ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------
ĐỖ THANH HUYỀN
THẾ GIỚI PHI LÍ TRONG TIỂU THUYẾT
“ĐI TÌM NHÂN VẬT” VÀ “THIÊN THẦN SÁM HỐI”
CỦA TẠ DUY ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------
ĐỖ THANH HUYỀN
THẾ GIỚI PHI LÍ TRONG TIỂU THUYẾT
“ĐI TÌM NHÂN VẬT” VÀ “THIÊN THẦN SÁM HỐI”
CỦA TẠ DUY ANH
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Trƣơng Đăng Dung
bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Đỗ Thanh Huyền
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC ......................................................................................................... 1
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 2
PHẦN NỘI DUNG ......................................................................................... 14
Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ VẤN ĐỀ PHI LÍ TRONG TRIẾT HỌC
VÀ VĂN HỌC ................................................................................................ 15
1.1. Phi lí trong triết học ......................................................................... 15
1.2. Phi lí trong văn học .......................................................................... 18
1.3. Vài nét về yếu tố phi lí trong văn học Việt Nam sau đổi mới ...... 22
Chương 2: CON NGƯỜI TRONG THẾ GIỚI PHI LÍ QUA TIỂU THUYẾT
“ĐI TÌM NHÂN VẬT” VÀ “THIÊN THẦN SÁM HỐI” CỦA TẠ DUY ANH .33
2.1. Con ngƣời lƣu đày ........................................................................... 33
2.2. Con ngƣời hoài nghi ........................................................................ 45
2.3. Con ngƣời dấn thân ......................................................................... 57
2.4. Con ngƣời cô đơn ............................................................................. 64
Chương 3: NGHỆ THUẬT MÔ TẢ CÁI PHI LÍ TRONG TIỂU THUYẾT “ĐI
TÌM NHÂN VẬT” VÀ “THIÊN THẦN SÁM HỐI” CỦA TẠ DUY ANH......... 75
3.1. Thời gian phi lí ................................................................................. 75
3.2. Không gian phi lí .............................................................................. 84
3.3. Nhân vật vắng mặt và nhân vật kí hiệu ......................................... 89
dứt sự tồn tại vào cuối những năm 60, nhưng dư âm của nó thì vẫn còn kéo dài cho
đến tận ngày nay. Không thể phủ nhận một điều rằng, văn học phi lí là một mảng
văn học có giá trị. Và có thể nói rằng, tìm hiểu về văn học phi lí là tìm hiểu về một
đóng góp đáng ghi nhận cho lịch sử văn học nhân loại.
1.2. Tại Việt Nam, văn học phương Tây đã in dấu ấn lên nền văn học từ khá lâu và
góp phần không nhỏ vào sự phát triển của văn học nước nhà. Có thể dễ dàng nhận
thấy rằng mọi nỗ lực đổi mới, cách tân của tiểu thuyết chủ yếu là học theo “lối viết”
2
của phương Tây nói chung, văn học hiện sinh nói riêng. Và gần đây người ta
thường nói một cách ngắn gọn là viết theo lối “hậu hiện đại”.
Trên văn đàn tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 đã xuất hiện khá nhiều tên tuổi
tài năng với một lối viết phá cách, mang đậm dấu ấn của “hậu hiện đại” phương Tây
như: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Bảo Ninh, Dương
Hướng, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh… Trong số đó, nhà văn Tạ Duy Anh là một cây
bút khá nổi với nhiều tập truyện dài và tiểu thuyết, hàng chục truyện ngắn, truyện
thiếu nhi, hàng trăm bài tản văn trên các báo. Có thể nói, ông là một trong số ít
những nhà văn Việt Nam có những tác phẩm mang đậm tính phi lí, chịu ảnh hưởng
nhiều của văn học phương Tây. Vấn đề này được thể hiện rõ nét nhất qua hai tập
tiểu thuyết nổi tiếng, đánh dấu tên tuổi của ông là Đi tìm nhân vật và Thiên thần
sám hối. Với một lối viết mới lạ, phá cách, ông đã góp phần vào việc cách tân và
hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam hiện đại. Nghiên cứu đề tài Thế giới phi lí trong
tiểu thuyết “Đi tìm nhân vật” và “Thiên thần sám hối” của Tạ Duy Anh, người viết
mong muốn được tìm hiểu, đào sâu một vấn đề từng là thành tựu của văn học thế
giới. Qua đó sẽ thấy được những ảnh hưởng của văn học phương Tây đến Việt Nam
như thế nào, nó biến đổi ra sao, có thành công và hạn chế gì. Từ việc nghiên cứu
một số tác phẩm của một tác giả đại diện, chúng ta sẽ có những cái nhìn đúng đắn
hơn, sâu sắc hơn về toàn cảnh của một giai đoạn văn học.
1.3. Bên cạnh đó, nghiên cứu đề tài Thế giới phi lí trong tiểu thuyết “Đi tìm nhân
định bản chất của sự sinh tồn chính là nỗi bất an. Một số tác phẩm có giá trị của ông
như: The Concept of Irony with Continual Reference to Socrates; Either – Or, The
Sickness Unto Death; The Book on Adler …
F. Nietzche (Đức, 1884-1900) cũng được các nhà nghiên cứu coi là một
trong những vị tiền bối của triết học hiện sinh. Ông và Kierkergaard có ý kiến gần
nhau đó là đều coi con người là một thế giới huyền bí, sâu thẳm. Lo âu là biểu hiện
của cái phi lí của cuộc sống. Tuy nhiên, Kierkegaard với quan điểm luôn giữ vững
niềm tin nơi Thiên chúa. Còn Nietzche bắt nguồn từ những tư tưởng đi ngược với
truyền thống Hy Lạp do Socrater, Platon và Aristotle để lại.
Đầu thế kỉ XX, triết học hiện sinh nổi lên một trường phái đó là “hiện tượng
học” của E.Husserl. Có thể nói, tư tưởng của Kierkergaard về con người kết hợp với
hiện tượng học của E.Husserl như một phương pháp luận. Suốt nửa đầu thế kỉ XX,
4
M. Heidegger, Jaspers, G. Marcel phát triển nó lên thành những lí thuyết phức tạp,
hoàn chỉnh hơn. Đặc biệt là công trình Hữu thể và thời gian ra đời năm 1927 có thể
coi là tác phẩm quan trọng nhất của Heidegger. Ông quan tâm đến tính thời gian vì
thời gian làm nên ý nghĩa của tồn tại, cho thấy sự hiện hữu của con người. Có thể
thấy rằng: Heidegger còn có đóng góp lớn cho triết học ngôn ngữ thế giới khi khám
phá ra những bản chất mới của ngôn ngữ. Trong công trình Trên đường đến với
ngôn ngữ, ông gọi “ngôn ngữ là ngôi nhà hữu thể”.
Đến giữa thế kỉ XX, J.P. Sartre xuất hiện với tác phẩm Buồn nôn năm 1938
và rất nhiều tác phẩm khác về hiện sinh đã gây chấn động trong xã hội. Từ đây, triết
học hiện sinh đã trở thành một trào lưu tư tưởng chính thống, trở thành lối sống của
một số thế hệ thanh niên. Quan điểm triết học (hiện sinh vô thần) của Sartre được
hình thành trong quá trình đấu tranh chống “chủ nghĩa duy tâm đại học” như là một
thứ triết học tách rời đời sống. Tuy nhiên, sự tác động quyết định đến tư tưởng triết
học của ông là hiện tượng học của E. Husserl và bản thể học của M. Heidegger.
Năm 1943 ra đời tác phẩm triết học cơ bản nhất của Sartre, Hữu thể và vô thể. Sau
như những sinh vật. Và sống như sinh vật là một buồn nôn cho triết gia hiện sinh đã
ý thức sâu xa về nhân vị con người” [39, tr. 36]. Ông cũng trích ra một đoạn trong
tác phẩm Buồn nôn của J.P.Sartre để làm rõ hơn phạm trù này: “Thôi tôi cứ làm như
này. An-ny là xong. Tôi cứ sống thừa ra. Ăn, ngủ. Ăn, ngủ. Sống từ từ êm êm như
những cây kia, như những vũng nước này, hoặc như cái ghế bọc vải đỏ của toa xe
lửa nọ” [39, tr. 21]
- Cuộc đời mỗi người đều mang vẻ tầm thường, buồn nôn, cuộc đời đó là
một phóng thể. Có nghĩa là con người hóa thành cái khác hành động, chỉ vì người ta
bảo mình làm hay nghĩ mình phải làm như thế. Trần Thái Đỉnh nghiên cứu và chia
ra hai loại là phóng thể duy tâm và phóng thể duy vật. Phóng thể duy tâm là con
người chỉ tưởng tượng và mơ ước, thụ động theo những mẫu người “lí tưởng”.
Phóng thể duy vật là con người hành động vô ý thức như một cái máy, chủ yếu sống
yên phận trong gia đình, trong nhóm, đoàn thể.
- Vì cuộc đời là một phóng thể nên cần thiết con người phải tỉnh ngộ , ý thức
về giá trị cao quý và nhân vị của mình. Do đó sinh ra ưu tư. “Ưu tư là trạng thái xao
xuyến, băn khoăn về tương lai chưa rõ” [39, tr. 42]. Đó là vẻ đặc sắc của một cuộc
hiện sinh đã tự ý thức rằng phải làm mọi cách để thoát ra, dứt ra khỏi cảnh sống
thừa, sống như những sinh vật đang tồn tại, những con người phóng thể.
6
- Với tinh thần không bao giờ cam chịu nằm lỳ một chỗ như sinh vật, con
người phải có ý thức vươn lên. Đề tài này phát sinh dưới ngòi bút của Kierkegaar
bởi “con người phải vươn lên khỏi gia đoạn hiếu mĩ để đạt tới giai đoạn đạo đức, rồi
lại phải vươn lên khỏi trình độ đạo đức để tiến lên giai đoạn tôn giáo”. Thánh
Augustin, một trong những cụ tổ triết hiện sinh viết “không tiến là lùi rồi”[39, tr.
47]. Vươn lên là lẽ sống của hiện sinh trung thực. Vươn lên là vượt lên chính mình,
chiến thắng chính mình.
- Trong quá trình vươn lên, con người sẽ trải qua rất nhiều thử thách và đòi
hỏi ta phải sáng suốt để quyết định, tự quyết mọi việc về cuộc đời mình. Tự quyết là
Cùng quan điểm với tác giả Đỗ Đức Hiểu, tác giả Hoàng Trinh cũng đề cập
đến vấn đề này trong cuốn Phương Tây, văn học và con người. Tác giả cho rằng
những lối ăn chơi sa đọa nhất, từ Mĩ và các nước khác đưa sang đã làm “hư hỏng”
nhiều người và các thứ văn học nghệ thuật được văn hóa suy đồi phương Tây sau
đại chiến tiếp tục, cũng đã ngấm ngầm phát huy những ảnh hưởng tai hại của chúng
đối với đời sống tinh thần của một số người ở các đô thị. Nói về vấn đề phi lí, tác
giả nhận định: “Trong khi tìm hiểu thuyết phi lí, chúng ta đã thấy được phần nào
những nguyên nhân chính trị, xã hội và triết học của chủ nghĩa hoài nghi và tinh
thần hủy báng con người trong văn học hiện đại”[122, tr. 150]. Có thể thấy rằng, tác
giả Hoàng Trinh và Đỗ Đức Hiểu đã có những lời lẽ khá gay gắt, thể hiện cái nhìn
phiến diện về chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam. Bài nghiên cứu còn khá sơ lược và
được tiếp cận từ góc nhìn “phê phán triết học tư sản hiện đại”. Điều đó đã ảnh
hưởng phần nào đến kết quả nghiên cứu. Tựu chung lại, những hạn chế đó xuất phát
từ giới hạn lịch sử và thời đại.
Ngoài ra, chúng ta còn phải kể đến các nhà nghiên cứu như: Lê Tôn Nghiêm
với các cuốn sách: Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương; Đâu là
căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lí từ Kant đến Heidegger; Những vấn đề
triết học hiện đại; Lê Thành Trị với chuyên khảo Hiện tượng luận về hiện sinh,
Triết học tổng quát; Nghiêm Xuân Hồng với Nguyên tử, hiện sinh và hư vô, Bùi
Giáng với Tư tưởng hiện đại ... Rồi các nhà nghiên cứu Tam Ích, Vũ Đình Lưu, Thế
Phong, Nguyễn Trọng văn, Đặng Phùng Quân, Huỳnh Phan Anh, Trần Xuân Kiêm,
Trần Công Tiến, Nguyễn Quốc Trụ... cũng đóng góp nhiều công trình, bài viết về
triết học hiện sinh, khiến cho triết học hiện sinh trở thành trào lưu tư tưởng được
quan tâm nhất trong giai đoạn này.
8
Đi sâu vào phạm trù phi lí, một trong số những nhà nghiên cứu hàng đầu về
vấn đề này ở Việt Nam đó chính là tác giả Nguyễn Văn Dân. Với chuyên luận Văn
học phi lí, tác giả đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh về văn học phi lí với
và con người đều phi lí: “Sự phi lí gắn bó con người và thế giới lại một cách chặt
chẽ đến nỗi chỉ có lòng căm thù mới có thể liên hiệp được những con người lại với
nhau”. Từ đó, theo ông, “nghệ thuật vừa là sự khước từ vừa là sự chấp nhận”.
“Khước từ” bởi vì cuộc đời là phi lí, nhưng để chống lại nó thì cần có sự phi lí của
chính mình, nghĩa là một sự “chấp nhận” từ bên trong [103, tr. 311].
Ngoài ra, vấn đề phi lí còn được đề cập đến trong các công trình, bài viết
như: Giáo trình Văn học phương Tây (Nhiều tác giả);Trần Thi Ngọc Chi (2007),
Nhân vật trong kịch phi lí, Luận văn Thạc sĩ văn học, Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí
Minh; Về văn học phương Tây hiện đại (Phạm Văn Sĩ); Ảo hóa với phi lí (Nguyễn
Dương Côn, Nxb Hội nhà văn); Tiểu luận về triết học phi lí (Camus, Tạp chí văn
học nước ngoài, số 2/2002)…
2.2. Những nghiên cứu đề cập đến Tạ Duy Anh và tác phẩm của ông
Trong khi nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, Nguyễn Thị Bình đã
xem Tạ Duy Anh là một trong những nhà văn có đóng góp tích cực cho cao trào đổi
mới văn xuôi. Cuốn sách Phi lí, hậu hiện đại và trò chơi là tập hợp ba luận văn thạc
sĩ được đánh giá cao khi nghiên cứu về trường hợp Tạ Duy Anh do nhà nghiên cứu
Nguyễn Thị Bình viết lời tựa: “Các tác giả trẻ Cao Tố Nga, Đoàn Thanh Liêm và
Phạm Thị Bình đã chọn những cách tiếp cận khác nhau về tiểu thuyết của Tạ Duy
Anh, nhằm ghi nhận một ngòi bút tâm huyết, giàu khát vọng cách tân, quan trọng
hơn, qua đó nắm bắt những vấn đề có ý nghĩa lý luận và văn học sử đặt ra từ sự
chuyển động phong phú, phức tạp của văn học đương đại nước ta” [85, tr.6].
Trong bài viết Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, tác giả
Bích Thu cũng ghi nhận những thành công của các tác giả đang trên đường thể
nghiệm sáng tạo trong cách nhìn và lối viết như Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh
Thái, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài… Tác giả đã có những đánh giá sắc bén về thực
trạng tiểu thuyết từng thời kì và dành nhiều lời khen tặng cho đội ngũ nhà văn thời
kì đổi mới: “Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đã đứng trước nhu cầu đổi mới
tư duy tiểu thuyết. Điều này chứng tỏ sự nghiêm khắc trong sáng tạo và tâm huyết
với thể loại của các tiểu thuyết gia đương đại”.
sinh trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh và Nguyễn Bình Phương đã nhận định: “Nhà văn
muốn cụ thể hóa sự ngự trị của cái phi lí thông qua tâm lí hoài nghi và diễn tả một
trạng thái sinh tồn nào đó của nhân vật, để nói nhận ra một sự thật rằng: “luôn phải
11
sống trong những tình huống không xuất phát từ những lựa chọn của mình”[38, tr.
64]. Ở luận văn này, tác giả đã đi sâu làm rõ đặc điểm nhân vật mang tâm thức hiện
sinh và nghệ thuật xây dựng nhân vật mang tâm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Tạ
Duy Anh và Nguyễn Bình Phương.
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu xoay quanh các tác phẩm của
Tạ Duy Anh như: Vũ Thị Thanh Hải (2009), Yếu tố nghịch dị trong tiểu thuyết của
Tạ Duy Anh, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội; Vũ Lê Lan
Hương (2006), Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh, Luận văn Thạc sĩ
Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Nguyễn Thị Hồng Giang (2003); Tạ
Duy Anh và việc làm mới nghệ thuật tiểu thuyết, Khóa luận tốt nghiệp khoa Ngữ
văn – ĐHSP Hà Nội; Đào Thị Dần (2008), Nhân vật dị biệt trong sáng tác của Tạ
Duy Anh và Nguyễn Bình Phương, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội...
Bên cạnh đó, vấn đề này còn được bàn đến trong một số bài báo như: Tạ Duy
Anh – gương mặt nổi bật trên văn đàn (Nguyễn Trường, Tạp chí Văn học và Tuổi
trẻ); Tạ Duy Anh giữa lằn ranh thiện ác (Việt Hoài, bài đăng trên Vietbao.vn)…
Như vậy, có thể thấy rằng, Tạ Duy Anh đã nhận được sự quan tâm khá nhiều từ
giới nghiên cứu và dư luận nói chung. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu, bài
viết nêu trên chỉ đề cập đến một phần nào đó của văn học phi lí hoặc một khía cạnh
trong nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tạ Duy Anh. Trong tình hình hạn chế về
thời gian và tư liệu nên việc tổng thuật không được đầy đủ như mong muốn. Tuy
nhiên, người viết cũng đã cố gắng khái quát, phác họa những nét chính của vấn đề.
Bên cạnh những ý kiến có tính chất gợi ý từ thực tế sáng tác của Tạ Duy Anh, còn
có sự hỗ trợ của các công trình nghiên cứu về triết học và văn học phi lí trên thế giới
của Tạ Duy Anh.
-
Tìm hiểu nghệ thuật mô tả cái phi lí trong hai tiểu thuyết của Tạ Duy Anh
trên một số phương diện.
4. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu Thế giới phi lí trong tiểu thuyết “Thiên thần sám hối” và “Đi tìm
nhân vật” của Tạ Duy Anh, chúng tôi muốn chỉ ra những dấu ấn của chủ nghĩa hiện
sinh, của vấn đề phi lí đến sáng tác của tác giả này.
Thừa hưởng và phát huy những thành tựu trước đó, chúng tôi chỉ ra sự đa dạng
về đặc điểm của con người trong thế giới phi lí và làm rõ những đặc trưng về nghệ
thuật mô tả cái phi lí qua ngòi bút của Tạ Duy Anh.
Ngoài ra, luận văn cũng góp phần khẳng định cá tính sáng tạo và đóng góp của
Tạ Duy Anh trong công cuộc đổi mới văn học. Và ở một góc độ nhất định, chúng
tôi cũng làm sáng rõ hơn những vấn đề đổi mới của thể loại tiểu thuyết nói riêng và
văn học đương đại nói chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để triển khai nghiên cứu, chúng tôi dự định sử dụng hệ thống phương pháp gồm
một số phương pháp sau:
5.1. Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tiếp cận hệ thống trong chủ đề về chủ nghĩa hiện
sinh, vấn đề phi lí.
13
- Phương pháp tiếp cận liên ngành (triết học, văn học, xã hội học…)
- Phương pháp tiếp cận theo hướng thi pháp học.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
viết sẽ liên hệ, làm rõ quá trình xuất hiện của “cái phi lí” trong văn học Việt Nam
cũng như sự xuất hiện của cây bút Tạ Duy Anh.
1.1. Phi lí trong triết học
1.1.1. Thời kì cổ đại
Có thể nói, triết học là khoa học của mọi khoa học. Chính vì lẽ đó, chúng tôi
muốn làm rõ lịch sử của vấn đề phi lí qua các thời đại, khởi nguồn là phi lí trong
triết học. Trong chuyên luận Văn học phi lí của Nguyễn Văn Dân có viết: “Khái
niệm phi lí đã xuất hiện từ thời cổ đại. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại như Zenon
và Aristote đã áp dụng phương pháp ngụy biện cho suy lí logic (tức là phương pháp
lập luận dựa vào giả thiết phi lí). Trong lịch sử, Zenon đã đưa ra bài toán rất nghịch
lí: Asin – dũng sĩ trong thần thoại Hi Lạp có tài chạy nhanh nhất nhưng vẫn không
đuổi kịp được một con rùa. Phương pháp này chứng minh cho thấy những kết quả
sai lầm của một giả thiết để bác bỏ giả thiết đó. Hình học Euclide (thế kỉ III trước
CN) cũng thường xuyên sử dụng phương pháp ngụy biện để chứng minh các định
luật hình học” [39, tr. 14]. Nhìn chung, thời kì này, khái niệm về cái phi lí đã xuất
hiện nhưng chưa được đưa ra một cách rõ ràng, cụ thể.
1.1.2. Thời kì trung đại
Đến thời trung đại, nhà bác học La Mã Tertullianus (155-1626) đã dùng
phương pháp suy luận phi lí để chứng minh cho chân lí của một sự đánh giá bằng
cách chỉ ra tính chất sai lầm của mặt trái sự đánh giá đó. Ông đã có một câu nói rất
nổi tiếng: “Tôi tin vì nó phi lí”. Vào thế kỉ XVI, nhà triết học người Anh Fr.Bacon
dùng phương pháp suy luận phi lí để chứng minh cho chân lí bằng cách chỉ ra tính
chất sai lầm ở phía phản chân lí.
Nhà triết học người Anh khác là Th.Hobbes (1588-1679) lần đầu tiên trong lí
thuyết về “các âm thanh vô nghĩa” cũng đã giải thích sự phi lí thông qua sự rối loạn
15
trật tự logic ngôn ngữ học. Ông cho rằng những từ trái nghĩa đứng cạnh nhau thì chỉ
làm thành một âm thanh đơn thuần chứ không phải là một khái niệm có nghĩa, ví dụ
cụ thể, con người cá nhân. Heidegger phê phán cái tư duy trong câu “Tôi nghi ngờ
là tôi tư duy, tôi tư duy là tôi tồn tại” là không thể nắm bắt được sự hiện sinh. Chủ
nghĩa hiện sinh là “khuynh hướng triết học hình thành trước đại chiến I ở Nga với
Sextop (Chestov, 1866 – 1938), Be đyaep (Berdiaeff, 1866 – 1948), sau đại chiến I
ở Đức với M.Heidegger (1889 – 1976), K. Jasper (1883 – 1969), M. Buber (1878 –
1965), trong thời kì đại chiến II ở Pháp với J – P Sartre (1905 – 1980), M.Merleau –
Ponty (1908-1961), A.Camus (1913-1960), sau đó phổ biến ở các nước khác tại
chấu Âu và Hoa Kì”.
Chủ nghĩa hiện sinh đã tạo ra giữa lí tính và thực tại một hố sâu ngăn cách
khó có thể vượt qua - sự phi lí. Và trong cái vực sâu này có sự ngự trị của cái phi lí.
Kierkegaard nói đến “cái nghịch lí” của nhận thức và của tồn tại. Ở Heidegger thì
ngự trị khái niệm về „sự bất an”, còn các nhà hiện sinh chủ nghĩa người Pháp thì có
cảm giác đậm nét về cái phi lí. Về sau, trong quan niệm của hai nhà đại diện chủ
chốt của chủ nghĩa hiện sinh Pháp thế kỉ XX là J.-P. Sartre (1950-1980) với các tác
phẩm triết học chính: Bản thể và hư vô, Phê phán lí tính biện chứng và A.Camus
với tập tiểu luận triết học: Huyền thoại Sisyphe thì cái phi lí trở thành khái niệm chủ
chốt của chủ nghĩa hiện sinh.
Trong các tác phẩm triết học và văn học của mình, Sartre không chỉ quan
niệm cái phi lí xuất hiện do có sự bất đồng giữa lí tính với thực tại nhân bản, mà
ông còn tuyên bố chính cái thực tại nhân bản là một thực tại phi lí, một thực tại của
vật tự nó. Đến Camus thì tư tưởng về cái phi lí đã trở thành nỗi ám ảnh trong suốt
cuộc đời của ông, nó làm thành đề tài trọng tâm của các tiểu luận triết học và thấm
đậm trong mọi tác phẩm văn học của ông. Trong cuốn Phê phán văn học hiện sinh
chủ nghĩa, tác giả Đỗ Đức Hiểu đã chỉ rõ: “triết học hiện sinh về cơ bản là triết học
phi lí hay triết học của cái phi lí…” [50, tr. 18]
Như vậy, cái phi lí trong triết học là một khái niệm triết học có lịch sử phát
triển lâu dài và có những chuyển biến qua từng thời kì. Từ thời Hy Lạp cổ đại với
Aristote, Zenon, qua thế kỉ XVI với Bacon (Anh), đến thế kỉ XX đã tạo mảnh đất
màu mỡ cho sự phát triển và hoàn thiện ý thức, quan niệm về cái phi lí. Và khi cái
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.
Hùm nằm cho lợn liếm lông,
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười
18
Con gà nậm rượu nuốt người lao đao.
Rồi bài:
Trời mưa cho mối bắt gà,
Thòng đong cân cấn đuổi cò lao xao
Hay câu thơ ca ngợi lãnh chúa La Palice (1470-1525) khá ngây ngô: "Mưởi
lăm phút trước khi chết/ Ngài còn sống ở trên đời...". Trước khi “chết” thì điều hiển
nhiên là con người phải ở trạng thái “sống” rồi. Ở đây, sự thật đã rất rõ ràng nhưng
câu thơ đã kể lại là một sự thừa thãi, vô nghĩa lí. Ngoài ra, một loạt các sáng tác
phiêu lưu hoang tưởng, huyễn tưởng chiêm bao, huyễn tưởng nghịch dị như của
Alfred Jarry (1873-1907): Ubu làm vua, Ubu bị xiềng và Ubu bị cắm sừng đều được
xếp vào dạng tiền sinh của văn học phi lí. Soi chiếu vào trong tác phẩm văn học thì
tất cả các tác phẩm có khung cảnh cốt truyện trái với tư duy lí trí thông thường là
sáng tác phi lí. Về sau này, Balotac còn xếp cả phong trào văn học đa đa vào hàng
ngũ của văn học phi lí đích thực.Tuy nhiên, khi đặt trong một hệ logic khác một
cách có chủ đích thì đó không phải là sáng tác phi lí mà là sáng tác huyền thoại hoặc
huyễn tưởng. Theo tác giả Nguyễn Văn Dân thì quan điểm trên quá rộng, thiên về
thủ pháp nghệ thuật hơn là vào quan điểm nghệ thuật về thế giới, nhân sinh. Ông đã
phân tích rất kĩ lưỡng và chỉ ra các tác phẩm kể trên khác với văn học phi lí về quan
điểm nghệ thuật chứ không phải về thủ pháp nghệ thuật.
Đặc điểm nghệ thuật của văn học phi lí chính là những tác phẩm văn học
phản ánh những sự việc, hiện tượng trái với logic nhân văn tiến bộ của loài người.
Và theo logic này, người mở đường là Franz Kafka, nhà văn Tiệp Khắc gốc Do
Thái viết tiếng Đức. Có thể nói, lúc này văn học phi lí mới thực sự ra đời. Xét về
Sau Kafka, Camus tiếp tục khai thác cái phi lí ở bình diện chủ quan của nó.
Người ta luôn nhớ đến ông với những tác phẩm vào hàng kiệt tác như Kẻ xa lạ
(1942), Dịch hạch (1947). Các tác phẩm của Camus là sự thể hiện, sự hình tượng
hóa tư tưởng triết học của ông. Camus từng viết: “Từ cái phi lí tôi rút ra ba kết luận:
nổi loạn, tự do và ham mê”. Tuy nhiên, đến Camus, con người đã tỏ ra hiểu rõ hơn
về tình trạng sống phi lí, có thể nhìn thẳng vào cái phi lí. Có thể nói, Kafka và
Camus có những điểm tương quan về quan niệm phi lí và có những điểm khác nhau
cơ bản, đó là: “Kafka đại diện cho cái phi lí khách quan, còn Camus đại diện cho cái
phi lí chủ quan” [39, tr. 55]. Hai mặt khác nhau đó bổ sung cho nhau như là một sự
thống nhất của hai mặt đối lập và làm cho văn xuôi phi lí trở nên gần như trọn vẹn.
20
Sau Camus, các nhà văn chuyển sang một địa hạt khác đó là địa hạt kịch nói.
Đây là giai đoạn của kịch phi lí và có thể coi là giai đoạn kịch phát của văn học phi
lí. Sự xuất hiện chính thức của kịch phi lí có lẽ được đánh dấu bằng vở kịch Nữ ca
sĩ hói đầu của Ionesco. Kịch phi lí chỉ tồn tại trong khoảng mười năm nhưng đã có
tác động mạnh mẽ và sâu rộng. Nguồn gốc cơ bản của nó là tư tưởng triết học về sự
phi lí và văn xuôi phi lí. Nữ ca sĩ hói đầu là vở kịch điển hình cho việc diễn đạt sự
phá hủy ngôn ngữ. Những chiếc ghế là điển hình cho sự diễn đạt hiện tượng vật thể
hóa, cho tâm trạng trống rỗng và bất lực của con người. Đợi Godot của Beckett là
một huyền thoại phi không gian, phi thời gian… Sau đó, Beckket còn viết nhiều vở
khác như: Tất cả những người ngã xuống (1956), Tàn cuộc (1957), Những ngày vui
(1961)… Tất cả đều thể hiện tính bi – hài của cuộc sống.
Văn học phi lí có những biểu hiện nghệ thuật khác nhau tùy theo từng thời
điểm lịch sử, từng thể loại văn học. Khi đi vào sáng tác cụ thể, các khía cạnh của cái
phi lí lại được nhà văn xử lí ở những mức độ khác nhau để phục vụ cho một ý đồ, tư
tưởng nghệ thuật nhất định. Cái phi lí trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Kafka và
của Camus được thể hiện ở cả nội dung tác phẩm, còn cái phi lí trong kịch phi lí của
Beckett hay của Ionesco thì được thể hiện ở cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.