BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------------------
Phan Văn Dũng
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN VIỆT NAM
THEO ĐỊNH HƯỚNG TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. MAI THỊ HOÀNG MINH
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2015
PHẦN GIỚI THIỆU
Lý do chọn đề tài
Chất lượng nói chung và chất lượng kiểm toán (CLKT) nói riêng luôn là mối quan tâm
hàng đầu của nhiều đối tượng. Hơn 30 năm qua, khá nhiều các nhà nghiên cứu đã cố gắng
định nghĩa CLKT, cách thức đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và tác động
của chất lượng đến năng lực cạnh tranh (NLCT). Thế nhưng, cho đến nay, các khái niệm
này vẫn chưa thống nhất và các nghiên cứu về chủ đề này vẫn tiếp tục thực hiện. Điều này
là do CLKT là một khái niệm đa diện, khó quan sát và đo lường, phụ thuộc vào cảm nhận và
xét đoán của từng cá nhân, do vậy khó có thể dẫn đến một quan điểm thống nhất.
Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO, là thành viên TPP, Cộng đồng kinh tế
ASEAN (AEC); Theo lộ trình đã cam kết, từ năm 2015 mở cửa hoàn toàn các dịch vụ tài
Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế hiện nay?
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong Luận án này là các nhân tố tác động đến CLKT, NLCT
của các DNKT Việt Nam theo định hướng tăng cường NLCT trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các DNKT độc lập Việt Nam, không bao gồm các công ty Big
Four và các DNKT nước ngoài. Phạm vi nghiên cứu cũng không bao gồm các hoạt động kiểm
toán khác như Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán nội bộ.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Luận án này là phương pháp nghiên cứu
hỗn hợp khám phá: kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Trong
đó, phương pháp nghiên cứu định tính nhằm mục tiêu khám phá các nhân tố tác động đến
CLKT và NLCT, sự tác động của CLKT và các nhân tố CLKT đến NLCT của các DNKT
Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện ở bước tiếp theo để đo lường
mức độ tác động của từng nhân tố đến CLKT và NLCT của các DNKT Việt Nam.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
- Ý nghĩa khoa học
Luận án đã khám phá các nhân tố tác động đến CLKT, NLCT, các nhân tố CLKT tác
động đến NLCT của các DNKT Việt Nam và chỉ ra mức độ cũng như thứ tự tác động của
các nhân tố CLKT có tác động đến NLCT của các DNKT Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn
Nhờ vào việc khám phá và chỉ ra các nhân tố tác động đến CLKT, NLCT, tác động
của các nhân tố CLKT đến NLCT của các DNKT Việt Nam một cách có hệ thống mà Luận
án có thể là tư liệu tham khảo cho các tổ chức và cá nhân nghiên cứu về hoạt động kiểm
toán độc lập ở Việt Nam.
Đóng góp mới của Luận án
+ Thứ hai, Khám phá các nhân tố tác động đến CLKT của DNKT Việt Nam.
+ Thứ ba, Khám phá các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT Việt Nam.
+ Thứ tư, Phát hiện quan trọng nhất của nghiên cứu này là khám phá sự tác động của
CLKT và các nhân tố CLKT đến NLCT của DNKT Việt Nam.
+ Thứ năm, Từ kết quả khám phá định tính, Tác giả đã thực hiện việc đo lường mức độ tác
động của các nhân tố đến CLKT của các DNKT Việt Nam và xác định được có 6 nhân tố thực
sự tác động đến CLKT với 24 tiêu chí đo lường.
+ Thứ sáu, Đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến NLCT của các DNKT Việt
Nam: từ kết quả nghiên cứu định lượng đã xác định được 5 nhân tố thực sự tác động đến
NLCT với 16 tiêu chí đo lường.
+ Thứ bảy, Đo lường mức độ tác động của CLKT đến NLCT của các DNKT Việt Nam.
+ Thứ tám, Đo lường mức độ tác động của các nhân tố CLKT đến NLCT của các DNKT
Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu định lượng đã xác định được 6 nhân tố CLKT thực sự tác
động đến NLCT với 24 tiêu chí đo lường.
+ Thứ chín, Đề xuất Mô hình CLKT và Mô hình NLCT, Mô hình tác động của các nhân
tố CLKT đến NLCT của các DNKT Việt Nam. Qua đó, thể hiện được mối tương quan và
mức độ tương quan giữa các nhân tố CLKT, NLCT đến CLKT và NLCT.
+ Cuối cùng, Đề xuất về Khung phân tích các nhân tố CLKT.
Kết cấu của Luận án
Ngoài phần Giới thiệu, Luận án được chia thành 5 chương được trình bày theo thứ tự
với các nội dung chính như sau:
Chương 1 - Tổng quan các nghiên cứu trước.
Chương 2 - Cơ sở lý thuyết về các nhân tố tác động đến CLKT của DNKT Việt Nam
theo định hướng tăng cường NLCT trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4 - Kết quả nghiên cứu và bàn luận.
Chương 5 - Kết luận và hàm ý chính sách.
Nội dung Luận án gồm 169 trang, với 20 Bảng biểu, 81 Hình vẽ và 20 Phụ lục.
ánh mức độ CLKT. Tiêu biểu cho quan điểm này là McConnell & Banks (1998), Aldhizer &
cộng sự (1995), Krishnan & Schauer (2001).
(iii) Quan điểm kết hợp mức độ tuân thủ chuẩn mực và mức độ đảm bảo về khả năng phát
hiện và báo cáo sai sót trọng yếu trên BCTC
Gần đây nền kinh tế toàn cầu cần phải đối mặt ngày càng nhiều với những thách thức
lớn liên quan đến thị trường tài chính. Bên cạnh sự can thiệp của Nhà nước, trách nhiệm của
KTV đã được mở rộng để đảm bảo CLKT (Defond & Zhang, 2014). Các Nhà nghiên cứu đã
xem xét CLKT trên cơ sở kết hợp mức độ tuân thủ CMKiT và khả năng phát hiện sai sót,
báo cáo sai sót trọng yếu trên BCTC như Skinner & Srinivasan (2012), Tritschler (2013).
(2) Các khuynh hướng nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLKT
Mặc dù có nhiều nghiên cứu khác nhau về CLKT và các nhân tố tác động đến CLKT,
nhìn chung các nghiên cứu này có thể phân thành các khuynh hướng chủ yếu như sau:
(i) Nghiên cứu CLKT dựa trên phương pháp đo lường trực tiếp từ các kết quả của cuộc
kiểm toán (Dechow & cộng sự, 1996), (Krishnan & Schauer, 2000), (Geiger &
Raghunandan, 2002) hoặc đo lường gián tiếp qua quy mô DNKT, giá phí kiểm toán,…
(DeAngelo, 1981), (Wooten, 2003), (Lawrence & cộng sự, 2011).
(ii) Nghiên cứu dựa trên nguồn gốc nguyên nhân của sự khác biệt: khác biệt về thể chế giữa các
quốc gia, văn phòng kiểm toán và mức độ chuyên ngành (Francis, 2004), (Ettredge & cộng sự, 2008).
(iii) Nghiên cứu dựa trên đầu vào, đầu ra và quá trình kiểm toán, ngữ cảnh và tương
tác giữa các đối tượng có liên quan đến quá trình này (Duff, 2004), (Francis , 2011),
(Defond & Zhang, 2014).
(iv) Nghiên cứu dựa trên khía cạnh tổ chức như DNKT, nhóm kiểm toán. CLKT của
DNKT thuộc Big Four và DNKT ngoài Big Four. (Schroeder & cộng sự, 1986), (Carcello &
cộng sự, 1992), (Sun & Liu, 2011).
(v) Nghiên cứu dựa trên hành vi và chất lượng của KTV, phẩm chất của lãnh đạo và nhân viên
kiểm toán (Rayburn & Rayburn, 1996), (Carcello & cộng sự, 1992), (Daniels & Booker, 2011).
(vi) Nghiên cứu dựa trên nhận thức của các đối tượng liên quan đến CLKT (Warming Rasmussen & Jensen, 2001), (Duff, 2004).
(3) Kết quả nghiên cứu đã thực hiện về Các nhân tố tác động đến CLKT
+ Nhóm nhân tố thuộc về DNKT gồm 4 nhân tố: Chi phí kiểm toán; Quy mô, mức độ
chuyên ngành của DNKT; Chiến lược kinh doanh của DNKT; Tổ chức KSCL từ bên trong.
+ Nhóm nhân tố thuộc về các nhân tố bên ngoài gồm 4 nhân tố: Giá phí kiểm toán; Tác
động của hệ thống pháp lý; Chất lượng đào tạo nhân lực kiểm toán; Tổ chức KSCL từ bên ngoài.
1.1.2. Các nghiên cứu đã thực hiện về các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT
1.1.2.1. Các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT
Các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT
So với sự “bùng nổ” số lượng công trình nghiên cứu về NLCT của các Doanh nghiệp,
trong lĩnh vực KTĐL, nghiên cứu về các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT cũng như
tác động của các nhân tố CLKT đến NLCT của các DNKT vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu
tiêu biểu về NLCT của các DNKT đã được các Nhà nghiên cứu thực hiện có thể kể đến như sau:
Kết quả nghiên cứu của Maijoor & Witteloostuijn (1996) cho thấy do sự không hoàn
hảo của thị trường dịch vụ Kế toán – Kiểm toán tạo nên sự thâm nhập cao từ các DNKT bên
ngoài vào thị trường kiểm toán ở các nước có những hạn chế về khả năng và chất lượng
dịch vụ kiểm toán. Theo Maijoor & Witteloostuijn (1996), chất lượng dịch vụ kiểm toán
cũng là một nhân tố tác động đến NLCT của DNKT.
Lian Kee & cộng sự (2011) đã phát triển nghiên cứu của Newbert (2008) và đưa ra 5
nguồn lực chính tạo nên NLCT của DNKT là Nguồn lực tài chính, Nguồn nhân lực, Nguồn
lực tri thức, Nguồn lực tổ chức và Nguồn lực vật chất. Lian Kee & cộng sự còn cho rằng để
nâng cao NLCT của các DNKT nhỏ và vừa, cần phải thực hiện việc kết nối với các DNKT
Quốc tế khác qua mạng lưới hãng thành viên hoặc hãng thành viên hiệp hội qua đó tận dụng
kinh nghiệm, kỹ thuật và được đào tạo bởi các hãng kiểm toán Quốc tế.
1.1.2.2. Các nghiên cứu trong nước về các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT
So với quá trình phát triển lâu dài của hoạt động KTĐL trên thế giới, hoạt động KTĐL
Việt Nam vẫn còn mới mẻ. Quan điểm về cạnh tranh trong lĩnh vực kiểm toán vẫn còn có sự
nhìn nhận khác biệt. Tại Việt Nam, chỉ có một vài công trình nghiên cứu về các nhân tố tác
động đến NLCT của các DNKT Việt Nam. Các công trình nghiên cứu này đã đề ra một số
nhân tố cấu thành NLCT của DNKT như chiến lược kinh doanh, quy mô doanh nghiệp, trình
điều kiện từng quốc gia cụ thể.
Thứ hai, Đến nay chưa có nghiên cứu định tính nào được thực hiện nhằm khám phá về
các nhân tố tác động đến CLKT, NLCT và tác động của CLKT đến NLCT của DNKT trong
điều kiện Việt Nam. Do đó, cần có những nghiên cứu định tính về các nhân tố tác động đến
CLKT làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.
Thứ ba, Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu định lượng đo lường tác động các nhân tố
CLKT và NLCT trên cơ sở kết quả khám phá các nhân tố tác động đến CLKT, NLCT trong
điều kiện kinh tế thị trường và đặc điểm của DNKT Việt Nam. Do đó cần phải có những nghiên
cứu trong điều kiện đặc thù này để thấy được sự khác biệt và đưa ra những định hướng phù hợp.
Thứ tư, Chưa có các nghiên cứu trong và ngoài nước về CLKT hướng đến mục tiêu nâng
cao NLCT của DNKT Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế. Do đó cần có những nghiên
cứu hướng tới mục tiêu kinh doanh của DNKT nhất là đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế hiện nay.
Thứ năm, các nghiên cứu trước thường tập trung vào CLKT đối với BCTC các công ty
niêm yết hoặc là các DNKT nói chung không phân biệt DNKT trong nước và nước ngoài
như Big Four. Trong khi CLKT của hai đối tượng này có sự khác biệt lớn. Do đó phần nào
ảnh hưởng đến tính khách quan của kết quả nghiên cứu. Mặt khác, phạm vi và đối tượng
khảo sát các nghiên cứu trước thường tập trung vào một khu vực nhất định và người được
khảo sát chủ yếu là các KTV trong khi KTĐL nói chung và CLKT nói riêng có liên quan
đến nhiều đối tượng khác. Việc hạn chế về phạm vi và đối tượng khảo sát này phần nào
cũng ảnh hưởng đến tính khách quan của kết quả nghiên cứu. Do đó, cần phải có những
nghiên cứu theo từng đối tượng DNKT cụ thể trong các phạm vi rộng với đầy đủ quan điểm
của các đối tượng có liên quan.
Kết luận Chương 1
Trong Chương 1, Tác giả đã hệ thống hóa các nghiên cứu đã thực hiện về các Mô hình
CLKT, NLCT phổ biến, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân tố tác động
đến CLKT, NLCT, tác động của CLKT và các nhân tố CLKT đến NLCT của DNKT Việt
Nam. Qua tổng kết các nghiên cứu đã thực hiện về các nhân tố tác động đến CLKT cho thấy
hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau trong việc tìm ra một định nghĩa về CLKT. Sự
Chất lượng và đặc điểm của chất lượng
Chất lượng kiểm toán
Theo DeAngelo (1981), CLKT là sự đánh giá của thị trường về khả năng một KTV phát
hiện sai sót trọng yếu và báo cáo sai sót trọng yếu.
Theo Titman & Trueman (1986), Beatty (1989), Davidson & Neu (1993), CLKT là
tính chính xác của thông tin được cung cấp bởi các KTV. Trong khi đó, Theo Dopuch &
Simunic (1982), Simunic & Stein (1987), CLKT là mức độ đảm bảo xác suất mà BCTC đã
được kiểm toán không còn chứa đựng thiếu sót hoặc sai sót trọng yếu.
Theo Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán quốc tế: CLKT là một vấn đề phức tạp. Đến
nay, không có một định nghĩa nào hoặc phân tích nào được công nhận một cách phổ
biến. Thuật ngữ CLKT bao gồm các yếu tố chính để tạo ra một môi trường nhằm tối
đa hóa khả năng để việc kiểm toán có chất lượng được thực hiện dựa trên cơ sở phù
hợp (IAASB, 2011).
Theo Defond & Zhang (2014), do CLKT là một khái niệm đa chiều, CLKT cần được
quan sát dưới nhiều khía cạnh khác nhau, cũng như cần có sự kết hợp các phương pháp, tiêu
chí đo lường khác nhau để có thể đo lường được mức độ của CLKT.
Trên cơ sở các định nghĩa CLKT từ các nghiên cứu trước, kết hợp với đặc điểm kinh
tế và yêu cầu quản lý đối với CLKT của các DNKT Việt Nam, theo Tác giả, CLKT của
DNKT Việt Nam là mức độ tuân thủ CMKiT và mức độ đảm bảo về khả năng phát hiện sai
sót, báo cáo sai sót trọng yếu trên BCTC.
Chuẩn mực quốc tế về kiểm soát chất lượng (ISQC1)
Khuôn khổ IAASB về CLKT
2.1.2. Cơ sở lý thuyết các nhân tố tác động đến CLKT
2.1.2.1. Lý thuyết Ủy nhiệm và các nhân tố tác động đến CLKT
Theo Healy & Palepu (2001), kiểm toán là yếu tố thiết yếu trong việc giám sát các mối
quan hệ ủy nhiệm và công bố thông tin phát sinh từ sự bất đối xứng thông tin và xung đột
lợi ích giữa Người chủ và Người Đại diện.
Xuất phát từ sự bất đồng trong việc ủy nhiệm, mâu thuẫn của sự ủy nhiệm càng cao
toán
Đào
Đào tạo,
tạo, giáo
giáo dục
dục
++
Ngành
Ngành kiểm
kiểm toán/
toán/
khách
khách hàng/kinh
hàng/kinh
nghiệm
nghiệm kiểm
kiểm toán
toán
++
Các
Các dịch
dịch vụ
vụ
phi
phi kiểm
kiểm toán
Chất
Chất lượng
lượng
kiểm
kiểm toán
toán
++
++
Phương
Phương pháp
pháp luận
luận
và
và công
công cụ
cụ kiểm
kiểm toán
toán
++
++
--
++
Trách
Trách nhiệm
Hình 2.2: Mô hình Quả cầu các nhân tố tác động đến CLKT
Nguồn: Tritschler (2013)
--
Việc lựa chọn mô hình Quả cầu các nhân tố tác động đến CLKT xuất phát từ việc Mô
hình khái quát được các nhân tố tác động đến CLKT đã được phát hiện từ những nghiên cứu
trước, chỉ ra được chiều hướng tác động của các nhân tố đến CLKT của DNKT, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc quan sát cũng như định hướng cho việc nâng cao CLKT theo chiều
hướng tốt. Bên cạnh đó Mô hình còn cho thấy sự tác động giữa các nhân tố, cho thấy được
nguồn gốc của sự tác động đến CLKT, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích, đánh giá
vai trò của từng nhân tố trong hệ thống các nhân tố tác động đến CLKT.
2.2. Một số vấn đề chung và cơ sở lý thuyết có liên quan đến các nhân tố tác động đến
NLCT của DNKT
2.2.1. Một số vấn đề chung về cạnh tranh và NLCT
Khái niệm về cạnh tranh
Đặc điểm của cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh
Theo Henricsson & cộng sự (2004), khái niệm NLCT vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các
Nhà hoạch định chính sách, các Nhà kinh tế, các Nhà nghiên cứu ở nhiều nước. Mặc dù có
nhiều quan điểm khác nhau nhưng có thể hiểu NLCT là khả năng duy trì, mở rộng thị phần
nhằm đạt lợi nhuận cao của doanh nghiệp.
Peters đã định nghĩa NLCT của một doanh nghiệp là tích hợp các khả năng và nguồn
nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của
doanh nghiệp trong thị trường (Peters, 1995).
Theo Sanchez & Heence (1996, 2014), NLCT của doanh nghiệp là khả năng kết hợp
các nguồn lực của doanh nghiệp.
Xuất phát từ các định nghĩa về NLCT của các nghiên cứu trước kết hợp với thực tiễn
hoạt động KTĐL tại Việt Nam, theo Tác giả NLCT của các DNKT là khả năng doanh
- Năng suất
- Nguồn nhân lực
- Chất lượng/hiệu quả
- Công nghệ
- Tác nghiệp
- Chi phí
- Các điều kiện cầu
- Phát triển nguồn
nhân lực
- Chi tiêu tài chính
- Thể chế
- Chi tiêu quốc tế
Hình 2.6: Các yếu tố chủ yếu của Mô hình APP
Nguồn: Flanagan & cộng sự (2005)
2.2.4. Mô hình nghiên cứu CLKT và các nhân tố CLKT tác động đến NLCT
Tác giả chọn Mô hình Năng lực động của Teece (2014) làm Mô hình nghiên cứu
CLKT và các nhân tố CLKT tác động đến NLCT của Luận án.
Xây dựng
Năng lực động
Mua
sự tác động của CLKT và các nhân tố CLKT đến NLCT, làm nền tảng cho việc xác định các
nhân tố tác động đến CLKT và NLCT của DNKT. Bên cạnh việc các nghiên cứu lý thuyết
nền tảng, xuất phát từ vai trò của CLKT và NLCT, trong Chương này các Nguyên tắc, Khuôn
khổ và Chuẩn mực kiểm toán về CLKT cũng đã được đề cập để làm rõ vai trò và tầm quan
trọng của CLKT và NLCT. Từ kết quả phân tích lý thuyết nền tảng kết hợp với những kết quả
đạt được từ các nghiên cứu trước ở các mô hình thực nghiệm đã được công bố kết hợp với đặc
điểm kinh tế, yêu cầu quản lý và đặc điểm của các DNKT Việt Nam, Tác giả đã đưa ra định
nghĩa về CLKT và NLCT của các DNKT Việt Nam và mô hình được dùng trong nghiên cứu
các nhân tố tác động đến CLKT, NLCT, tác động của CLKT và các nhân tố CLKT đến NLCT
của các DNKT Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu ở Chương này, là cơ sở để xây dựng mô hình và phương pháp
nghiên cứu ở Chương 3: “Phương pháp nghiên cứu”.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này mô tả phương pháp nghiên cứu được lựa chọn đã được trình bày trong
Phần giới thiệu. Trước hết, Chương này sẽ giới thiệu phương pháp nghiên cứu và cơ sở lựa
chọn phương pháp nghiên cứu. Tiếp đến, trình bày quy trình thu thập dữ liệu và phân tích dữ
liệu trong bước nghiên cứu định tính và định lượng. Cuối cùng giới thiệu mô hình và phương
trình hồi quy tổng quát sẽ được áp dụng trong nghiên cứu.
3.1. Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu
3.1.1. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Luận án là phương pháp hỗn hợp khám
phá, việc tiếp cận đầu tiên là nghiên cứu định tính để khám phá nhân tố về CLKT và NLCT,
tiếp theo sẽ là nghiên cứu định lượng để đo lường tác động của các nhân tố CLKT và NLCT.
3.1.2. Quy trình nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp hỗn hợp, quy trình nghiên cứu được thực hiện trong Luận án
theo các bước sau:
Bước 1: Tổng kết các nghiên cứu trước có liên quan đến CLKT, NLCT
Bước 2: Nghiên cứu định tính bằng phương pháp phỏng vấn sâu với các chuyên gia
thuật ngữ. Sắp xếp các khái niệm, thuật ngữ theo từng chủ đề tương ứng với
các nhân tố trong mô hình nghiên cứu được áp dụng. Các nhân tố này sẽ được
mã hóa và bố trí vào các cột tương ứng với mức độ khái quát: yếu tố giải thích
cho nhân tố, nhóm nhân tố.
Bước 4
Tổng hợp nhân tố
Tổng hợp các dữ liệu đã được mã hóa.
Bước 5
Kết nối nhân tố
Trình bày các ý kiến phỏng vấn đã được chuyển ngữ tương ứng với từng
mã hiệu được mã hóa trong bước 3 nhằm kết nối các nhân tố được khám phá
để thiết lập mô hình.
Bước 6
Phân tích và giải thích ý
nghĩa nhân tố trong mô hình
So sánh các phát hiện với thông tin từ dữ liệu thu được từ kết quả tổng kết các
nghiên cứu trước và kết quả thu được từ quá trình nghiên cứu thực tế.
Bước 7
Kiểm tra độ tin cậy của
kết quả nghiên cứu
Kiểm tra tính chính xác của kết quả nghiên cứu định tính bằng bảng câu hỏi
khảo sát về ý kiến đồng ý về các nhân tố đã phát hiện và đánh giá bằng
CLKT
Nhân tố
CLKT
Nhân tố
CLKT
Nhân tố
CLKT
Nhân tố
CLKT
Nhân tố
CLKT
KTV
Doanh nghiệp
kiểm toán
Chất lượng
kiểm toán
Nhân tố
bên ngoài
Hình 3.4: Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến CLKT của DNKT Việt Nam
Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến NLCT
Nhân tố
NLCT
Nhân tố
NLCT
Nhân tố
CLKT
Nhân tố
CLKT
Nhân tố
CLKT
KTV
Doanh nghiệp
kiểm toán
Chất lượng
kiểm toán
Năng lực
cạnh tranh
Nhân tố
bên ngoài
Hình 3.6: Mô hình nghiên cứu CLKT và các nhân tố CLKT tác động đến NLCT của DNKT Việt Nam
3.4.2. Phương trình hồi quy tổng quát
Phương trình hồi quy tuyến tính thể hiện tác động của các nhân tố đến biến phụ thuộc có dạng:
Y = β0 + β1X1 + β2X2+ β3X3 + … + βiXi
Kết luận Chương 3
Trong Chương này, Tác giả đã đi sâu phân tích phương pháp nghiên cứu và cơ sở lựa
chọn phương pháp nghiên cứu. Trong nghiên cứu này đã áp dụng phương pháp nghiên cứu
hỗn hợp kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng. Các bước thực hiện và phương
pháp được áp dụng trong việc thu thập và xử lý dữ liệu cũng đã được trình bày trong
Về CLKT: Nhìn chung, CLKT của DNKT vẫn còn thấp, chưa đạt trình độ khu vực và
quốc tế. CLKT của các DNKT chưa có sự đồng bộ và còn chênh lệch khá lớn giữa các
DNKT nước ngoài và DNKT Việt Nam.
NLCT của các DNKT Việt Nam còn hạn chế, năng lực quản lý điều hành chưa
tiếp cận được với trình độ quản lý của các nước trong khu vực. Nhiều DNKT chưa có
chiến lược kinh doanh dài hạn, văn hóa doanh nghiệp nhằm phát triển doanh nghiệp
một cách bền vững.
Các DNKT Việt Nam, cần phải khắc phục các hạn chế, đặc biệt trong giai đoạn hội
nhập kinh tế thế giới.
4.1.3. Nguyên nhân của thực trạng
Do có sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên
không tránh khỏi những khó khăn ban đầu, hệ thống pháp lý về KTĐL chưa đồng bộ, quy
mô của thị trường kiểm toán chưa phù hợp với tiềm năng phát triển kinh tế, DNKT chưa chú
trọng đến việc xây dựng chiến lược, nâng cao CLKT và NLCT,…
4.2. Kết quả nghiên cứu định tính khám phá các nhân tố tác động đến CLKT và NLCT của
DNKT Việt Nam
4.2.1. Phương pháp và quy trình thực hiện
4.2.2. Kết quả nghiên cứu định tính
Bằng phương pháp phỏng vấn sâu Chuyên gia, qua Bảng Đề cương thảo luận với
Chuyên gia theo phương pháp phân tích dạng thức của King (2004) và quy trình phân tích của
Cresswell (2003). Kết quả nghiên cứu định tính như sau:
Có 13 nhân tố tác động đến CLKT của DNKT Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế
thế giới hiện nay, được thể hiện qua Bảng 4.7.
Có 12 nhân tố tác động đến NLCT của DNKT Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế
thế giới hiện nay, được thể hiện qua Bảng 4.8.
Qua kết quả nghiên cứu định tính còn khám phá CLKT và các nhân tố CLKT đều có tác
động đến NLCT của DNKT Việt Nam. Đây cũng chính là mục tiêu chính của nghiên cứu.
Tác giả đã phát hiện 4 nhân tố mới về CLKT so với các nghiên cứu trước, điển hình là Mô hình
CLNT
Nhận thức của KTV và BGĐ DNKT
Kế thừa
CLCM
Mức độ chuyên sâu trong lĩnh vực kiểm toán
Kế thừa
CLĐL
Tính độc lập
Kế thừa
CLNK Nhiệm kỳ của KTV
Kế thừa
CLGP
Giá phí kiểm toán
Kế thừa
CLBT
Tổ chức KSCL từ bên trong
Phát hiện mới
CLBN Tổ chức KSCL từ bên ngoài
Phát hiện mới
CLPL
Tác động của hệ thống pháp lý
Kế thừa
CLĐT
Chất lượng đào tạo nhân lực kiểm toán
Kế thừa
Bảng 4.8: Các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT Việt Nam
STT
1
2
Chất lượng đội ngũ lao động, cán bộ quản lý
Văn hóa của công ty
Ứng dụng kỹ thuật, công nghệ thông tin
Chất lượng dịch vụ
NLCT về giá
Thương hiệu doanh nghiệp
Nguồn nhân lực
Năng lực phát triển quan hệ kinh doanh
Tính chất
Phát hiện mới
Phát hiện mới
Phát hiện mới
Phát hiện mới
Phát hiện mới
Phát hiện mới
Phát hiện mới
Phát hiện mới
Phát hiện mới
Phát hiện mới
Phát hiện mới
Phát hiện mới
4.2.3. Kiểm tra kết quả nghiên cứu định tính
Để đảm bảo tính khách quan của kết quả nghiên cứu định tính, kết quả kiểm tra bằng
phương pháp thống kê cho thấy tất cả các nhân tố đã được xác định trong nghiên cứu định
tính đa số đều đạt mức độ đồng thuận từ 75% - 90%. Điều này thể hiện tính khách quan và độ
tin cậy cao của kết quả nghiên cứu.
4.2.4. Bàn luận từ kết quả nghiên cứu định tính
như Khả năng ứng dụng công nghệ, kỹ thuật, Năng lực tài chính, Mức độ quan hệ mật thiết
với khách hàng,… và được phân loại vào các nhóm khác nhau thuộc CLKT và NLCT của
DNKT Việt Nam do có sự khác biệt về hướng tiếp cận khác nhau giữa CLKT và NLCT của
DNKT Việt Nam. Có một số nhân tố CLKT tác động trực tiếp đến NLCT, một số nhân tố
khác có sự tác động gián tiếp đến NLCT. Kết quả nghiên cứu này lý giải được có sự tác
động của CLKT và các nhân tố CLKT đến NLCT của các DNKT Việt Nam.
Nhận thức về vai trò của CLKT và các nhân tố CLKT đến NLCT của DNKT Việt Nam
đã được thể hiện một cách rõ nét. Nhận thức này sẽ là động lực để các DNKT Việt Nam
thực hiện cạnh tranh trên thị trường một cách công bằng từ việc nâng cao CLKT thay vì các
biện pháp cạnh tranh không lành mạnh qua việc giảm giá phí,… Từ đó, tạo ra NLCT bền
vững cho các DNKT Việt Nam trong quá trình hội nhập thế giới.
4.3. Kết quả nghiên cứu định lượng và bàn luận
4.3.1. Các giả thuyết nghiên cứu
4.3.2. Phát triển thang đo
4.3.3. Mẫu nghiên cứu
4.3.4. Kết quả đo lường các nhân tố tác động đến CLKT
Qua phân tích kiểm định Cronbach’s Alpha cho thấy, mô hình với 14 thang đo đảm bảo
chất lượng tốt với 56 biến đặc trưng.
Qua kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA): Kiểm định tính thích hợp của EFA,
Kiểm định tương quan của các biến quan sát trong thước đo đại diện, Kiểm định mức độ
giải thích của các biến quan sát đối với nhân tố, kết quả phù hợp với các thông số quy định
trong nghiên cứu định lượng.
Phân tích khám phá hồi quy đa biến (Multiple Regression Analysis-MRA): Các yếu tố
thật sự tác động trực tiếp đến CLKT được thể hiện qua phương trình hồi quy tuyến tính: