Đẩy mạnh hoạt động thông tin đối ngoại trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay - Pdf 34

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
[\

BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2008
MÃ SỐ: B08-32

ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Cơ quan chủ trì: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chủ nhiệm đề tài: TS. Phạm Minh Sơn
Thư ký đề tài: ThS. Nguyễn Thị Thu Thủy

7257
26/3/2009
HÀ NỘI – 2008


DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN
1.

TS. Hoàng Anh

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

2.

PGS.TS. Nguyễn Hoàng Giáp

TS. Nguyễn Thị Quế

Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh

8.

ThS. Đào Xuân Tiến

Ban Tuyên giáo Trung ương

9.

ThS. Nguyễn Thị Thu Thủy

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

2


MỤC LỤC
Mở đầu
Chương 1. Một số điểm cơ bản về hội nhập quốc tế và thông
tin đối ngoại của Việt Nam
1.1. Hội nhập quốc tế của Việt Nam
1.2. Những điểm cơ bản về TTĐN Việt Nam
1.3. Những yêu cầu đối với hoạt động TTĐN trong quá trình
hội nhập quốc tế hiện nay
1.4. Hoạt động TTĐN của một số nước trên thế giới
Chương 2.Thực trạng hoạt động TTĐN đối với nhân dân,

46
58
83
83
102
132
133
140
159
159
161
162
173
178
179

3


DANH MỤC CÁC TỪ VIÊT TẮT

BC-TT
CNH
CNXH
ĐCS
HĐH
NVNONN
NXB
THVN
TNVN

sống, làm việc ở Việt Nam, người Việt Nam ở nước ngoài hiểu về đất nước,
con người Việt Nam, về đường lối, chủ trương, chính sách và thành tựu đổi
mới của Việt Nam, đồng thời đấu tranh dư luận chống lại những luận điệu bôi
xấu, xuyên tạc của các thế lực thù địch, trên cơ sở đó tranh thủ sự đồng tình,
ủng hộ của các nước, của nhân dân thế giới, sự đóng góp của cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo là quá
trình tìm tòi, trải nghiệm, sáng tạo và liên tục đổi mới tư duy trên mọi lĩnh
vực, trong đó có đổi mới tư duy đối ngoại. Với chủ trương “mở rộng sự hợp
tác và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế”1 được Đại hội lần thứ VI (1986) của
Đảng đề ra, Việt Nam đã chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nhờ thực
hiện nhất quán đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và
phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các
quan hệ quốc tế”2, sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những
thành tựu quan trọng trong quan hệ đối ngoại. Từ chỗ bị cô lập về chính trị, bị
bao vây, cấm vận về kinh tế, đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với
174 nước, quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với trên 200 nước và vùng
lãnh thổ trên thế giới. Việt Nam hiện là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và
khu vực. Lần đầu tiên trong lịch sử, nước ta có quan hệ với tất cả các nước,
các trung tâm chính trị - kinh tế lớn trên thế giới. Đảng ta có quan hệ ở các
mức độ khác nhau với trên 200 chính đảng ở các nước trên khắp các châu lục
của thế giới. Các đoàn thể và tổ chức nhân dân ta có quan hệ với hàng trăm tổ
chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế. Những thành tựu
đó, một mặt, đã góp phần khẳng định tính đúng đắn của tư duy đối ngoại đổi
1

Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), “Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng”, Văn
kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tập 47
2

TTĐN luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà
nước. Cùng với việc đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Nghị quyết
Đại hội VI của Đảng (1986) đề cập đến việc cần chú trọng thực hiện công tác
TTĐN. Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp
đổ, trong nhiệm kỳ Đại hội VII, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số
11/CT-TW (1992) định hướng đúng đắn và tổ chức lực lượng hoạt động
TTĐN. Trong nhiệm kỳ Đại hội VIII, Thường vụ Bộ Chính trị ra Thông báo
số 188/TB-TW (1998) bổ sung, nhấn mạnh những đối tượng, địa bàn ưu tiên
và trọng điểm tổ chức lực lượng của công tác TTĐN. Tháng 4 năm 2000, Thủ
tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 10/2000 CT-TTg về tăng cường quản lý và
đẩy mạnh công tác TTĐN. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng (2001) nhấn
mạnh nhiệm vụ tăng cường công tác TTĐN. Sau Đại hội, nhận thấy nhu cầu
cấp bách cần tăng cường sự lãnh đạo và phối hợp ở tầm chiến lược của công
6


tác này trong tình hình phát triển các lực lượng và hoạt động TTĐN, ngày 26
tháng 12 năm 2001 Ban Bí thư đã ban hành Quyết định 16 về thành lập Ban
chỉ đạo công tác TTĐN. Đại hội X của Đảng (2006) một lần nữa nhấn mạnh
đến việc “đẩy mạnh công tác văn hoá - TTĐN, góp phần tăng cường sự hợp
tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước”3. Ngày 26 tháng
12 năm 2006, Ban Bí thư ra Quyết định số 29 để kiện toàn Ban chỉ đạo công
tác TTĐN. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 Khóa X của Đảng (2007) về
công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới đã cụ thể hóa một
bước nhiệm vụ và giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác TTĐN nói chung và
hoạt động TTĐN của báo chí nói riêng. Nghị quyết đã chỉ rõ cần phải “Củng
cố tổ chức, tăng cường cán bộ và phương tiện để mở rộng phạm vi và nâng
cao hiệu quả công tác TTĐN, giúp cho cộng đồng quốc tế, cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài có nhận thức và thái độ đúng đắn về đất nước ta,
tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp đổi


1.2. Tính cấp thiết đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động thực tiễn của công tác TTĐN,
một trong những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước quan tâm và ưu tiên thực
hiện là đào tạo, nâng cao năng lực nguồn nhân lực làm công tác đối ngoại nói
chung và TTĐN nói riêng. Nghị quyết Đại hội X của Đảng nhấn mạnh cần
“chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối
ngoại vững vàng về chính trị, có trình độ ngoại ngữ và năng lực nghiệp vụ
cao, có đạo đức và phẩm chất tốt”5. Hiện nay, cán bộ chuyên trách TTĐN ở
các cơ quan, tổ chức, địa phương còn rất ít, ở nhiều nơi còn chưa có. Các cán
bộ này đa phần mới chỉ được tập huấn qua các lớp bồi dưỡng kỹ năng TTĐN
ngắn hạn, chưa được đào tạo chính quy, do vậy năng lực còn nhiều hạn chế.
Từ năm học 2004-2005, Học viện Báo chí và Tuyên truyền được Đảng và
Nhà nước lựa chọn, tin tưởng giao nhiệm vụ đào tạo cử nhân ngành TTĐN hệ
tập trung dài hạn. Cho đến nay, 5 khóa sinh viên TTĐN đầu tiên của cả nước
với gần 160 sinh viên do Khoa Quan hệ quốc tế quản lý đang nỗ lực học tập,
trau dồi kiến thức, rèn luyện đạo đức, chuẩn bị cho công tác sắp tới của mình.
Việc tiến hành các nghiên cứu khoa học để nhanh chóng tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn, rút ra các bài học để hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động
TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay, bên cạnh ý
nghĩa thực tiễn, còn có ý nghĩa giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng to lớn. Các kết
quả thu được sau mỗi nghiên cứu sẽ làm tài liệu phục vụ quá trình đào tạo,
bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác TTĐN của cả nước. Hiện nay, việc
hoàn thiện chương trình đào tạo, công tác biên soạn bài giảng, tài liệu tham
khảo và xây dựng giáo trình cho các học phần chuyên ngành TTĐN đang
được khẩn trương xúc tiến. Việc thực hiện những nghiên cứu về TTĐN đang
được lãnh đạo các cấp khuyến khích và ưu tiên, nhằm phát triển cơ sở khoa
học cho việc đào tạo cử nhân ngành TTĐN. Đặc biệt cho những học phần
trực tiếp liên quan đến chủ đề của nghiên cứu này như: “Đại cương TTĐN”,
“Tổ chức hoạt động TTĐN”, “Thu thập xử lý TTĐN”, “Tổ chức sản xuất sản

khác nhau.
Nhiều công trình nghiên cứu tác động của toàn cầu hoá đến các quốc
gia, dân tộc và phân tích sự cần thiết của hội nhập khu vực, quốc tế trong thời
đại toàn cầu hoá hiện nay. Trong số đó tiêu biểu là cuốn sách của Trần Trọng
Toàn, Đinh Nguyên Khiêm (1999) “Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế của
Việt Nam”6. Trong cuốn sách, các tác giả đã nêu lên những ưu thế, thời cơ và
thách thức trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế, kinh nghiệm hội
nhập kinh tế của các nước đang phát triển. Trên cơ sở đó nêu lên các vấn đề
xuất hiện trong tiến trình hội nhập của Việt Nam, đặt biệt là những vấn đề
kinh tế, về liên kết kinh tế và đề xuất những giải pháp giải quyết. Cuốn sách
cũng đề cập đến vấn đề thông tin kinh tế đối ngoại còn nhiều hạn chế đã ảnh
hưởng không nhỏ đến những thành công trong quá trình hội nhập.
Hai công trình của các nhà nghiên cứu Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh: “Toàn cầu hoá - phương pháp luận và phương pháp tiếp cận
nghiên cứu” của Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Xuân Sầm (2001)7
6

Trần Trọng Toàn, Đinh Nguyên Khiêm (1999), Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
7
Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Xuân Sầm (2001), Toàn cầu hoá - phương
pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

9


và “Xu thế toàn cầu hóa trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” của Lê Hữu
Nghĩa, Trần Khắc Việt và Lê Ngọc Tòng (2007)8, đã cung cấp đầy đủ phương
pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu về toàn cầu hoá và sự tác động
của nó đối với các mặt chính trị, văn hoá, xã hội. Các tác giả đã chỉ ra sự

Vũ Dương Ninh (2003), Toàn cầu hoá và tác động đối với sự hội nhập của Việt
Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội
10
Nguyễn Vân Nam (2006), Toàn cầu hoá và sự tồn vong của nhà nước, Nxb Trẻ,
Tp.Hồ Chí Minh
11
Đinh Xuân Lý (2001), Tiến trình hội nhập Việt Nam – ASEAN, Nxb Đại học Quốc
gia, Hà Nội
12
Phạm Văn Hằng, Lê Mậu Hãn, Vũ Dương Ninh (2005), Việt Nam trong tiến trình
thống nhất đất nước, đổi mới và hội nhập, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội

10


kiện lịch sử trong quan hệ quốc tế, đổi mới và hội nhập quốc tế, khu vực của
Việt Nam.
Ngoài ra, trong số các phân tích về hội nhập quốc tế của Việt Nam, có
một số công trình có giá trị của các chính trị gia, các nhà hoạt động kinh tế
thực tiễn. Đặc biệt trong số này là cuốn sách của đồng chí Phan Văn Khải
(2006) “Đổi mới sâu rộng, phát triển đất nước nhanh và bền vững, tiến cùng
thời đại”13. Cuốn sách đã phân tích, đánh giá tình hình đất nước, khẳng định
những thành tựu và vạch rõ những mặt yếu kém, đề ra phương phương hướng
giải quyết những vấn đề của quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam. Tác giả
khẳng định, để đi đến thành công, Việt Nam cần tăng cường đại đoàn kết dân
tộc, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng nhận được sự quan tâm nghiên
cứu của các nhà khoa học nước ngoài. Tiêu biểu là tuyển tập báo cáo phối
hợp nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các chuyên gia quốc

(2001)16. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại, các tác
giả đã chỉ ra những xu thế chính trị của thế giới, ảnh hưởng của nó trên phạm
vi toàn cầu cũng như ở Việt Nam và đề ra những giải pháp chủ yếu để phát
triển kinh tế đối ngoại, gắn liền với đảm bảo an ninh quốc gia.
Trong hướng nghiên cứu này còn có nhiều công trình tiêu biểu như
“Văn hóa phương Đông - truyền thống và hội nhập” của Mai Ngọc Chừ và
nhóm tác giả (2006)17, “Văn hoá thời hội nhập” của Trần Kiêm Đoàn, Hoàng
Phủ Ngọc Tường, Văn Ngọc (2006)18 và đặc biệt là các bài viết của Phạm
Quang Nghị được in trong cuốn “Công cuộc đổi mới - động lực phát triển lý
luận và văn hoá” (2005)19, của Trần Văn Bính (2008) “Văn hóa trong thời kỳ
hội nhập quốc tế”20. Các tác giả đã phân tích một số vấn đề lí luận và thực
tiễn của văn hoá Việt Nam trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế và khu
vực, vấn đề hội nhập văn hoá truyền thống và hiện đại của các nước phương
Đông và Việt Nam, vai trò và động lực của văn hóa nghệ thuật trong phát
triển kinh tế, xã hội của nước ta và làm thế nào để giữ gìn, phát huy được bản
sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập hiện nay.
Các nghiên cứu này đã cung cấp thêm một khía cạnh khác của quá trình
hội nhập của Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nghiên
cứu nào đề cập về vấn đề TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt
Nam, gắn sự thành công của hội nhập quốc tế với việc đẩy mạnh hoạt động
TTĐN. TTĐN là một lĩnh vực công tác đối ngoại quan trọng, có vai trò tích
cự trong quá trình hội nhập quốc tế, tuy nhiên còn mới mẻ với nhiều người và
chưa thực sự được đầu tư thích đáng, chưa nhận được sự quan tâm đúng mức
của giới nghiên cứu khoa học.
Bên cạnh đó, thời gian gần đây đã xuất hiện một số các bài viết, nghiên
cứu phân tích các góc độ khác nhau của TTĐN.
TTĐN chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ của những người quản lý,
qua các bài phát biểu, báo cáo tổng hợp của các cơ quan, tổ chức đang trực
tiếp phụ trách các mảng công tác TTĐN khác nhau. Đặc biệt trong các bài
16

tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị 11- CT/TW do Ban chỉ đạo công tác TTĐN
và Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức vào tháng 4/2008. Trong kỷ yếu Hội
nghị đã tập hợp được nhiều báo cáo, phân tích sâu sắc về quá trình thực hiện
công tác TTĐN ở các bộ, ban, ngành, các địa phương trong khắp cả nước.
Với sự ra đời của Tạp chí Thông tin đối ngoại22, nhiều nhà hoạt động,
nghiên cứu đã cho đăng tải các bài suy nghĩ, phân tích về TTĐN của Việt
Nam hiện nay. Tiêu biểu trong số đó là bài viết của Hồng Vinh (2006)
“TTĐN góp sức tích cực thúc đẩy hội nhập quốc tế”23. Tác giả đã nêu bật vai
trò của TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là qua
hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp trong tiến trình ra nhập các tổ
chức quốc tế lớn. Bài viết của Phạm Xuân Thâu (2006) “Thành tựu nổi bật và
những nhiệm vụ chủ yếu của công tác TTĐN trong tình hình mới”24 đã phân
tích các thành tựu của công tác TTĐN thời gian qua và nêu lên những nhiệm
vụ chủ yếu giúp đẩy mạnh hơn nữa hoạt động TTĐN. Trong tạp chí này cũng
luôn có các bài viết mang tính chỉ đạo công tác TTĐN của các đồng chí lãnh
đạo Đảng, Nhà nước: Nông Đức Mạnh (2008) “Thúc đẩy nền kinh tế phát
triển nhanh, bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế thành công, giữ vững định
hướng XHCN”, của Trương Tấn Sang (2008) “Đẩy mạnh công tác tuyên
21

Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại (2004), Kỷ yếu Hội nghị công tác TTĐN
toàn quốc tháng 3/2004, Hà Nội.
22
Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, Tạp chí Thông tin đối ngoại, các số từ
2004 đến nay
23
Hồng Vinh (2006), “TTĐN góp sức tích cực thúc đẩy hội nhập quốc tế”, Tạp chí
Thông tin đối ngoại, số (28) 7/2006
24
Phạm Xuân Thâu (2006), “Thành tựu nổi bật và những nhiệm vụ chủ yếu của công

cần tham khảo để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động TTĐN của mình.
Bên cạnh đó, cho đến nay, chưa có một cuốn sách chuyên khảo nào viết
riêng về TTĐN của Việt Nam.
Nhìn chung, các bài phát biểu và bài viết nêu trên là những tư liệu quý
báu, góp phần làm rõ thực trạng công tác TTĐN của các đơn vị, địa phương
và chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ công tác này trong thời gian tới. Tuy
25

Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 2, 3,
5/2008
26
Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, Tạp chí thông tin đối ngoại, các số 3,
4/2004; số 4/2005; số 2, 8/2006; số 1, 3, 4, 6/2008
27
Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, Tạp chí thông tin đối ngoại, các số
3/2004; số 3/2005; số 8/2006

14


nhiên, đó vẫn chỉ dừng lại là những báo cáo, những suy nghĩ, phân tích về
từng mảng, từng lĩnh vực, từng đối tượng của công tác TTĐN. Chưa thể gọi
đó là những nghiên cứu toàn diện về hoạt động TTĐN của Việt Nam hiện
nay. Để phát huy hơn nữa giá trị của những nhận xét, phân tích và suy nghĩ
đó, cần thực hiện một công trình khoa học để tổng hợp chúng lại, phân tích,
đánh giá, đưa ra giải pháp chung.
Một mảng hoạt động đang thu hút được sự chú ý là công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ làm công tác TTĐN. Tiêu biểu về chủ đề này là một số bài
báo và tham luận khoa học của Phạm Minh Sơn “TTĐN – ngành học thời đại
toàn cầu hóa” (2004)28, “Công tác đào tạo cán bộ TTĐN ở Học viện Báo chí

Phạm Minh Sơn (2008), “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công
tác TTĐN trong thời kỳ mới”, Tạp chí Thông tin đối ngoại, N9 /2008
32
Phạm Minh Sơn, “Hoạt động TTĐC trong công tác TTĐN của Việt Nam hiện
nay”, Tổng quan đề tài khoa học cấp bộ năm 2006, Hà Nội

15


Tiêu biểu là các nghiên cứu của Philippe Breton (1996) “Bùng nổ truyền
thông”, của Doris A.Graber (2000) “Media Power in Politics” (Sức mạnh
của truyền thông trong chính trị)33, của Sayling Wen (2002) “Phương tiện
truyền thông trong kỷ nguyên công nghệ thông tin”34, của Michael Schudson
(2003) “Sức mạnh của tin tức truyền thông”35, của Anya Schiffrin, Amer
Bisat (2004) “Đưa tin thời toàn cầu hóa”36. Đây là những tài liệu quý báu
cho đề tài nhằm tổng kết kinh nghiệm hoạt động truyền thông ở các nước.
Trong đó có đề cập đến khía cạnh TTĐN, phân tích những mặt được và
những mặt hạn chế của hoạt động này ở các nước. Những công trình nghiên
cứu, sách, bài báo, báo cáo, tham luận khoa học… nêu trên sẽ là những cơ sở
khoa học quý báu để thực hiện đề tài.
Từ những phân tích vừa nêu trên, đề tài khoa học “Đẩy mạnh hoạt
động TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay” là công
trình đầu tiên nghiên cứu, phân tích, xem xét một cách đầy đủ, tổng hợp hoạt
động TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế và đề xuất các biện pháp góp
phần đẩy mạnh hoạt động TTĐN của Việt Nam hiện nay.
3. Mục tiêu và giới hạn nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ thực trạng hoạt động TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế
của Việt Nam hiện nay.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động TTĐN trong quá

trong nước như TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tỉnh Quảng Ninh,
Lạng Sơn. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng kết quả nghiên cứu, khảo sát về
công tác TTĐN trên địa bàn các tỉnh, thành phố khác trong nước, cũng như
trên địa bàn một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc.
- Về đối tượng nghiên cứu: TTĐN do nhiều chủ thể khác nhau thực
hiện và hướng đến nhiều đối tượng ở ngoài nước cũng như trong nước với
các loại hình, hình thức rất phong phú, đa dạng. Trong khuôn khổ đề tài này,
đối tượng nghiên cứu là hoạt động TTĐN của một số cơ quan, tổ chức quan
trọng ở trung ương đang thực thi công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao
Nhà nước, đối ngoại nhân dân; cũng như của một số địa phương tiêu biểu. Đề
tài cũng giới hạn tập trung nghiên cứu hoạt động TTĐN cho ba đối tượng đặc
thù của công tác TTĐN: TTĐN cho chính phủ và nhân dân nước ngoài;
TTĐN cho người nước ngoài ở Việt Nam; TTĐN cho người Việt Nam ở nước
ngoài. Trong mỗi đối tượng này lại chọn những nhóm tiêu biểu để nghiên
cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này sẽ sử dụng các phương pháp cơ bản, phổ biến trong nghiên
cứu khoa học xã hội, gồm:
- Phương pháp luận: Đề tài lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm cơ sở lý luận và phương pháp luận. Dựa trên chủ nghĩa duy vật
biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu.
Nghiên cứu lý luận trên cơ sở những quan điểm của Đảng và Nhà nước
về quan hệ quốc tế, công tác đối ngoại, công tác tư tưởng, công tác TTĐN.
Kết hợp nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn.
- Phương pháp lịch sử và lôgic: các nghiên cứu đều bắt đầu từ lịch sử
của vấn đề, đặt vấn đề trong bối cảnh chung của đất nước, khu vực, quốc tế.
Sử dụng những tư liệu, sự kiện, dữ kiện lịch sử, chọn lọc những sự kiện điển
hình để hệ thống, thống kê, mô hình hoá sự kiện. Đồng thời, các nghiên cứu
17


luận:
- Hệ thống hoá các quan niệm, khái niệm về TTĐN, các văn bản, tài
liệu của Đảng và nhà nước liên quan đến TTĐN.

18


- Làm phong phú thêm lý luận về nội dung, đối tượng, phương pháp
hoạt động TTĐN.
- Chỉ ra mối liên hệ biện chứng giữa chủ động, tích cực hội nhập quốc
tế với đẩy mạnh hoạt động TTĐN của Việt Nam.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân
đẩy mạnh hơn nữa hoạt động TTĐN của mình.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và
nghiên cứu các môn học của chuyên ngành TTĐN như “Đại cương TTĐN”,
“Tổ chức hoạt động TTĐN”, “Thu thập xử lý TTĐN”, “Tổ chức sản xuất sản
phẩm TTĐN”, “Quản lý hoạt động TTĐN”, “Các chuyên đề TTĐN”… Đồng
thời làm tài liệu phục vụ công tác bồi dưỡng cán bộ TTĐN.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài, nhất là những kiến nghị sẽ góp phần
tích cực vào công tác giảng dạy, học tập, quản lý người nước ngoài, đặc biệt
là sinh viên nước ngoài ở Việt Nam nói chung và ở Học viện Báo chí và
Tuyên truyền cũng như ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nói
riêng.
6. Kết cấu của đề tài
Đề tài bao gồm phần mở đầu, kết luận, 4 chương, 12 tiết và danh mục
tài liệu tham khảo.

19


Campuchia luôn gắn liền và tác động mật thiết với việc bình thường hóa quan
hệ Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Mỹ cũng như sự cải thiện quan hệ
Việt Nam - các nước ASEAN, cho nên từ sau Đại hội VI, đặc biệt là sau Nghị
quyết 13 của Bộ Chính trị (1988) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa
VI (1989), Việt Nam đã có những điều chỉnh cơ bản về chính sách đối ngoại.
Theo đó, cùng với chủ trương bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và
20


Mỹ, Việt Nam coi trọng cải thiện quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam
Á, xác định rõ giải quyết vấn đề Campuchia là khâu đột phá, có ý nghĩa quyết
định trong việc tạo môi trường quốc tế hoà bình, ổn định ở khu vực, thuận lợi
cho phát triển đất nước.
Nhằm thúc đẩy tiến trình mở rộng quan hệ đối ngoại, Đại hội VI của
Đảng nêu chủ trương chiến lược: “mở rộng sự hợp tác và tranh thủ sự ủng hộ
quốc tế”37. Trên cơ sở đó và trước những diễn biến phức tạp của tình hình
quốc tế sau sự tan rã của Liên Xô, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992)
chính thức xác định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng
hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế. Chủ trương chiến lược của Đại hội
VII tiếp tục được Đại hội VIII khẳng định, bổ sung và đến Đại hội IX phát
triển thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong
cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển”38. Như vậy,
quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng đã đưa đến việc xác lập những
nội dung, tính chất cơ bản trong đường lối đối ngoại từ “rộng mở”, “là bạn”
đến “đa dạng hóa, đa phương hoá quan hệ quốc tế” và “sẵn sàng là bạn, là
đối tác tin cậy”. Đây là sự thể hiện tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, kiên
định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lược, gắn kết mục tiêu cách mạng và
định hướng phát triển đất nước vào những xu thế phát triển của thời đại. Với
sự điều chỉnh chính sách đối ngoại như đã nêu, Việt Nam đã từng bước phá
được thế bị bao vây cấm vận, hóa giải tương đối thành công những khó khăn,

sự ghi nhận những đóng góp của Việt Nam và cũng là một thắng lợi trong
triển khai chính sách đối ngoại đổi mới, tạo điều kiện đưa Việt Nam thoát ra
khỏi vòng bao vây, cô lập kéo dài của các thế lực thù địch, đặt nền móng cho
quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam thời kỳ sau chiến tranh lạnh.
Củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa ba nước Đông Dương
luôn là một ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam nói
chung và trong quá trình hội nhập quốc tế nói riêng. Với Lào, tình hữu nghị
đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện tiếp tục được củng cố và có nhiều
bước phát triển quan trọng. Việt Nam triển khai hợp tác một cách toàn diện,
giúp bạn phát triển kinh tế - xã hội với hàng loạt các hạng mục kinh tế, khoa
học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục - đào tạo..., góp phần duy trì ổn định chính trị
- xã hội, an ninh của Lào. Việt Nam một mặt lấy mối quan hệ mật thiết giữa
hai Đảng làm nòng cốt, mặt khác không ngừng mở rộng và nâng cao hiệu quả
hợp tác kinh tế, coi đó là tiền đề vật chất gắn kết hai nước trên cơ sở lâu dài,
bền vững. Mối quan hệ hợp tác ngày càng tiến triển theo hướng thực chất
hơn, phát huy thế mạnh và tiềm năng của mỗi nước, bình đẳng, cùng có lợi,
dành sự ưu tiên ưu đãi hợp lý cho nhau, phù hợp với tính chất của quan hệ
đặc biệt giữa hai nước. Hiện nay, Việt Nam là một trong những đối tác kinh
tế hàng đầu của Lào với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 1 tỷ USD, kim ngạch
thương mại đạt trên 200 triệu USD.
Việt Nam đã kịp thời điều chỉnh quan hệ với Campuchia trên cơ sở mới
phù hợp với tình hình đã thay đổi sau khi có giải pháp cho vấn đề Campuchia,
phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thân thiện, thông qua thương lượng
giải quyết những vấn đề còn tồn tại. Đến nay, hai nước xác lập phương châm
chỉ đạo quan hệ là “Hợp tác láng giềng tốt đẹp, đoàn kết hữu nghị truyền
thống, ổn định lâu dài”. Hai bên đã ký nhiều hiệp định hợp tác trong các lĩnh
vực, trong đó đáng chú ý nhất và quan trọng nhất là việc Campuchia cam kết
công nhận và tôn trọng các hiệp ước, hiệp định biên giới đã ký với Việt Nam
những năm 80. Hai bên đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực như giáo dục,
đào tạo, năng lượng - điện, y tế, giao thông vận tải... Trao đổi thương mại tiến

giải quyết vấn đề lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai
nước trong Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ.
Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam đã quán triệt tốt phương châm
“vừa hợp tác vừa đấu tranh” đối với những vấn đề còn bất đồng và tranh chấp
thì kiên trì lập trường nguyên tắc và sự độc lập tự chủ của mình.
Triển khai đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa,
Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng xây dựng và phát triển quan hệ với các
nước ASEAN. Gia nhập ASEAN trở thành bước đột phá trong chính sách đối
ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam, cho thấy rõ ưu tiên của Việt Nam đối
39

Bộ Ngoại giao (1995), Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr.110

23


với khu vực. Từ sau sự kiện này, Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập khu
vực mạnh mẽ, đồng thời cải thiện rõ rệt thế và quan hệ với các nước lớn. Nói
cách khác, nếu không là thành viên ASEAN, quan hệ của Việt Nam với các
nước lớn khó có thể phát triển như thực tế đã diễn ra.
Sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam nỗ lực thực hiện đầy đủ mọi cam
kết và trách nhiệm của một nước thành viên, chủ động đưa ra những sáng
kiến nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực, hoàn thành nhiều trọng trách trước Hiệp
hội. Việt Nam tiếp tục mở rộng quan hệ nhiều mặt, trên nhiều tầng nấc trong
khuôn khổ đa phương và song phương, đóng góp thiết thực vào quá trình hợp
tác liên kết ASEAN hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào
năm 2015 với ba trụ cột An ninh, Kinh tế và Văn hóa - xã hội. Các nước
ASEAN hiện có gần 1 nghìn dự án đầu tư đang triển khai ở Việt Nam, với số
vốn đầu tư trên 13 tỉ USD, chiếm gần 20% vốn đầu tư các dự án nước ngoài ở

nhằm duy trì và thúc đẩy quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, kể cả an ninh
quốc phòng. Hai nước đã xác lập mối quan hệ đối tác chiến lược (2001), cùng
với một loạt các hiệp định về hợp tác kinh tế - thương mại, khoa học kỹ thuật,
dầu khí, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, tổ hợp công nông nghiệp. Gần đây,
kim ngạch buôn bán giữa hai nước và đầu tư của Nga vào Việt Nam có chiều
hướng tăng, hiện kim ngạch mậu dịch đã vượt 1,5 tỷ USD.
Bên cạnh quan hệ chính trị tốt đẹp, hợp tác về kinh tế, thương mại,
khoa học kỹ thuật, an ninh quốc phòng giữa Việt Nam và Ấn Độ có bước phát
triển thể hiện sự tin cậy lẫn nhau. Hai nước ký Tuyên bố chung về Đối tác
chiến lược mới (7/2007). Từ năm 2007, Ấn Độ đã lọt vào nhóm 10 nước có
vốn đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, đồng thời Việt Nam cũng trở thành nước
tiếp nhận FDI lớn nhất từ Ấn Độ ở Đông Nam Á.
Việt Nam tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt với Nhật Bản,
nhất là trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển, văn
hóa, du lịch, chuyển giao công nghệ. Hiện nay Nhật là bạn hàng lớn nhất, là
nước cung cấp viện trợ phát triển nhiều nhất và đầu tư lớn ở Việt Nam. Quan
hệ Việt Nam - Nhật Bản hiện vẫn năng động tiến vững trên đường hướng tới
đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á.
Với Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam đã ký với hầu hết các nước EU
Hiệp định khung về hợp tác, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp
định tránh đánh thuế hai lần... tạo cơ sở pháp lý cho xây dựng và phát triển
mối quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài. Phát triển quan hệ song phương đã góp
phần thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - EU. Việt Nam đang tích cực thực
hiện “Đề án tổng thể về quan hệ Việt Nam - EU đến năm 2010 và định
hướng đến 2015” được đưa ra từ 6/2005.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những nội dung quan trọng hàng
đầu trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta. Nước ta thực sự đẩy mạnh
việc tham gia hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế từ khi tham gia
ASEAN (1995) và các định chế kinh tế, tài chính thương mại của ASEAN
như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực đầu tư ASEAN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status