Tiền đề pháp lý và các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam hiện nay” - Pdf 34

Lời nói đầu
Qua một thời gian học tập và tìm hiểu môn lý thuyết tài
chính tiền tệ và môn thị trường chứng khoán,em đã bước đầu
hiểu được những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán Việt
Nam. Nhằm đáp ứng yêu cầu của môn học và nhằm tìm hiểu rõ
hơn về thị trường chứng khoán, em đã tìm kiếm ,thu thập tài
liệu và viết bài luận về môn này với nhan đề: “ Tiền đề pháp
lý và các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của thị
trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam hiện nay”
Nội dung của đề tài được trình bày đi từ lý thuyết về chứng
khoán phái sinh đến khả năng áp dụng chúng vào thị trường
chứng khoán Việt Nam bao gồm các phần sau:

Phần 1 : CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH
Phần 2: ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN HÌNH THÀNH VÀ
PHÁTTRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
PHÁI SINH VÀLIÊN HỆ VỚI VIÊT NAM
Phần 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN CHO THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN PHÁI SINH TẠI VIỆT NAM

1


PHẦN 1: CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH

KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CHỨNG KHOÁN

I.

PHÁI SINH ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG

thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường
các công cụ dẫn xuất. Thị trường trái phiếu là thị trường mà
hàng hoá là trái phiếu; trái phiếu là chứng khoán nợ, một loại
chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành ( người đi
vay ) phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoán (người
cho vay ) một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc lẫn lãi
trong những khoảng thời gian cụ thể. Thị trường cổ phiếu là nơi
giao dịch mua bán trao đổi cổ phiếu, cổ phiếu là một loại chứng
khoán vốn được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán
ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với tài
sản hoặc vốn của công ty cổ phần. Cổ phiếu là công cụ tài
chính có thời hạn thanh toán là vô hạn. Còn thị trường các công
cụ dẫn xuất là thị trường có hàng hoá là các chứng khoán phái
sinh, chứng khoán phái sinh bao gồm các loại như quyền mua
trước, chứng khế, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp
đồng quyền chọn.
Nếu phân loại theo quá trình luân chuyển vốn, thị trường được
phân thành thị trường sơ cấp (thị trường cấp một )_là thị trường
phát hành chứng khoán hay là nơi mua bán chứng khoán lần
đầu tiên. Việc mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp làm
tăng vốn cho nhà phát hành, thông qua đó chính phủ có thêm
nguồn tài trợ cho dự án đầu tư và tiêu dùng của chính phủ, các
doanh nghiệp huy động được vốn cho dự án đầu tư của doanh
nghiệp; Và thị trường thứ cấp ( thị trường cấp 2 ) _ là thị trường
giao dịch mua bán trao đổi những chứng khoán đã được phát

3


hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di

2)

KHÁI NIỆM VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH

Trên các thị trường chứng khoán phát triển, ngoài hoạt động
giao dịch các chứng khoán thông thường như cổ phiếu, trái
phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư còn có giao dịch các loại chứng
khoán phái sinh. Chứng khoán phái sinh gồm có chứng khế
( warrants ), chứng quyền (rights ), hợp dồng kỳ hạn
( forwards ), hợp đồng tương lai (futures ) và hợp đồng quyền
chọn (options ). Các loại chứng khoán phái sinh không giống
như các chứng khoán thông thường. Chúng không xác nhận
quyền sở hữu hay quyền chủ nợ giữa người sở hữu đối với người
phát hành, mà chỉ xác nhận quyền mua cổ phiếu thường của
một công ty phát hành cho người sở hữu ( trường hợp chứng
khế và chứng quyền ) hoặc xác nhận quyền và nghĩa vụ giữa
hai bên giao dịch hợp đồng ( trong trường hợp quyền lựa chọn
và hợp đồng tương lai ). Các chứng khoán phái sinh này giúp
cho thị trường sôi động hơn và kích thích hoạt động đầu tư của
những nhà đầu tư chứng khoán.
Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ
chứng khoán và quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc.
Các chứng khoán phái sinh được hình thành do nhu cầu của
người mua, người bán chứng khoán, và sự phát triển của chứng
khoán phái sinh phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường
chứng khoán.
Các chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính đa năng và
đòi hỏi phải có sự vận dụng linh hoạt, mặt khác nó yêu cầu các
nhà đầu tư phải phân tích dự đoán tình hình biến động của
chứng khoán cơ sở trong tương lai một cách tốt nhất. Sau đó

thời gian tới, thì trên thị trường ngay lập tức xảy ra tình trạng
“ăn theo “ tức các nhà đầu tư mua chứng khoán nhỏ lẻ đổ vào
mua chứng khoán đó tại thời điểm hiện tại tăng lên khiến cho
giá chứng khoán đó lập tức lên giá ( do cầu chứng khoán đó

6


tăng ). Ngoài ra, nó còn làm cho thị trường sơ cấp hoạt động với
hiệu quả không cao. Như vậy, các thị trường chứng khoán mới
nổi không nên áp dụng chứng khoán phái sinh, nếu không sẽ
tạo ra những biến động bất lợi về chứng khoán cơ sở năm ngoài
sự kiểm soát của các cơ quan quản lý. Còn với thị trường chứng
khoán phát triển sự áp dụng chứng khoán phái sinh càng kích
thích thị trường phát triển sôi động hơn. Đó là nhờ các chức
năng kinh tế của các chứng khoán phái sinh như :
a)

Chứng khoán phái sinh giúp phòng ngừa rủi ro .

Nhà đầu tư là những người có tiền thực hiện giao dịch trao đổi
mua bán chứng khoán nhằm mục đích sinh lời. Khi nhà đầu tư
này nắm giữ chứng khoán gốc như cổ phiếu trái phiếu, họ mong
muốn chứng khoán này lên giá. Vì như vậy họ sẽ được thêm
kkhoản lời từ chênh lệch giá. Tuy nhiên, phần tài sản của họ sẽ
bị thiệt hại khi thị trường có những biến động bất lơị làm giảm
giá chứng khoán mà họ nắm giữ. Đó là những rủi ro gây tổn
thất cho nhà đầu tư, vì vậy phải phòng ngừa giảm thiểu rủi ro.
Mỗi loại chứng khoán phái sinh có cách phòng ngừa rủi ro riêng
cho các trường hợp xảy ra rủi ro gây tổn thất cho nhà đầu tư,

lai và hợp đồng quyền chọn ). Nhà đầu cơ hy vọng kiếm được
tiền trong tương lai bằng cách đánh cuộc ( mang tính chất cá
cược ) với sự biến động của giá cả. Như vậy nhà đầu cơ là người
đánh bạc mạo hiểm nhất trong những nhà đầu tư. Nhà đầu tư
sử dụng chứng khoán phái sinh để đầu cơ phải là những người
có sức chịu đựng vì thị trường này có độ rủi ro cao. Nhưng
những nhà đầu cơ này lại có vai trò to lớn hình thành lên thị
trường chứng khoán phái sinh bằng cách hoàn tất mối liên hệ
cộng sinh giữa những người muốn tránh né rủi ro ( phòng ngừa
rủi ro ) và những người chấp nhận rủi ro.
Các chứng khoán phái sinh thực sự là rất đa năng, có thể sử
dụng để phòng ngừa rủi ro và cũng có thể sử dụng để đầu cơ.

8


Tuỳ từng quan điểm của nhà đầu tư và từng trường hợp mà nhà
đầu tư gặp phải mà các chứng khoán phái sinh được sử dụng
vào các mục đích khác nhau. Sự vận dụng chứng khoán phái
sinh này rất linh hoạt, nó được đưa ra nhằm bảo vệ quyền lợi
của nhà đầu tư từ đó tạo ra sự sôi động, kích thích nhà đầu tư
tham gia vào đầu tư trên thị trường chứng khoán.
4)

CÁC LOẠI CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH, ĐẶC ĐIỂM VÀ
CHỨC NĂNG CỦA MỖI LOẠI.

Chứng khoán phái sinh được hình thành từ chứng khoán gốc
dựa trên những nhu cầu giao dịch của nhà đầu tư, những người
mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Các

các cổ đông có quyền thụ hưởng quyền và các nhà đầu tư khác.
Thông thường, chứng quyền có thời hạn là ngắn ( 4-6 tuần ) và
việc phát hành thường được quy định trong vốn điều lệ. Chứng
quyền được phát hành nhằm bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư.
Chứng quyền không chỉ đảm bảo quyền mua cổ phiếu đối với
cổ đông hiện hữu nhằm đảm bảo quyền kiểm soát với một tỷ lệ
cổ phiếu mới bằng với tỷ lệ cổ phiếu trước khi phát hành thêm,
mà nó còn nhằm mục tiêu đảm bảo tài sản của chủ sở hữu
chứng khoán (những cổ đông). Đó là do khi phát hành thêm cổ
phiếu, cổ phiếu trên thị trường của công ty phát hành này
thường có xu hướng giảm giá. Người nắm giữ quyền này có thể
dùng để mua cổ phiếu mới hoặc bán quyền trên thị trường
chứng khoán.
Số lượng quyền cần để = Số lượng cổ phiếu cũ đang
phát hành
mua một cổ phiếu mới Số lượng cổ phiếu mới phát hành

Trong đó:

10


Số lượng cổ phiếu = Mức vốn cần huy động
mới phát hành

Giá ghi bán một cổ phiếu

Nếu cổ đông giữ để thực hiện quyền thì nó được ưu đãi mua
chứng khoán với giá thấp hơn mức giá hiện hành của cổ phiếu
vào thời điểm quyền được phát hành. Là do: rủi ro có thể xảy ra

cũ thì được quyền mua một cổ phiếu mới thấp hơn giá thị
trường giả sử với giá là 24.500đ/cổ phiếu. Như vậy, nhà đầu tư
A sẽ được mua cổ phiếu mới của công ty X với số lượng là
10.000 cổ phiếu, khi đó tỷ lệ sở hữu cổ phần của công cua ông
A vẫn là 10% ( 110.000/1.100.000 ) nếu ông A thực hiện quyền.
Còn sau khi phát hành thêm cổ phiếu, thông thường giá cổ
phiếu sẽ giảm giả sử là 29.500đ/cổ phiếu. Giá trị chứng khoán
mà ông ta nắm giữ bị giảm giá và giảm
50.000.000đ=100.000x(30.000-29.500), nhưng ông A được bù
lại một khoản bằng 50.000.000đ =10.000x(29.500-24.500) khi
ông thực hiện quyền mua trước.
b)

Chứng quyền ( đặc quyền dài hạn )

Chứng quyền là chứng khoán mang lại cho người sở hữu quyền
mua cổ phiếu phổ thông với số lượng và giá cả nhất định trong
thời gian nhất định.
Thông thường chứng quyền được phát hành cùng đợt phát hành
trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi để giúp cho việc chào bán lần
đầu các chứng khoán này trở nên hấp dẫn hơn.
Ví dụ: mottj công ty có thể cùng lúc phát hành trái phiếu và
chứng quyền. Các trái phiếu được phát hành dưới hình thức
thông thường, còn chứng quyền được phát hành nhằm giúp cho

12


việc chào bán trái phiếu hấp dẫn hơn. Nếu công ty có chiều
hướng tốt, thì chứng quyền sẽ hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu


Warrant price: giá chứng quyền
Intrinsic value: giá trị nội tại
Ví dụ: Đầu năm 2015 công ty Y phát hành trái phiếu kèm theo
chứng quyền mỗi chứng quyền đảm bảo quyền mua 10 cổ
phiếu thường với giá 30.000 đồng / cổ phiếu vào bất cứ lúc nào
cho đến năm 2020. Giá trị trường cổ phiếu công ty đó tại thời
điểm đầu năm 2015 là 24.500đ/ cổ phiếu, chứng khế này sẽ
hấp đẫn nhà đầu tư nếu họ dự đoán trong thời gian đó giá cổ
phiếu thường sẽ vượt giá được mua trong chứng quyền. Giá cổ
phiếu này tăng nhanh cho đến tháng 10/ 2017 giá cổ phiếu là
50.000đ/cổ phiếu. Trong trường hợp nhà đầu tư thực hiện chứng
quyền thì nhà đầu tư sẽ được nhận một khoản là 10 ˟ ( 50.00030.000) =200.000đ/ 1 chứng quyền. Nếu nhà đầu tư không
thực hiệnchứng quyền thì nhà đầu tư có thể bán và được hưởng
giá của chứng quyền. Nếu thị trường đánh giá cổ phiếu của
công ty còn tăng trưởng hơn thì giá của chứng quyền sẽ cao
hơn giá trị nội tại của chứng quyền(200.000đ/cổ phiếu). Nhưng
nếu giá chứng khoán lại tăng không vượt qua được mức giá ghi
trên chứng quyền thì nhà đầu tư sẽ không thực hiện quyền và
sẽ không thu được khoản lợi nhuận từ chứng quyền. Tuy nhiên,
lúc này họ vẫn được khoản lãi từ chứng khoán gốc.
c)

Hợp đồng kỳ hạn (forwards)

Hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận trong đó một người mua và
một người bán chấp nhận thực hiện ,ột giao dịch hàng hóa với
khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai
với một mức giá được ấn định ngày hôm nay.


tháng và khoảng thời gian của tháng phải giao. Người môi giới
xác định khối lượng, chất lượng của hàng hoá giao dịch, cách
giao hàng, giá hợp đồng.Người mua, bán phải trả phí hoa hồng

15


cho người môi giới, và giá tương lai được xác định trên sàn giao
dịch chứng khoán.Có hai loại thương nhân trên sàn giao dịch:
thứ nhất là những người môi giới ăn hoa hồng, họ sẽ thực hiện
mua bán theo lệnh của nhà đầu tư và tính hoa hồng; thứ 2 là
người tự đầu tư.Để tránh những rủi ro khi thực hiện hợp đồng
tương lai, do người mua hay người bán tháo lui khái hợp đồng vì
sự biến động giá trên thị trường bất lợi cho mình, hoặc do đến
thời điểm thanh toán, người mua không có khả năng tài chính
thì người môi giới phải đưa ra những quy định về yêu cầu dự trữ
tối thiểu đối với người ký hợp đồng tương lai với người môi
giới.Khoản tiền dự trữ này được giữ lại một tài khoản của người
đầu tư mở tại văn phòng chứng khoán.
Ví dụ: Vào đầu năm 2012, công ty A ký hợp đồng tương lai
với công ty B mua 100 tấn gạo với giá 2USD/ kg với thời điểm
mua vào cuối năm 2013. Như vậy vào thời điểm mua, công ty B
phải bán cho công ty A 100 tấn gạo với giá 2USD/ kg và công ty
A phải mua 100 tấn gạo của công ty B với giá đó, cho dù giá
gạo trên thị trường vào cuối năm 2013 là bao nhiêu chăng nữa.

e)

Hợp đồng quyền chọn ( options)


chọn mua sẽ phải trả cho người bán quyền chọn mua một
khoản phí gọi là phí quyền chọn (premium). Người mua
quyền chọn mua sẽ có quyền được mua một lượng cổ
phiếu nhất định theo mức giá thực hiện được thỏa thuận
ban đầu. Người bán quyền chọn mua nhận được tiền phí
nên có trách nhiệm phải bán một lượng cổ phiếu theo giá
đã thỏa thuận ban đầu khi người mua quyền chọn mua
yêu cầu thực hiện quyền.

17




Quyền chọn bán (Put Options): Người mua quyền chọn
bán sẽ phải trả cho người bán quyền chọn bán một khoản
phí gọi là phí quyền chọn (premium). Người mua quyền
chọn bán sẽ có quyền được bán một lượng cổ phiếu nhất
định theo mức giá thực hiện đã thỏa thuận ban đầu. Người
bán quyền chọn bán nhận được tiền phí nên có trách
nhiệm phải mua một lượng cổ phiếu theo giá đã thỏa
thuận ban đầu khi người mua quyền chọn bán yêu cầu
thực hiện quyền.

Các bộ phận cấu thành nên giá quyền chọn:
- Giá trị nội tại của quyền
Giá trị nội tại của một quyền chọn là giá trị mà người nắm giữ
quyền chọn sẽ nhận được bằng cách thực hiện quyền được
ngay lập tức.
Đối với một quyền chọn mua, nếu giá trị thực hiện quyền thấp

càng thấp. Đối với một quyền chọn bán thì ngược lại: mức giá
thực hiện càng cao thì giá của quyền chọn bán càng cao.
-Thời gian cho đến khi đáo hạn:Đối với các quyền lựa chọn Mỹ
(cả quyền chọn mua và chọn bán), thời gian đáo hạn càng dài
thì giá của quyền càng cao, vì giá của chứng khoán cơ sở có
khả năng biến động để cho quyền chọn trở thành có lãi và đem
lại lợi nhuận cho người sở hữu. Đối với các quyền chọn Châu
Âu, ảnh hưởng của thời gian cho đến khi đáo hạn phụ thuộc
vào việc quyền chọn là quyền chọn mua hay chọn bán.
- Lãi suất ngắn hạn phi rủi ro trong suốt thời hạn tồn tại của
quyền.Cố định tất cả các yếu tố khác, giá của một quyền chọn
mua của một trái phiếu sẽ tăng khi lãi suất ngắn hạn phi rủi ro
19


tăng. Đối với một quyền chọn bán của trái phiếu thì ngược lại:
một sự gia tăng mức lãi suất ngắn hạn phi rủi ro sẽ làm giảm
giá của một quyền chọn bán.
-Lãi suất Coupon:Đối với các quyền chọn trái phiếu, các quyền
chọn mua của các trái phiếu coupon sẽ bị định giá thấp hơn so
với các quyền chọn mua của các trái phiếu không có coupon.
Ngược lại, các coupon có xu hướng làm tăng giá của các quyền
chọn bán
Mức dao động dự đoán của các mức lãi suất trong suốt thời hạn
của quyền:quan hệ giữa mức dao động dự đoán của mức lãi
suất trong suốt thời gian của quyền và giá của quyền là mối
quan hệ tỷ lệ thuận bởi vì mức dao động dự đoán càng cao,
xác suất giá của chứng khoán cơ sở sẽ dịch chuyển theo hướng
có lợi cho người mua chứng khoán sẽ càng cao.
Ví dụ : Quyền lựa chọn giúp nhà đầu tưphòng ngừa rủi ro. Ví

tích dự đoán tình hình biến động của chứng khoán cơ sở trong
tương lai một cách tốt nhất. Sau đó vận dụng chứng khoán phái
sinh linh hoạt để kiếm tiền Các chứng khoán phái sinh mới được
áp dụng vào thị trường chứng khoán từ thập kỷ 70 của thế kỷ
20, nhưng đến nay thị trừng chứng khoán phái sinh phát triển
rất nhanh và đạt được nhiều thành công. Theo thông lệ quốc tế,
trên TTCK phái sinh tập trung do Sở Giao dịch chứng khoán
đứng ra tổ chức có 3 loại sản phẩm phái sinh chủ yếu được giao
dịch gồm: hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và một số
hợp đồng kỳ hạn trên trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc
nhà nước. Trên TTCK phái sinh phi tập trung (thị trường OTC)
cũng có 3 loại phái sinh chủ yếu là: hợp đồng quyền chọn
không niêm yết, hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng hoán đổi.
-Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức giao dịch các chứng
khoán phái sinh theo phương thức giao dịch khớp lệnh và
phương thức giao dịch thỏa thuận.
21


- Cơ sở vật chất: xây dựng cơ sở hạ tầng trung tâm thanh toán
bù trừ theo mô hình đối tác bù trừ trung tâm và cơ sở hạ tầng
kỹ thuật của sở giao dịch chứng khoán phái sinh và các CTCK
thành viên, các ngân hàng.
- Chủ thể tham gia: Thành viên trên thị trường chứng khoán
phái sinh Việt Nam bao gồm: thành viên giao dịch; thành viên
thanh toán, bù trừ.
Trong đó, thành viên giao dịch là công ty chứng khoán, ngân
hàng thương mại được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp
thuận hoạt động giao dịch chứng khoán phái sinh và đáp ứng
tiêu chuẩn thành viên giao dịch chứng khoán phái sinh của Sở

khoán phát triển ngày càng vững mạnh với những nội dung
chính sau: Khung pháp lý cho TTCK phái sinh hoạt động, vừa
chính thức định hình khi Chính phủ ban hành Nghị định
42/2015/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, không chỉ giải
quyết nhiều vấn đề đặt ra trong thực tiễn, mà còn giúp TTCK
phát triển theo chiều sâu.
Theo đó, khi triển khai TTCK phái sinh, trước mắt sẽ đưa vào
giao dịch các chứng khoán phái sinh đã được chuẩn hóa để
niêm yết, các sản phẩm đơn giản, dễ sử dụng với mục đích
phòng ngừa rủi ro là chính như: hợp đồng tương lai chỉ số, dùng
để phòng ngừa rủi ro cho danh mục cổ phiếu; hợp đồng tương
lai trái phiếu, dùng để phòng ngừa rủi ro cho danh mục trái
phiếu. Việc triển khai các chứng khoán phái sinh niêm yết khác
dựa trên chứng khoán, sẽ được Bộ Tài chính hướng dẫn theo lộ
trình tại Đề án phát triển TTCK phái sinh được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt kèm theo Quyết định 366/2014/QĐ-TTg ngày
11/3/2014. Để tạo sự linh hoạt trong phát triển các sản phẩm
mới cho TTCK phái sinh theo nguyên tắc thận trọng, Nghị định

23


về TTCK phái sinh xác định rõ nguyên tắc: Tùy thuộc vào trình
độ phát triển của TTCK, cũng như nhu cầu của nền kinh tế, Thủ
tướng Chính phủ sẽ quyết định việc triển khai các sản phẩm
mới, dựa trên các tài sản cơ sở khác phù hợp với thông lệ quốc
tế.
Nếu như TTCK cơ sở (thị trường hiện tại) giúp nhà đầu tư kiếm
lợi nhuận, thì với chức năng chính là phòng ngừa rủi ro, TTCK
phái sinh chủ yếu sẽ hỗ trợ nhà đầu tư bảo vệ những lợi nhuận

dịch khớp lệnh và phương thức giao dịch thỏa thuận
-Cơ sở vật chất : xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính hiện đại cũng
như đội ngũ quản lý phải được trang bị đủ kiến thức và tính
chuyên nghiệp, xây dựng hệ thống thanh toán , bù trừ và cơ
chế quản lý giám sát.
-Chủ thể tham gia: tổ chức được cấp phép kinh doanh chứng
khoán phái sinh phải là tổ chức kinh doanh chứng khoán được
cấp đầy đủ nghiệp vụ kinh doanh và đáp ứng điều kiện vốn điều
lệ, vốn chủ sở hữu từ 600 tỷ đồng trở lên (đối với hoạt động tự
doanh) và 800 tỷ đồng trở lên (đối với hoạt động môi giới).
Tính đến hết tháng 8-2015 trên thị trường chứng khoán có 892
mã cổ phiếu niêm yết trên 3 sàn giao dịch (giao dịch sơ cấp,
thứ cấp, upcom), với tổng vốn hóa lên tới trên 30% GDP, giá trị
giá trị giao dịch hằng ngày trên 2000 tỷ đồng. Thị trường trái
phiếu chính phủ cũng có bước phát triển vượt bậc 3 năm gần
đây, với quy mo đạt 14% GDP, thanh khoản đầu tiên lên tới
2000 tỷ đồng/ phiên với sự thao gia của 25 thành viên đấu thầu
và 54 thành viên giao dịch là các định chế tài chính hàng đầu
trong nước.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status