài
nguyên nước, các chiến lược quốc gia và kế hoạch thực hiện, khung quy định về các
quyền đối với nước, và các quy hoạch lưu vực sông để đưa ra những nguyên tắc
phân bổ nước, xác định rõ hơn các quyền của người sử dụng nước thông qua một
hệ thống cấp phép.
- Xây dựng khung pháp lý xử phạt các hành vi xâm hại tài nguyên nước, chính sách
quốc gia về cấp vốn cho ngành nước, tạo một môi trường pháp lý khuyến khích sự
tham gia của khu vực tư nhân và các cộng đồng vào việc khai thác và bảo vệ tài
nguyên nước.
Thứ hai, về việc tăng cường phối hợp, phân cấp, nâng cao năng lực các cơ quan
quản lý đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng tài nguyên nước
- Củng cố vai trò của Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước, thiết lập các mô hình
thể chế phù hợp cho việc quản lý các lưu vực sông.

khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế. Tương tự, các công cụ tài chính cũng cần
được áp dụng triệt để, chặt chẽ để khuyến khích xử lý nước một cách hiệu quả hơn.
Nếu được thực thi một cách có hiệu quả, sau một thời gian các quy định nói trên sẽ
tạo ra cơ chế khuyến khích đầu tư vào các công cụ sạch hơn.
Thứ tư, về công tác cải tiến quản lý nguồn nước ngầm, nước mặt, đảm bảo quyền
sử dụng nước và giảm thiểu xu hướng khai thác nước quá mức
- Quản lý chặt chẽ việc cấp phép khai thác nước và giám sát chất lượng nước.
- Cần có quy hoạch và kiểm soát chặt chẽ hơn nữa các hoạt động thăm dò, khai thác
nước ngầm, kiên quyết ngăn chặn tình trạng khai thác nước bừa bãi. Cấp lưu vực là
cấp tốt nhất để giải quyết vấn đề tiếp cận nguồn nước cho các nhu cầu có tính cạnh
tranh. Quy hoạch lưu vực sông có thể là một biện pháp tổng hợp rất hữu ích cho
công tác quản lý nước, vì có thể xóa bỏ ranh giới hành chính giữa các cấp chính
quyền và ngành.
- Cần có chính sách bảo vệ lưu vực các dòng sông, giảm thiểu hiện tượng nhiễm
mặn đồng bằng, thiếu nước mùa khô, trong đó đặc biệt quan tâm đến hợp tác quốc
tế trong quản lý lưu vực sông Mê Công, sông Hồng. Đối với sông ở miền Bắc và
miền Trung cần có sự phối hợp điều hành nước của các hồ chứa thủy lợi và thủy
điện.
- Xây dựng kế hoạch phát triển tầm chiến lược cho ngành cấp nước đô thị, trong đó
đặt ra các mục tiêu rõ ràng để giảm nước thất thoát và cung cấp các cơ sở hạ tầng
mới cho ngành.
- Phí dịch vụ nước cần được chỉnh sửa để dần dần phản ánh đúng chi phí kinh tế
phải bỏ ra cho việc cấp nước, việc vận hành, duy tu bảo dưỡng và các đầu tư sau
này nhằm nâng cao dịch vụ cấp nước, chất lượng nước và đảm bảo tính hiệu
quả, bền vững hệ thống.
- Khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân có khả năng cung cấp dịch vụ hiệu quả tham
gia lĩnh vực cấp nước. Nhưng do các dịch vụ này có tính chất độc quyền tự nhiên
nên vẫn cần khu vực nhà nước điều tiết một cách thận trọng.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu chung, quy hoạch tổng hợp dựa trên cơ sở dữ liệu thu
nhập.

4. Lê Văn Nãi, (2000), Bảo vệ môi trường trong xây dựng cơ bản, NXB
khoa
học.
5. GS.Ts. Lê Văn Khoa (1995), Môi trường và ô nhiễm, NXB. Giáo dục.
6.Trịnh Thị Thanh (2000), Độc học và môi trường sức khỏe con người, NXB. Đại học
quốc gia Hà Nội.
7.Lê Trình (1992), Quan trắc và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, NXB. Khoa học
và Kỹ thuật.
8. Th.s. Kỹ Quang Vinh (2009), Báo cáo diễn biến chất lượng môi trường thành phố
Cần Thơ 10 năm (1999 – 2008).
9.Niên giám thống kê 2012 (8/2013), Cục thống kê thành phố Cần Thơ.
10.Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Quy chuẩn Kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước mặt (QCVN 08:2008).

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status