ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
------******------
KS. QUÀNG THỊ VÂN THẢO
GV KHOA NÔNG LÂM
“ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ
LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN TRÊN MỘT SỐ GIỐNG
ĐẬU XANH TRỒNG VỤ HÈ TẠI XÃ CHIỀNG MUNG, HUYỆN MAI
SƠN, TỈNH SƠN LA”
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NĂM HỌC 2012 - 2013
SƠN LA - 2013
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
------******------
KS. QUÀNG THỊ VÂN THẢO
GV KHOA NÔNG LÂM
“ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ
LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN TRÊN MỘT SỐ GIỐNG
ĐẬU XANH TRỒNG VỤ HÈ TẠI XÃ CHIỀNG MUNG, HUYỆN MAI
SƠN, TỈNH SƠN LA”
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
9. KẾ HOẠCH THỜI GIAN:..........................................................................16
NỘI DUNG ......................................................................................................... 17
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: ................................... 17
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: .............................. 19
2.1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu trên thế giới: ............................................. 19
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam: .............................................. 20
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................................... 25
3.1. Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hƣởng của một số mật độ trồng đến sinh
trƣởng phát triển, năng suất của 2 giống đậu xanh trong điều kiện vụ hè: ...... 25
3.1.1. Ảnh hƣởng của mật độ trồng đến thời gian sinh trƣởng của hai giống
đậu xanh thí nghiệm (đơn vị: ngày) ................................................................. 25
3.1.2. Ảnh hƣởng của mật độ trồng đến đặc điểm hình thái của hai giống đậu
xanh thí nghiệm: ............................................................................................... 26
3.1.3. Ảnh hƣởng của mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá của hai giống đậu
xanh thí nghiệm: ............................................................................................... 28
3.1.4. Ảnh hƣởng của mật độ đến khả năng tích lũy chất khô của 2 giống
đậu xanh. ......................................................................................................... 30
3.1.5. Ảnh hƣởng của mật độ trồng đến số lƣợng và khối lƣợng nốt sần của hai
giống đậu xanh thí nghiệm: .............................................................................. 31
3.1.6. Ảnh hƣởng của mật độ trồng đến mức độ nhiễm sâu bệnh của hai giống
đậu xanh thí nghiệm ......................................................................................... 32
3.1.7. Ảnh hƣởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất của hai
giống đậu xanh thí nghiệm. .............................................................................. 34
3.1.8. Ảnh hƣởng của mật độ đến năng suất của 2 giống đậu xanh. ............... 36
3.2. Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hƣởng của liều lƣợng phân bón đến sinh
trƣởng phát triển, năng suất của 2 giống đậu xanh trong điều kiện vụ hè: ...... 38
3.2.1. Ảnh hƣởng của liều lƣợng phân bón đến thời gian sinh trƣởng của hai
giống đậu xanh thí nghiệm: .............................................................................. 38
N
P2O5
K2O
ĐB SCL
ĐVT
WHO
TB
NS
NSLT
NSTT
IRRI
CT
IPM
CTV
KL
SLNS
IMN
Từ viết đầy đủ
Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau quả Châu Á
Mật độ
Đối chứng
Tổ chức lƣơng thực thế giới
Phân bón
chỉ số diện tích lá
Đạm
Lân lâm thao
Kaliclorua
Đồng bằng sông Cửu Long
Đơn vị tính
làm thực phẩm (chè, xôi, cháo, bánh ếch, bánh tét, bún tàu (miến), kẹo, bánh,
rau sống (giá đậu), bánh mì ... (Điêu Thị Mai Hoa, 2007) [8]
Protein đậu xanh chứa đầy đủ các axit amin không thể thay thế và là
nguồn protein thực vật dễ tiêu hóa. Bằng kết quả nghiên cứu chế biến, các nhà
khoa học thuộc trƣờng Đại học Kaset sart (Thái Lan) cho rằng đậu xanh có thể
chế biến thành các hỗn hợp thực phẩm giàu protein có giá trị dinh dƣỡng cao với
giá thành hạ nhất. Sự kết hợp của bột đậu xanh với bột gạo, bột mì, vừng và các
gia vị khác có thể tạo thành các món ăn cao cấp thay cho các sản phẩm chế biến
từ sản phẩm chăn nuôi. Vì vậy thực phẩm chế biến từ đậu xanh có giá trị kinh tế
cao đối với sức khỏe con ngƣời. Do có giá trị dinh dƣỡng cao nên đậu xanh
dùng để sản xuất nhiều loại thực phẩm cho ngƣời già, trẻ em suy dinh dƣỡng.
Trong nhiều trƣờng hợp đậu xanh còn đƣợc sử dụng làm thuốc và giải độc. (Đỗ
Tất Lợi, 1977) [13]
Trong hạt đậu xanh, các phân tử protein chiếm khoảng 23 - 28% và đƣợc chia
thành hai nhóm: nhóm protein đơn giản và nhóm protein phức tạp. Trong nhóm
1
protein đơn giản chủ yếu là globulin, chiếm từ 60 - 80%, còn lại là albumin và một số
loại khác. Chức năng chính của protein dự trữ là cung cấp amino acid và nitơ cho quá
trình nảy mầm của hạt. Protein đậu xanh có chứa đầy đủ các tính chất chung nhất của
protein. Ngoài ra, protein đậu xanh còn có một số tính chất riêng biệt nhƣ khả năng
hút nƣớc và dầu tạo nhũ tƣơng, khả năng hoà tan trong nƣớc. Đó là một trong những
yếu tố quan trọng trong nghiên cứu và công nghệ sản xuất các sản phẩm từ đậu xanh.
(Nguyễn Xuân Thành, 1989 – 1991) [20]
Protein đậu xanh đƣợc đánh giá là có chất lƣợng tốt do có chứa đầy đủ
các amino acid không thay thế và hàm lƣợng của chúng tƣơng đối trùng với
tiêu chuẩn dinh dƣỡng dành cho trẻ em do tổ chức nông lƣơng thế giới (FAO)
và tổ chức y tế thế giới (WHO) đƣa ra. (Vander Maesen L. J. G, 1996) [31].
Lipid là những hợp chất hữu cơ có trong tế bào sống, không hoà tan
Muốn trồng và sản xuất đậu xanh có hiệu quả kinh tế cao, cần phải có các
giống mới năng suất và chất lƣợng cao, đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật
thâm canh hợp lý. Tại Sơn La, ngƣời dân do thiếu hiểu biết về giá trị dinh dƣỡng của
đậu xanh, chƣa có sự đầu tƣ thâm canh hợp lý, vì vậy năng suất và sản lƣợng trồng
đậu xanh còn thấp, cũng do chƣa áp dụng đúng các biện pháp kỹ thuật nhƣ bố trí mật
độ, phân bón hợp lý cho từng giống đậu xanh vì thế chƣa phát huy hết tiềm năng của
các giống.Trong thực tế đã có những kết quả nghiên cứu về mật độ và phân bón cho
một số giống đậu xanh phổ biến, song với mục đích so sánh để có lựa chọn về mật
độ và liều lƣợng phân bón thích hợp cho giống mới đƣa vào sản xuất tại địa phƣơng
góp phần cải thiện năng suất đậu xanh của huyện Mai Sơn nói riêng và của toàn tỉnh
Sơn La nói chung, từ thực tế đó tôi tiến hành thực hiện đề tài:
''Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên
một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã Chiềng Mung,
huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La''
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
2.1. Nghiên cứu đậu xanh trên thế giới:
Hiện nay trên thế giới có nhiều trung tâm, cơ quan, viện nghiên cứu đã và
đang nghiên cứu về cây đậu xanh. Đặc biệt trung tâm AVRDC là trung tâm có tập
đoàn đậu xanh lớn nhất thế giới (khoảng 250.000 mẫu), AVRDC đã nghiên cứu
ảnh hƣởng mật độ đến năng suất và cho rằng: “ những giống có tỷ lệ đẻ nhánh
thấp sẽ đƣợc trồng dày lên, nghĩa là tăng mật độ trong quần thể dẫn đến năng
suất”. Chƣơng trình AVRDC có những tập hợp khác nhau về nguồn vật liệu dùng
cho đậu xanh thích ứng với các vùng khác nhau. Mục tiêu của AVRDC là chọn ra
giống có tính thích ứng rộng, năng suất cao, chín sớm, tập chung, nâng cao chất
3
lƣợng, khả năng chống chịu sâu bệnh. Theo hƣớng này mà các tổ hợp lai của
AVRDC thƣờng có giá trị cao về năng suất, do đó các giống đã đƣợc chọn lọc và
trồng khắp nơi trên thế giới của AVRDC và các dòng chiếm 70% các giống cải
Năm 1988 – 1989 ở Indonexia đã nghiên cứu hiệu quả của việc nhiễm
khuẩn cho đậu xanh, làm tăng năng suất hạt lên 0,16 tấn/ha và làm tăng hàm
lƣợng protein cho hạt lên 1,27%. Nhờ khả năng cộng sinh với vi khuẩn cố định
nitơ phân tử mà cây họ đậu sẽ để lại cho đất từ 60 – 300 kg N/ha/năm.
(Ignacimutthu and CR. Babu, 1991) [25]
Vander Maesen L. J. G. (1996) [31] cho rằng trong điều kiện dài ngày,
cây đậu xanh có thời kỳ sinh trƣởng sinh dƣỡng và sinh trƣởng sinh thực cân
đối, dễ cho năng suất cao, nhất là gặp điều kiện dài ngày và nhiệt độ không khí
cao. Đây là một trong những nghiên cứu ảnh hƣởng của các yếu tố ngoại cảnh
đến năng suất đậu xanh. AVRDC cho rằng năng suất của cây tăng lên cùng với
sự tăng lên của bức xạ.
Khi nghiên cứu thành phần dinh dƣỡng của hạt, thân, lá và công dụng
của cây đậu xanh trong hệ thống trồng trọt, các tác giả phƣơng tây đã ví đậu
xanh nhƣ thịt cho ngƣời nghèo bởi lẽ nó có cho nguồn protein nhanh nhất mà
số lƣợng lại cao. Cứ 100g đậu xanh có 24,42g protein; 1,3g lipit; 60,2g gluxit;
cung cấp 340 calo, ngoài ra còn chứa các loại muối khoáng nhƣ Ca, P, Fe, Na,
K và các vitamin nhƣ A, B1, B2, C, PP với hàm lƣợng tƣơng đối lớn. (Trần
Đình Long, 1998) [12]
Ở Ấn Độ ngƣời ta khẳng định rằng trồng cây đậu xanh xen cao su có tác
dụng cải tạo đất, chống xói mòn, cố định đƣợc lƣợng đạm lớn cung cấp cho
cây cao su trong thời kỳ trồng mới và kiến thiết cơ bản. Cây đậu xanh là cây
trồng xen tốt với ngô, cùng mật độ ngô nhƣng sử dụng khoảng cách trồng xen
đậu xanh thì năng suất thu đƣợc 24,9 tạ ngô và 3,3 tạ đậu xanh so với trồng
không là 19,2 tạ ngô/ha. (Rathose S.S etall, 1980) [29].
Để phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tƣơng lai thì hƣớng nghiên cứu chủ
yếu là chọn lọc, cải tạo,.. để tạo ra giống có thời gian sinh trƣởng ngắn, năng
suất cao, chín tập chung phù hợp với hệ canh tác đa canh, luân canh, tăng vụ.
Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau mầu Châu Á hiện lƣu giữ gần 30000
giống đậu xanh. Mỗi năm đƣa ra khảo nghiệm trên mạng lƣới khảo nghiệm
Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã tập chung nghiên cứu chọn tạo
giống đậu xanh thích hợp với chế độ luận canh của vùng sản xuất Phippin , theo
hƣớng này một số giống chịu ẩm đã đƣợc chọn tạo. Đồng thời tác giả cũng đề
xuất mô hình các giống thích hợp với mô hình canh tác lúa – đậu. Việc trồng
xem giữa lúa cạn và đậu xanh đã thu đƣợc kết quả tƣơng đối khả quan, năng
suất lúa xen đậu đạt 73 – 87%, đậu xanh đạt 59 – 99% so với lúa trồng thuần.
6
Tại Nhật Bản thì các nhà chọn giống chú ý đến những giống cho năng suất giá
đỗ cao, giàu chất dinh dƣỡng. (Lairunggreang.C ,1985) [26]
2.2. Nghiên cứu đậu xanh trong nước:
Theo Nguyễn Mạnh Chính, Nguyễn Mạnh Cƣờng (2008) [1], thực tế ở
nƣớc ta cuộc cách mạng về giống đậu xanh đƣợc bắt đầu từ khi nhập nội các
giống, các dòng của AVRDC. Nhập nội giống có ý nghĩa rất quan trọng trong
công tác giống cây trồng, thông qua các thao tác nhập nội giống sẽ làm cho nguồn
giống trong nƣớc phong phú thêm nhiều chi, nhiều loài. Thời kỳ 1976 – 1978 bắt
đầu có vài giống của AVRDC tham gia trong tập đoàn giống đậu xanh nhập nội.
Viện Cây lƣơng thực đã giới thiệu giống ĐX102 là dòng cho năng suất cao của
AVRDC. Một tập đoàn giống đậu xanh phong phú đƣợc thu thập vào năm 1988
với 51 dòng lai chủ yếu của AVRDC và một số nƣớc Đông Nam Á (Thái Lan,
Philippin, Indonexia,..) Điều này đã thúc đẩy diện tích trồng đậu xanh, tạo điều
kiện cho cây đậu xanh tham gia nhiều chế độ luân canh, trồng xen,… tăng hiệu
suất sử dụng đất, tăng năng suất, nâng cao hiệu quả. Hiện nay nƣớc ta có nhiều
trung tâm nghiên cứu lớn về cây đậu đỗ trong đó có đậu xanh nhƣ:
+ Trung tâm đậu đỗ thuộc Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam
+ Viện nghiên cứu ngô thuộc Viện khoa học nông nghiệp kỹ thuật Việt Nam
+ Bộ môn đậu đỗ thuộc Viện khoa học nông nghiệp kỹ thuật Việt Nam
+ Trƣờng Đại học nông nghiệp Hà Nội
+ Bộ môn đậu đỗ thuộc Viện nghiên cứu rau quả
dựng các kỹ thuật xác định tính đa dạng sinh học và tăng cƣờng việc quản lý đa
dạng sinh học nông nghiệp trong các cộng đồng nông nghiệp và các cơ quan liên
quan đến việc bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp, thiết lập các chính sách, các
tiêu chuẩn và cơ chế riêng để bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp tại các vùng
đƣợc bảo vệ, trên các cánh đồng nông nghiệp và các vùng quan trọng khác, tạo ra
các công cụ giám sát tài chính và bảo vệ đa dạng sinh học nông nghiệp
() [36]
Cùng với việc nghiên cứu các biện pháp trồng trọt và bảo tồn nguồn gen
đậu xanh thì việc nghiên cứu các giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của các sản
phẩm đƣợc chế biến từ đậu xanh cũng rất quan trọng. Đó là các thực phẩm nhƣ
bánh đậu xanh, sữa đậu xanh, miến,… các sản phẩm đƣợc chế biến từ đậu xanh
từ lâu đã đƣợc sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt
Nam,… Công ty Acecook Việt Nam đã nghiên cứu và điều chỉnh các sản phẩm
đƣợc làm từ đậu xanh sao cho phù hợp với thị hiếu ngƣời tiêu dung không chỉ
8
trong và ngoài nƣớc, điều này góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế cho nhà
sản suất, ngƣời nông dân và tác động lại các công tác nghiên cứu về giống và
kỹ thuật. (Trần Thị Trƣờng và VTV, 2005) [22]
Theo Trần Văn Lài và cộng sự (1993) [11] cây đậu xanh ít phân cành,
nếu có thì sự phân cành không đáng kể, nó chỉ xảy ra với những cây thừa dinh
dƣỡng hay trồng với mật độ thƣa. Chiều cao cây và số cành cấp 1 không có
quan hệ chặt chẽ với năng suất. Theo ông cây đậu xanh thuộc nhóm cây C3
nên việc tăng bức xạ đồng nghĩa với việc tăng năng suất. Ông cũng chỉ ra rằng
những cây có bộ lá màu xanh đậm, cuống lá ngắn, diện tích phiến lá rộng,
không che lấp lẫn nhau, cứng cây, chống đổ tốt, chống sâu bệnh là những
giống cho năng suất cao. Những nghiên cứu của ông về cây đậu xanh trồng xen
canh ở vùng cây ăn quả thời kỳ cây chƣa khép tán cho thấy ngoài việc trồng
thuần, trồng xen cây đậu xanh ở vƣờn cây ăn quả vẫn cho giá trị kinh tế cao
vùng đồng bằng, trung du bắc bộ. Các nghiên cứu về khảo sát giống, so sánh
giống có ƣu thế về năng suất để chọn lọc và đƣa vào sản xuất thí điểm các thời
vụ trồng đậu xanh hợp lý ở các vụ xuân, hè, hè thu. Trên cơ sở giải quyết một
số khâu kỹ thuật nhƣ giống, thời vụ,... nhằm khai thác các điều kiện tự nhiên,
nâng cao năng xuất đậu xanh trong sản xuất và đề ra một số công thức luân
canh cho cây ở vụ hè, hè thu ( đây là vụ thích hợp nhất cho cây trên đất 3 vụ).
Ông đã đƣa ra một số thời vụ thích hợp cho cây đậu xanh nhƣ:
+ Vụ xuân gieo khoảng 8 – 20/3
+ Vụ hè gieo khoảng 25/5 – 15/6
+ Vụ đông gieo khoảng 15 – 25/9
Những vụ gieo sớm vào đầu tháng 3, do nhiệt độ thấp dẫn đến kéo dài
thời gian sinh trƣởng, tỷ lệ cây con bị lở cổ rễ cao. Gieo muộn tháng 4 đậu
xanh bị giảm năng suất do bị ngập mƣa lớn (tháng 5, 6) làm giảm số hạt trên
quả và số quả trên cây.
Thực hiện chính sách “ đổi mới quản lý nông nghiệp” trong 10 năm gần
đây, nông nghiệp Việt Nam đã có những bƣớc tiến bộ vƣợt bậc. Nƣớc ta từ một
nƣớc thƣờng xuyên phải nhập khẩu lƣơng thực mà nay đã là nƣớc xuất khẩu
đứng thứ 2 trên thế giới. Trong thành tựu chung này có phần đóng góp tích cực
của phân bón nói chung và phân hóa học nói riêng. Hiện nay theo chủ trƣơng
của Đảng và Nhà nƣớc sản xuất nông nghiệp cần tập chung theo hƣớng vừa có
sản phẩm nhiều về số lƣợng vừa phải chú ý nâng cao chất lƣợng. Trong sản
xuất để đạt đƣợc mục tiêu này việc sử dụng phân bón cân đối và hợp lý giữ vị
10
trí rất quan trọng.
Trong nhóm cây họ đậu thì cây đậu xanh là một trong những cây có giá
trị về dinh dƣỡng cũng nhƣ có giá trị về kinh tế, đây cũng là cây có tác dụng
cải tạo đất mà thời gian sinh trƣởng lại ngắn. Cũng nhƣ các cây họ đậu khác
cây đậu xanh cần đƣợc cung cấp đủ về lƣợng và đúng tỷ lệ các yếu tố dinh
- Thời gian gieo trồng: tháng 6/2012
- Cách bố trí thí nghiệm: thí nghiệm 2 nhân tố, gồm 4 công thức, bố trí
theo phƣơng pháp split - plot với 3 lần nhắc lại.
Nhân tố chính là mật độ (ô nhỏ) gồm các mức mật độ:
+ MĐ1: mật độ 25 cây/m2 (đối chứng)
+ MĐ2: mật độ 35 cây/m2
+ MĐ3: mật độ 45 cây/m2
+ MĐ2: mật độ 55 cây/m2
Nhân tố phụ là giống (ô lớn): G1 là ĐX208 ; G2 là ĐX11
- Diện tích thí nghiệm:
+ Diện tích mỗi ô nhỏ: 10 m2.
+ Diện tích mỗi ô lớn: 40 m2.
+ Diện tích khu thí nghiệm (10 m2/ô x 8 ô x 3 lần nhắc lại) = 240 m2, chƣa
kể dải bảo vệ
Sơ đồ thí nghiệm:
Dải bảo vệ
3
4
1
2
3
4
4
3
2
3
1
2
ĐX11
ĐX 208
ĐX11
5.2 Thí nghiệm 2:
Nghiên cứu ảnh hƣởng của liều lƣợng phân bón đến sinh trƣởng phát triển
và năng suất của giống đậu xanh ĐX208 và ĐX11 trong điều kiện vụ hè trên đất
Chiềng Mung, Mai Sơn, Sơn La
- Giống thí nghiệm: sử dụng 2 giống là ĐX208 và ĐX11
- Thời gian gieo trồng: tháng 06/2012
- Phân bón nền cho 1ha: bón 8 tấn phân chuồng + 400kg vôi bột/1ha
- Cách bố trí thí nghiệm: thí nghiệm 2 nhân tố, với 4 công thức, bố trí theo
kiểu Spit - plot với 3 lần nhắc lại.
12
Nhân tố chính là phân bón (ô nhỏ): với các mức bón:
+ PB1: nền (phân chuồng: 8 tấn/ha; vôi bột 400 kg/ha) (ĐC)
+ PB2: nền + 20kg N - 60 kg P2O5 - 40 kg K2O
4
3
2
1
3
4
2
3
2
4
1
2
3
1
4
lá mầm xòe ra trên mặt đất.
- Tỷ lệ mọc mầm (%): số cây trên ô mọc/số hạt gieo × 100 (theo dõi 100
hạt ở giữa ô thí nghiệm)
- Thời gian từ gieo đến ra hoa: xác định khi có khoảng 50% số cây trên ô
có ít nhất 1 hoa nở.
- Thời gian từ ra hoa đến thu lần 1 (ngày) : Tính từ khi bắt đầu ra hoa đến
khi thu hoạch lần đầu tiên (mỗi công thức theo dõi 5 cây ngẫu nhiên trên cả ba
lần nhắc lại).
- Thời gian từ thu lần 1 đến tận thu (ngày): Tính từ khi bắt đầu thu hoạch
lần 1 đến khi thu hoạch hết
- Chiều cao thân chính (cm): đo từ đốt 2 lá mầm đến đỉnh sinh trƣởng
ngọn, đo tại 5 điểm/ô, mỗi điểm đo 2 cây đại diện (mỗi ô đo 10 cây mẫu). Đo
khi chuẩn bị thu hoạch đo tại đốt trên lá mầm, đo tại 5 điểm/ô, mỗi điểm đo 2
cây đại diện. Đo cùng với đo chiều cao thân chính
- Chỉ số diện tích lá (m2 lá/ m2 đất): lấy ngẫu nhiên 5 cây ở mỗi công
thức, tiến hành bằng phƣơng pháp cân nhanh ở 3 thời kỳ bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ
và quả mẩy.
- Tích lũy chất khô (g): cho cây mẫu vào tủ sấy trong 9 - 12 giờ sau đó đem
cân lần 1, 30 phút sau đem cân lần 2 thấy hiện số lần 1, lần 2 không đổi là đạt. Tiến
hành lấy mẫu xác định ở 3 thời kỳ: bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ và quả mẩy.
- Nốt sần: đếm tổng số nốt sần, nốt sần hữu hiệu ở 3 thời kỳ bắt đầu ra hoa,
thu lần 1 và tận thu mỗi ô lấy 5 cây đại diện để xác định. Tính trung bình.
5.4.2.. Các yếu tố cấu thành năng suất
Trƣớc khi thu hoạch mỗi ô thu 10 cây để đo đếm.
14
- Tổng số cành cấp 1 trên cây: xác định vào thời kỳ thu hoạch, đếm số
cành mọc từ thân chính của 10 cây mẫu/ô sau đó tính trung bình / cây
- Tổng số quả trên cây: đếm xác định tổng số quả của 10 cây mẫu/ô, sau
Nhẹ - cấp 3
1-5% diện tích lá bị hại
Trung bình - cấp 5
> 5 - 25% diện tích lá bị hại
15
Nặng - cấp 7
> 25% - 50% diện tích lá bị hại
Rất nặng - cấp 9
> 50% diện tích lá bị hại
5.5. Phương pháp xử lý số liệu:
Số liệu đƣợc xử lý theo phƣơng pháp phân tích phƣơng sai (ANOVA)
bằng phần mềm IRRISTAT 5.0
6. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
* Giống đậu xanh: gồm 2 giống: Giống ĐX11: do trung tâm đậu đỗ,
viện cây lƣơng thực thực phẩm chọn tạo; Giống đậu xanh cao sản ĐX208:
đƣợc tuyển chọn từ giống địa phƣơng ở miền Nam (công ty cổ phần giống cây
trồng miền Nam)
* Phân bón:
- Phân đạm ure (46% N)
6/2012 – 10/2012
Điều tra, thu thập số liệu thí nghiệm 1
6/2012 – 10/2012
Điều tra, thu thập số liệu thí nghiệm 2
11/2012 – 3/2013
Viết bản thảo báo cáo
4/2013 – 5/2013
Sửa và nộp báo cáo
16
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Cây đậu xanh là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, đứng hàng thứ ba
sau đậu tƣơng và lạc. Về dinh dƣỡng, hạt đậu xanh là nguồn thực phẩm giàu
đạm (khoảng 24 - 28%), ngoài ra, còn có lipid khoảng 1,3%, glucid 60,2%
và các chất khoáng nhƣ Ca, Fe, Na, K, P… cùng nhiều loại vitamin hoà tan
trong nƣớc nhƣ vitamin B1, B2, C... Protein hạt đậu xanh chứa đầy đủ các
amino acid không thay thế nhƣ leucine, isoleucine, lysine, methyonine,
valine… Hạt đậu xanh không chỉ phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc
mà còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị và làm nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến và tinh rút protein. (Trần Đình Long, 2011) [12]
việc nghiên cứu để lựa chọn bộ giống mới, cũng nhƣ nghiên cứu đầy đủ về quy
trình thâm canh đối với cây đậu xanh là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện
nay đối với tỉnh Sơn La nói chung và huyện Mai Sơn nói riêng.
18
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
2.1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu trên thế giới:
Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau quả Châu Á (AVRDC) đã có tập
đoàn giống đậu xanh lớn nhất thế giới với hơn 5000 mẫu giống, trong đó có
giống cho năng suất 18 - 25 tạ/ha và thâm canh có thể đạt gần 40 tạ/ ha. Mặt
khác, giá trị sinh học của đậu xanh rất quan trọng, Lin Y.H (1996) [ 27] cho
rằng phân đạm mà cơ thể cây đậu xanh hấp thụ và giữ lại đƣợc là 40,66% nên
có tác dụng rất tốt trong cải tạo, bồi dƣỡng đất, vì sau khi trồng đậu xanh đất
đƣợc tơi xốp và tăng đƣợc một lƣợng đạm khoảng 30 - 70 kg/ha. Tuy nhiên,
năng suất của cây đậu xanh rất thấp, khoảng 6 - 8 tạ/ha vì chƣa đƣợc đầu
tƣ đúng mức nên gần đây nhiều nƣớc đã chọn đƣợc giống cho năng suất bình
quân 10 - 12 tạ/ha với các ƣu điểm là hạt to, màu đẹp, thời gian sinh trƣởng
ngắn, chín tập trung, chống chịu một số sâu bệnh hại chính.
Ngày nay, các nhà chọn giống đang nghiên cứu tạo ra giống đậu xanh
có thể cải thiện năng suất và tính kháng bệnh. Ấn Độ có 22 trung tâm khắp cả
nƣớc nghiên cứu về cây đậu xanh. Thái Lan cũng có nhiều trung tâm và các
viện, trƣờng tham gia nghiên cứu về cây đậu xanh. Đậu xanh đứng thứ 3 trong
các cây họ đậu và đứng đầu trong các cây thuộc chi Vigna về diện tích và sản
lƣợng, diện tích đậu xanh trên thế giới khoảng 3,4 – 3,6 triệu ha với sản lƣợng
1,4 – 1,8 triệu tấn. (Niên giám thống kê, 2005) [16]
Trên thế giới, đ ậ u xanh phát triển mạnh ở khu vực Nam Á và Đông
Nam Á nhƣ Ấn Độ, Thái Lan, Philipin, Miến Điện, Indonesia,…Và gần đây,
đậu xanh đƣợc phát triển rộng rãi hơn đến một số vùng ở ôn đới nhƣ ở Châu