LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo cao đẳng tại trường Cao đẳng Sơn
La, gắn liền việc đào tạo với thực tiễn. Được sự đồng ý của khoa Nông lâm,
trường Cao đẳng Sơn La, đặc biệt là thầy Nguyễn Lương Thiện giúp tôi thực
hiện chuyên đề tốt nghiệp “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của
loài Bạch đàn trắng(Eucalyptus camaldulensis) tại Phường Chiềng SinhThành Phố Sơn La”
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành chuyên đề xin trân trọng cảm ơn
Ban giám hiệu trường Cao đẳng Sơn La, Khoa Nông lâm, các thầy cô giáo, đặc
biệt là thầy Nguyễn Lương Thiện, người trực tiếp hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ,
truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học
tập cũng như trong quá trình hoàn thành chuyên đề.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Phường Chiềng Sinh, các
thành viên trong tổ đội tuần tra bảo vệ rừng tại Phường Chiềng Sinh và bạn bè
xa gần đã giúp đỡ tôi về thời gian, vật chất và tinh thần để tôi có thể hoàn thành
chuyên đề.
Mặc dù đã làm việc với tất cả những nỗ lực, nhưng vì trình độ và thời
gian còn hạn chế nên chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các nhà khoa
học và bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 4 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Lò Văn Huân
0
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là tài nguyên quý giá của trái đất, rừng không những là cơ sở phát
triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái học cực kỳ quan trọng,
Các chuyên gia sinh thái học đã khẳng định rừng là một hệ sinh thái hoàn
chỉnh nhất. Thực vật rừng có sự biến động cả về số lượng và chất lượng khi yếu
tố ngoại cảnh thay đổi, rừng và con người có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Chính vì lý do đó cây rừng được con người quan sát, xem xét, nghiên cứu từ xa
xưa và một trong những khía cạnh con người đi vào tìm hiểu, nghiên cứu đó là
phục hồi lại rừng Bạch Đàn Trắng qua tái sinh rừng. Trên thế giới việc nghiên
cứu tái sinh rừng đã trải qua hàng trăm năm, nhưng riêng đối với rừng nhiệt đới
vấn đề này mới chỉ được đề cập đến từ khoảng những năm 1930 trở lại đây.
Rất nhiều cụng trình nghiên cứu đã phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến
tái sinh rừng. Trong đó nhân tố được đề cập nhiều nhất là ánh sáng (Thông qua
độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, cây bụi, dây leo và thảm tươi là những nhân
tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng. Trong rừng nhiệt đới, sự thiếu
hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nẩy mầm và
phát triển của mầm non thường không rõ (Baur, 1962). Khi nghiên cứu tái sinh
rừng tự nhiên, các tác giả nhận định thảm cỏ và cây bụi đã ảnh hưởng tới cây tái
sinh của các loài thân gỗ. Những lâm phần đã khép tán, tuy thảm cỏ phát triển
kém nhưng cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng của chúng vẫn ảnh hưởng đến
cây tái sinh. Những lâm phần đã qua khai thác, thảm cỏ có điều kiện phát sinh
mạnh là nhân tố ảnh hưởng xấu đến tái sinh rừng. Ghent. A. W (1969) đề nghị,
thảm mục, chế độ thuỷ nhiệt, tầng đất mặt với tái sinh rừng cũng cần được làm
rõ.
Các công trình nghiên cứu được trích dẫn trên đây, đã phần nào làm sáng tỏ
đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên ở rừng nhiệt đới, đó là những cơ sở để xây dựng
các phương thức tái sinh. Trong nghiên cứu, việc điều tra đánh giá tái sinh cần
lựa chọn những phương pháp phù hợp với đối tượng nghiên cứu.
2
1.2: Ở Việt Nam.
NGHIÊN CỨU.
2.1: Đối Tƣợng Nghiên Cứu.
- Đánh giá tình hình sinh trưởng và phát triển của cây bạch đàn trắng tại
phường Chiềng Sinh, Thành Phố Sơn La.
2.2: Địa Điểm Nghiên Cứu.
Bản Hay Phiêng Phường Chiềng sinh Thành Phố Sơn la.
2.3: Mục Tiêu Nghiên Cứu.
2.3.1 Mục tiêu chung.
Góp phần quản lý và phát triển rừng cây bạch đàn trắng.
2.3.2: Mục Tiêu Cụ Thể.
- Xác định được đặc điểm của cây bạch đàn trắng.
- Điều tra và phát triển của loài bạch đàn trắng tại phường Chiềng Sinh
Thành phố Sơn la.
2.4: Nội Dung Nghiên Cứu.
- Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra ,căn cứ vào đặc điểm của đối
tượng nghiên cứu, phạm vi và giới hạn nghiên cứu ,đề tài xác định nội dung như
sau:
2.4.1 Điều tra về sự sinh trưởng của bạch đàn trắng. đo các chỉ tiêu của cây
2.4.2 Xác định mật độ cây/ha. Phân bố cây theo kích cỡ và chiều cao.
2.4.3 Đưa ra được giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng trồng bạch đàn trắng.
2.5: Phƣơng pháp Nghiên Cứu.
2.5.1. Quan điểm và phương pháp luận
Sinh trưởng của cây rừng là sự tăng về kích thước, đường kính, chiều
cao,thể tích thân cây…Hay nói cách khác đó là thực thể sinh học. Nó chịu sự tác
động tổng hợp của các nhân tố môi trường và các nhân tố nội tại trong bản thân
mỗi cá thể và quần thể. Vì vậy, khi nghiên cứu sinh trưởng không thể tách rời
ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố đó.
4
5
- Đường kính (D1.3) đo bằng thước kẹp kính hoặc thước đo vanh có độ
chính xác đến 0.1cm
- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) dùng thước
Blume leiss có độ chính xác 0,1m kết hợp với sào đo cao tại tuổi 2
- Đường kính tán lá (Dt )dùng thước dây có độ chính xác 0.1dm, đo theo 2
chiều Đông-Tây, Nam-Bắc.
Mẫu biểu điều tra 01
OTC số:………………...Vị trí: …………………...Loại rừng:…………….
Độ tán che:……………..Đối tượng:………………Loại đã mẹ:…………...
Tên đất:…………………Ngày điều tra:…………...Người điều tra:. ………
STT
Tên cây
D1.3
Dt
Hvn
Hdc
Sinh trưởng
Tốt
TB
Độ tán che:……………...Đối tượng:……………...Loại đã mẹ:……………
Tên đất:…………………Ngày điều tra:…………..Người điều tra: ……….
STT
Cấp hại
Tên cây
Cấp hại Cấp hại Cấp hại Cấp hại Cấp hại
0
nhẹ
vừa
nặng
rất nặng
Ghi chú
- Đối với sâu bệnh hại thân cành:
Đối với điều tra sâu bệnh hại điều tra tổng số cây bị hại so với tổng số
cây điều tra.
Đánh giá mức độ bị hại dựa vào các tiêu chuẩn sau:
+Cấp 0 (không bị hại )có tỷ lệ bị hại bằng 0
+Cấp I (hại nhẹ ) có tỷ lệ bị hại dưới 10%
+Cấp II (hại vừa) có tỷ lệ bị hại từ 10-25%
+Cấp III (hại nặng ) có tỷ lệ hại từ 26-50%
- Số liệu nghiên cứu được xử lý bằng hai phần mềm Excel
2.5.3.1. Kiểm tra tính thuần nhất của các ÔTC trong cùng một địa điểm nghiên
cứu
- Tiến hành kiểm tra tính thuần nhất của các ô tiêu chuẩn trong cùng một
độ tuổi và cùng cấp đất về đường kính và chiều cao để đánh giá sinh trưởng cây
trong lâm phần ở các địa hình khác nhau có thuần nhất với nhau hay không.
2.5.3.2.Tính toán các đặc trưng thống kê
- Các chỉ tiêu về sinh trưởng đường kính (D1.3), chiều cao (Hvn):
+ Bình quân cộng được tính theo công thức chia tổ ghép nhóm
X
1 n
fi.xi
n i 1
=
xi là trị số giữa tổ
fi là tần số tương ứng với xi
+ Độ lệch chuẩn theo công thức:
n
S=
(x
i 1
i
x)
D
Xác định mật độ lâm phần
N/ha =
104
.N
S
Tính tổng tiết diện……….
G/ha =
104
104
.G
. ni .gi
S
S
Thể tích của lâm phần
104
V/ha =
. vi .ni
S
Trừ lượng lâm phần
M/ha =
104
. ni .Vi
cầu, nên nhiệt của phường cũng có xu hướng tăng lên so với 20 năm trước từ 0,5
– 0,60c.
-Mưa: Tổng lượng mưa bình quân là 1.307mm với 118 ngày mưa/năm.
Lượng mưa phân bố không đồng đều ở các tháng , trung bình là 150mm/tháng.
Với lượng mưa 1.308 phường chiềng sinh có lượng mưa trung bình thấp so với
10
mức bình quân cua cả nước. Mùa mưa kéo dài 6-7 tháng (từ tháng 4 đến tháng
9), với lượng mưa chiếm 84-92% tổng lượng mưa cả năm, là thời kỳ độ ẩm
được cải thiện, thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng,
Tuy nhiên trong thời kỳ này do lượng mưa lớn tập trung (lượng mưa ngày cực
đại lên tới 146mm) dễ ngây hiện tượng sói mòn, rửa trôi, trượt lở đất, lũ ống, lũ
quét... làm hư hỏng các công trình giao thông thủy lợi, gây thiệt hại cho sản xuất
Lâm nghiệp, tài sản và đời sống nhân dân, làm giảm chất lượng nông lâm sản
sau thu hoạch. Ngược lại mùa khô kéo dài, lượng mưa nhỏ thường gây khô hạn,
thiếu nước cho sản xuất nông lâm nghiệp và sinh hoạt, nhất là các bản cao, ảnh
hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng.
-Độ ẩm và lượng bốc hơi: Độ ẩm tương đối trung bình năm là 81%, cao
nhất trung bình năm là 884,1 mm/năm. Lượng bốc hơi quan hệ với lượng mưa
và phân bố không đều tạo nên một thời khô hạn gay gắt ( từ tháng 10 năm trước
đến tháng 5 năm sau). Đây là thời kỳ lượng bốc hơi cao hơn lượng mưa nhiều
lần. Khiến độ ẩm tầng đất mặt luôn dưới mức độ âm cây héo rất nhiều nên thời
kỳ này không thể canh tác cây ngăn ngày nếu không có hệ thống tươi tiêu.
-Số giờ nắng: Bình quân năm 1.930 giờ, tương ứng với mức trung bình cả
nước, số giờ nắng cao, đây là điều kiện thuận lợi cho địa phương có điều kiên
phát triển một nền sản xuất nông lâm nghiệp tương đối thuận lợi nhưng nó cũng
có điều kiện bất lợi, tạo đều kiện cho hiện tượng, tình trang khô hạn trung những
tháng mùa khô dẫn đến thiếu nước cho sản xuất nông lâm nghiệp.
-Một số hiện tượng thời tiết cực đoan:
(mm)
(giờ)
(mm)
(%)
1
15,4
23
142
64,6
78
2
17,8
30
140
75,8
213
171
79,1
82
6
25,1
174
136
67,8
85
7
25,1
263
152
63,3
65
158
71,6
82
11
18,5
21
185
64,7
81
12
15,8
17
157
62,9
trinh sản xuất là từ khi thu hái, chế biến, bảo quản hạt giống, gieo ươm, trồng,
chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, phòng trừ cháy rừng, thu hoạch và vận xuất vận
chuyển .
- Với nền nhiệt ẩm cao quanh năm đặc biệt vào mùa mưa, bức xạ nhiệt
dồi dào, lượng mưa phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp
phát triển mở rộng, thuận lợi cho công tác khoanh nuôi tái sinh và phục hồi rừng
tự nhiên.
- Do điều kiện thời tiết thuận lợi có thể kết hợp trồng rừng bằng nhiều
phương thức khác nhau như: Gieo hạt thẳng, trông bằng cây con, trông bằng
hom, cành...
- Có thể phát triển các mô hình sản xuất nông lâm kết hợp, tiến hành thâm
canh tăng vụ, tăng năng xuất cây trồng. Trồng xen canh gối vụ, nhiều loại cây
trên cùng một diện tích đất rừng, đặc biệt đối với diện tích rừng chưa khép tán
có thể trồng xem các loại cây nông nghiệp để giải quyết thu nhập trước mắt cho
nhân dân các dân tộc.
- Do độ giao động của thời tiết khá rộng, phân hóa có tính chất theo vùng
nên đã tạo cho tỉnh có điều kiện khí hậu đa dạng với nhiều đặc sản quý có thể
khai thác và sử dụng cho nhu cầu tại chỗ và tham gia xuất khẩu. Đặc biệt có thể
kết hợp trông nhiều loại cây khác nhau phân bố tại các vùng sinh thái đặc trưng
của phường, từ đó cho phép phát triển một nền nông lâm nghiệp phong phú khai
thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương miền núi.
* Những khó khăn:
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, trên cơ sở các số liệu cho thấy, điều
kiện khí tượng, thời tiết trên địa bàn phường cũng đưa đến không ít nhựng khó
khăn, làm cản trở hoặc pháp hại cơ sở vật chất và thành quả sản xuất lâm nghiệp
như:
13
14
-Thực trạng kinh tế- xã hội: Toàn phường hiện có 1522 hộ với 6810 nhân
khẩu, trong đó dân tộc kinh có 778 hộ 2978 nhân khẩu, dân tôc thái có 695 hộ
với 3783 khẩu và dân tộc mông 12 hộ 49 khẩu. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là
1,2% . Thu nhập bình quân đầu người/năm: Khu vực kinh doanh dich vụ đạt 8,4
triệu đồng và khu vực sản xuất nông nghiệp đạt 4,8 triệu đồng.
Số hộ đươc xem truền hình 95%, tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh 80% tỉ lệ hộ
dùng điện lới quốc gia là 94%. Đến nay số hộ khẩu giầu chiếm 76%. Hộ nghèo
theo tiêu chí hiên nay giảm xuống còn 45 hộ, chiếm 2%. Tỷ lệ người biết chữ,
phổ cập thông cơ sở, trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt tỉ lệ cao.
Trong những năm qua công tác y tế đã được chú trọng, chất lượng khám
chữa bệnh đã được nâng lên, các dich bệnh nguy hiểm giảm đáng kể. Phong trào
thể dục thể thao ở phường được tổ chưc sâu, rộng với nhiều loại hình tập luyện
và duy trỳ thường xuyên.
Hoạt động của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn
Phường đang diễn ra rất sôi động. Ngoài ra các ngành nghề truyền thống như dệt
thổ cẩm, sản xuất chăn đệm dân tộc... cũng được chú trọng và phát triển song
chủ yêu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân địa phương. Hiện nay trên
địa bàn phường có cụm công nghiệp tập trung với diện tích 250 ha. Giá trị sản
xuất CN-TTCT trên địa bản năm 2006 đạt 99,626,5 triệu đồng.
Hoạt động dich vụ thương mại trong mấy năm qua phát triển mạnh, ngày
càng được mở rộng quy mô và hình thức. Toàn phường hiện có 250 hộ kinh
doanh dịch vụ gồm có: Sửa xe máy, ô tô, ăn uống, bán hàng tạp hóa.... nhìn
chung các loại hình dịch vụ cung ứng vật tư thiết bị phục vụ kịp thời nhu cầu đời
sống, sinh hoạt của nhân dân, đông thời dịch vụ vận chuyển hàng hóa ngày càng
phát triển đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế -xã hội. Giá trị Sản phẩm dich
vụ 20,206 triệu đồng /năm 2006
Cơ sở hạ tầng dần được hoàn thiện 100% thôn, bản, tiểu khu đã có đường
Thảm thực vật tự nhiên thưa thớt, phân bố không đồng đều trên địa bàn phường.
Trong những năm qua sự đầu tư của nhà nước theo các chueong trình dự án
327,661 sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn phường tập trung vào các lĩnh vực
trồng rừng, chăm sóc, tu bổ rừng. Tổng diện tích đất lâm nghiệp của phường có
636,1 ha, trong đó đất rừng tự nhiên là 318,22ha đất rừng trồng 317,88ha. Đã
giao khoán nuôi tác sinh tự nhiên và bảo vệ rừng hiện là 516 ha rừng hiện còn.
16
Công tác qản lý, khai thác chế biến lâm sản trong những năm qua có
nhiều chuyển biến tích cực, diện tích đất lâm nghiệp được giao khoán cho các hộ
gia đình cá nhân, tổ chức, cộng đồng khoanh nuôi bao vệ do vậy tình trạng đốt
phá rừng làm nương và khai thác gỗ củi đốt bừa bãi đã được khống chế.
Trên địa bàn có một số xưởng chế biến đồ gỗ gia dụng phục vụ nhu cầu
đồ gỗ gia dụng cho nhân dân trong phường. Tuy nhiên các xưởng chế biến gỗ
chủ yếu quy mô sản xuất nhỏ, sử dụng 3 đến 4 lao động.
Hệ động vật rừng đã cạn kiệt do chặt phá rừng làm nương, khai thác gỗ
củi, săn bắn thú rừng từ lâu, hơn nữa nơi đây rất gần trung tâm đô thị nên chỉ
còn rất it động vật hoang dã nhỏ như: cầy cáo chồn sóc...
-Tập đoàn cây trồng vật nuôi khá phong phú.
Cây lương thực có: lúa, ngô, săn,... Cây công nghiệp có: cà phê, mía, dâu
tằm....cây ăn quả như: nhãn, xoài, chuối,....
Rau thực phẩm nhiều loại phong phú: các loại đậu, rau họ cải, cà chua, bầu bí...
Động vật chăn nuôi gia đình: Trâu bò lơn dê gia cầm....
Như vậy phường Chiềng Sinh có khí hậu đặc trưng mùa hè nóng đến sớm
mưa nhiều, mùa đông tương đối ít lạnh và khô, thích hợp với nhiều chủng loại
cây trồng, tạo điều kiện phát triển một nền sản xuất nông lâm nghiệp đa dạng và
bền vững. Tuy nhiên cũng có các yếu tố đề phòng bất lợi do ảnh hưởng của điều
kiện khí hậu mang lại như gió nóng, sương muối, mưa đá, khô hạn, lũ lụt... một
cách chủ động kịp thời và xác định cơ cấu nghành hợp lý nhằm nâng cao hiệu
S%
Chân đồi
1
57
12,5
1,44
9,28
Sườn đồi
2
62
14,7
3,4
0,23
Đỉnh đồi
3
được thống kê vào bảng sau.
Vị trí
Biểu 4.2 So sánh đƣờng kính tán tại 3 vị trí
OTC
n
Xtb(m)
S
S%
Chân đồi
1
57
1,9
0,63
33,15
Sườn đồi
2
62
1,8
19
4.1.3 So sánh sinh trưởng chiều cao vút ngọn Hvn
Chiều cao vút ngọn là là một nhân tố quan troongjtrong nghen cứu đánh
giá sự sinh trưởng về chiều cao vút ngọn của cây rừng, vì thế chiều cao vút ngọn
là chỉ tiêu phản ánh sinh trưởng của cây rừng, kết quả tính được Hvn của rừng
trồng Bạch đàn trắng tại 3 địa hình được thống kê vào bảng:
Biểu 4.3 so sánh sinh trƣởng Hvn trên 3 vị trí địa hình
Vị trí
OTC
n
Xtb(m)
S
S%
Chân đồi
1
57
12,7
là 12,7m, tại vị trí sườn đồi 9,5m, tại vị trí đỉnh đồi 10,6m. Hệ số biến động tại
vị trí chân đồi 25,5%, tại vị trí sườn đồi 146%, tại vị trí đỉnh đồi 3,30%. Qua
bảng số liệu kết quả tình toán trên cây trồng ở vị trí chân đồi là tốt nhất. Để kiểm
tra sinh trưởng của Bạch đàn ở 2 dạng địa hình có thuần nhất hay không tôi sử
dụng phương pháp kiểm tra theo ô tiêu chuẩn U.
Kết quả |U1,2| = 15,78 >1,96 vậy sinh trưởng chiều caovuts ngọn ở vị trí
chân và sườn đồi là không thuần nhất.
|U2,3| = 9,5 >1,96 vậy sinh trưởng chiều cao vút ngọn ở vị trí sườn và
đỉnh đồi là không.
|U1,3| = 1,28 >1,96 vậy sinh trưởng chiều cao vút ngọn ở vị trí chân và
đỉnh đồi là không thuần nhất.
4.1.4 So sánh sinh trưởng chiều cao dưới cành Hdc
Chiều cao dưới cành là chỉ tiêu phần ánh sáng sinh trưởng về cả chiều cao
và đường kính của cây rừng. Kết quả tình được chiều cao dưới cành của rừng
trồng Bạch đàn trắng tại 3 vị trí địa hình được thống kê vào bảng sau:
20
Biểu 4.4 so sánh sinh trƣởng Hdc trên 3 vị trí địa hình
Vị trí
OTC
n
Xttb(m)
S
71
5,3
4,17
78,7
Từ bảng số liệu tính toán trên ta thấy sinh trưởng Hdc trung bình của
Bạch đàn trắng ở Bản Hay Phiêng Phường Chiềng Sinh tại vị trí chân đồi là
6,3m, tại vị trí sườn đồi là 5,12m, tại vị trí đỉnh đồi là 5,3m. Hệ số biến động
(S%) tại vị trí chân đồi là 70,7%, tại vị trí sườn đồi là 74,2%, tại vị trí đỉnh đồi là
78,7%. Để kiểm tra sự sinh trưởng của Bạch Đàn ở hai dạng địa hình có thuần
nhất hay không tôi sử dụng phương pháp kiểm tra theo ô tiêu chuẩn U.
Kết quả |U1,2| = 6,21 >1,96 vậy sinh trưởng chiều cao dưới cành ở vị chí
chân và sườn đồi là không thuần nhất.
|U2,3) = 5,34 >1,96 vậy sinh trưởng chiều cao dưới cành ở vị trí sườn và
đỉnh đồi là không thuần nhất.
|U2,3| = 6,22 >1,96 vậy sinh trưởng chiều cao dưới cành ở vị trí chân và
đỉnh đồi là không thuần nhất.
4.2 Đánh giá câu trúc lâm phần
4.2.1 Phân bố số cây theo đường kính (N/D1.3) vị trí địa hình
* Phân bố số cây theo đƣờng kính
Phân bố số cây theo đường kính (N-D) là phân bố quan trọng nhất khi
nghên cứu quy luật phân bố của các đại lượng điều tra lâm phần. Dấy phân bố
N-D là cơ sơ xác định đại lượng điều tra lâm phần. Phân bố số cây theo đường
kính còn gọi là phân bố đường kính và thường được kí hiệu là N-D. Khi biểu thị
phân bố số cây theo đường kính của một lâm phần thuần loài đều tuổi cho biết
được khả năng sinh trưởng và phát triển của từng cá thể trong một lâm phần hay
một ô tiêu chuẩn (OTC). Kết quả tính được thống kê vào bảng sau:
Sƣờn đồi
D1.3
8,3
9,9
11,5
13,1
14,7
16,3
17,5
19,5
21,1
21,95
fi
2
7
7
13
11
3
9
3
6
1
Đỉnh đồi
D1.3
9,5
10
11,5
Chân đồi
Hvn
7,5
8,5
9,5
10
11
12
13
fi
1
1
3
10
14
10
13
Sƣờn đồi
Hvn
9,25
9,75
10,25
10,7
11,25
11,75
12,25
22
15
4
1
12,75
13,25
12
4
12,2
12,8
13,4
3
10
11
Qua bảng phân bố cây theo chiều cao vút ngọn ta thấy sự phân bố cây
theo cỡ chiều cao ở 3 vị trí trên có sự khác nhau cụ thể như sau: Tại chân đồi số
cây tập chung nhiều ở cỡ chiều cao từ 10 đến 13m, tại sườn đồi số cây tập chung
chủ yếu ở cỡ chiều cao từ 10 đến 12m, tại vị trí đỉnh đồi số cây tập chung chủ
yếu ở cỡ chiều cao từ 10,4 đến 13,4m, vậy có thể cho ta thấy trên 3 vị trí địa
hình khác nhau thì cây rừng có sự sinh trưởng và phát triển khác nhau.
4.2.3 Phân bố cây theo chiều cao dưới cành (Hdc) ở 3 vị trí địa hình
Biểu 4.7 phân bố số cây theo chiều cao dƣới cành
Chân đồi
Sƣờn đồi
Đỉnh đồi
6,25
4
6,15
16
6
3
6,75
11
6,85
6
6,5
8
7,25
3
7,55
5
7
6
7,75
8
8,25
10
7,5
7
8,25
1
8,8
2
8
7
2,5
3,5
Đỉnh đồi
fi
47
11
4
Dt
1,5
2,5
3,5
Fi
43
19
9
Qua bảng phân bố cây theo đường kính tán ta thấy số cây phân bố số cây
theo đường kính tán ở 3 vị trí trên không có sự khác nhau, cả 3 vị trí cây tập
chung ở cỡ đường kính từ 1,5 đến 2,5m.
4.3 Đánh giá chất lƣợng cây
Chất lượng rừng trồng là chỉ tiêu đánh giá tình hình sinh trưởng của rừng
trồng. Từ chất lượng của cây ta có thể viết được chất lượng của một lâm phần
(khu rừng)
Quá trình điều tra và tình hình sinh trưởng của rừng trồng bạch đàn trắng
thuần loài tại Bản Hay Phiêng Phường Chiềng Sinh ta đẫ thu được kết quả thống
kê vào bảng sau:
Biểu 4.9 đánh giá chất lƣợng cây tai 3 vị trí
Đỉnh đồi
16
32
23
71
Tổng
46
91
53
190
Tỷ lệ phần %:
Cây tốt: (46*100%)/190 = 24,21%
Cây trung bình: (91*100%)/190 = 47,89%
Cây xấu: (53*100%)/190 = 27,98%
Qua bảng thống kê và tỷ lệ % ta thấy chất lượng cây trồng với tỷ lệ cây tốt
chiếm 24,21%, cây trung bình chiếm tỷ lệ 47,89%, cây xấu chiếm 27,98%. Kết
quả trên cho ta thấy ở 3 vị trí địa hình phát chưa tốt. Cần phải nâng cao hơn quá
24