Giải pháp phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại việt nam - Pdf 47

LỜI MỞ ĐẦU

Xuất hiện trên thị trường Việt Nam từ năm 1998 nhưng đến nay “chứng
khoán phái sinh” chưa được biết đến với tư cách là một công cụ bảo hiểm rủi ro
hữu hiệu cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước
những khó khăn, những cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, những
biến động bất thường về nền kinh tế toàn cầu, những tăng giảm đột ngột của giá
xăng, dầu thế giới, những bấp bênh của tỷ giá đồng USD… đang là những vấn
đề đáng lo lắng cho những nhà đầu tư, những doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Vậy
phải làm gì để giảm bớt rủi ro? Để tối thiểu tổn thất và tối đa hoá lợi nhuận?
Một đòi hỏi cấp thiết đối với thị trường là phải đa dạng hoá các sản phẩm
tài chính phái sinh, nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có, khuyến khích các
doanh nghiệp tích cực tham gia vào thị trường này để loại bỏ bớt những rủi ro
không đáng có.
2. Mục đích của đề tài
Đề tài này tập trung nghiên cứu thực trạng về thị trường chứng khoán phái
sinh ở Việt Nam, tìm ra nguyên nhân, tồn tại và kiến nghị những giải pháp, định
hướng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam trong
tương lai.

1


3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu:
- Quá trình hình thành và của dụng các công cụ tài chính phái sinh ở Việt
Nam.
- Cơ sở pháp lý cho hoạt động của các Ngân hàng thương mại, các Tổ
chức tín dụng khi tham gia kinh doanh các sản phẩm tài chính phái sinh.

TTCK: Thị trường chứng khoán
UBCK: Uỷ ban chứng khoán
TCTD: Tổ chức tín dụng
Khoá luận được thực hiện vào thời điểm thị trường chứng khoán phái sinh
Việt Nam còn rất mới mẻ, chưa đựơc nhiều người đón nhận và đang bước từng
bước nhỏ trong giai đoạn phát triển. Chính vì vậy khoá luận của em còn rất nhiều
thiếu sót, em mong muốn nhận được sự tham gia góp ý của các thầy cô và các
bạn để khoá luận thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn sự tận tình chỉ bảo của Tiến sĩ Nguyễn Đình
Thọ, khoa Tài Chính Ngân Hàng, trường Đại học Ngoại Thương, Hà Nội, đã
giúp đỡ em trong suốt quá trình em thực hiện khoá luận.

Sinh viên thực hiện
Tạ Thị Huyền

3


CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH

Thị trường tài chính phái sinh xuất hiện là kết quả của một quá trình phát
triển cấu trúc thị trường trong thời gian dài. Trong những thập kỷ gần đây, thị
trường tài chính phái sinh phát triển mạnh về khối lượng giao dịch cũng như mức
độ quan trọng. Khi nhắc đến thị trường tập trung và thị trường OTC – phi tập
trung, người ta chỉ nghĩ đến đó là nơi giao dịch chứng khoán, hàng hoá… mà ít
ai nghĩ đến đó còn là nơi diễn ra các giao dịch tài chính phái sinh - một công cụ
phòng ngừa rủi ro cho các doanh nghiệp. Việc sử dụng các sản phẩm phái sinh
hiện nay là một nhu cầu thiết yếu đối với các nhà đầu tư nhằm tối đa hoá lợi

• Người cơ lợi (thực hiện lợi nhuận mà không có rủi ro): bằng cách sử
dụng chênh lệch giá giữa các thị trường tài chính khác nhau, họ đã sử dụng rất
hiệu quả các nghiệp vụ phái sinh để hưởng chênh lệch giá.
Các nghiệp vụ tài chính phái sinh đều mang lại lợi ích cho các thành viên,
chính vì vậy trên thị trường tài chính quốc tế, nghiệp vụ này đã phát triển rất
mạnh với các nghiệp vụ phái sinh đa dạng và thị trường phái sinh đóng vai trò
quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu.
2. Công cụ tài chính phái sinh
2.1. Khái niệm

5


Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành
trên cơ sở những công cụ tài chính đã có nhằm hiều mục tiêu khác nhau như
phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận. Giá trị của công cụ phái
sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỉ giá, trị giá cổ phiếu, trái
phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất….Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần
đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đó thường được sử
dụng nhiều nhất là hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn và hợp
đồng hoán đổi. Những công cụ trên sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các
đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu hoặc để đảm bảo rằng nếu giá của cổ
phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ
được duy trì ở mức ban đầu.
Ingersoll – tác giả cuốn sách Theory of Financial Decision Making – Lý
thuyết quyết định tài chính (1987) đã đưa ra định nghĩa về chứng khoán phái
sinh như sau:
Một hợp đồng tài chính được gọi là một chứng khoán phái sinh
(derivative security), hoặc một tài sản tài chính có giá trị phụ thuộc(contingent
claim), nếu giá trị của hợp đồng tài chính đó tại thời điểm đáo hạn T có thể xác

2.2. Các loại chứng khoán phái sinh cơ bản
2.2.1. Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là công cụ lâu đời nhất, và có lẽ vì lí do đó mà nó ít
phức tạp nhất.
Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, để
mua hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận ngày
hôm nay. Nếu vào ngày đáo hạn, giá thực tế cao hơn giá hợp đồng thì người sở

7


hữu hợp đồng sẽ kiếm được lợi nhuận, nếu ngược lại thì người sở hữu hợp đồng
sẽ chịu một khoản lỗ.
Ví dụ: Vào ngày 01/04 , A ký hợp đồng kỳ hạn mua của B 10 tấn cà phê kỳ hạn
3 tháng với giá 925USD/tấn. Sau 3 tháng, tức vào ngày 01/07, B phải bán cho A
10 tấn cà phê với giá 925USD/tấn và A phải mua 10 tấn cà phê của B với giá đó,
cho dù giá cà phê trên thị trường lúc đó là bao nhiêu đi nữa.
Bản thân hợp đồng kỳ hạn mang trong mình 3 loại rủi ro:
Thứ 1, nếu giá thực tế vào ngày đáo hạn hợp đồng cao hơn giá mong đợi,
rủi ro vốn có của công ty sẽ làm giảm giá trị công ty nhưng sự sụt giảm này sẽ
được đền bù bằng lợi nhuận của hợp đồng kỳ hạn. Vì vậy hợp đồng kỳ hạn cung
cấp một cách phòng ngừa rủi ro hoàn hảo.
Thứ 2, rủi ro tín dụng hay rủi ro không có khả năng chi trả của hợp đồng.
Rủi ro này có hai chiều, người sở hữu hợp đồng hoặc là người nhận được hoặc là
người chi trả, phụ thuộc vào biến động giá cả thực tế của tài sản cơ sở.
Thứ 3, giá trị của hợp đồng kỳ hạn chỉ được giao nhận vào ngày nào đáo
hạn của hợp đồng, không có khoản chi trả nào được thực hiện vào ngày ký kết
hoặc trong thời hạn của hợp đồng. Vậy nên bản thân những hợp đồng kỳ hạn có
chứa nhiều rủi ro nhất trong các công cụ phái sinh.
2.2.2. Hợp đồng tương lai

đối với người ký hợp đồng tương lai với người môi giới. Khoản tiền dự trữ này
được giữ lại một tài khoản của người đầu tư mở tại văn phòng chứng khoán.
Điểm khác nhau giữa Hợp đồng kỳ hạn và Hợp đồng tương lai
• Hợp đồng tương lai là những hợp đồng được chuẩn hoá ( về loại tài sản
cở sở mua bán, số lượng các đơn vị tài sản cơ sở mua bán, thể thức thanh toán,
9


kỳ hạn...). Hợp đồng kỳ hạn là những hợp đồng không được chuẩn hoá, các chi
tiết là do hai bên đàm phán quy định cụ thể.
• Hợp đồng tương lai chỉ được giao dịch các công cụ tương lai được niêm
yết tại các Sở giao dịch chứng khoán. Như vậy, giao dịch hợp đồng tương lai đã
được các sở giao dịch chuẩn hoá và khi đó các bên tham gia giao dịch không
nhất thiết phải biết nhau. Hợp đồng kỳ hạn có thể áp dụng đối với chứng khoán
hay hàng hoá .
• Hợp đồng tương lai được thoả thuận và mua bán qua người môi giới.
Hợp đồng kỳ hạn được thoả thuận và mua bán trực tiếp giữa hai bên kí kết hợp
đồng.
• Hợp đồng tương lai được mua bán trên thị trường chứng khoán tập trung.
Hợp đồng kỳ hạn được mua bán trên thị trường phi tập trung.
• Tính thị trường: Hợp đồng kỳ hạn tiêu chuẩn thường không có giao dịch
thứ cấp, tức là khi muốn thay đổi các bên đối tác tham gia hợp đồng kỳ hạn, phải
đàm phán tìm đối tác khác thay thế, điều này làm tăng chi phí, thời gian thực
hiện hợp đồng bị kéo dài. Ngược lại, hợp đồng tương lai được chuẩn hoá và giao
dịch liên tục trên TTCK.
• Rủi ro: Hợp đồng kỳ hạn có thể gặp rủi ro lớn khi bên đối tác không đủ
khả năng thực hiện hợp đồng là khoảng thời gian trong tương lai, trong khi hợp
đồng tương lai do giao dịch tại các Sở giao dịch chứng khoán, nên rủi ro sẽ thấp
hơn hoặc có cơ chế bảo hiểm khi xảy ra rủi ro.
• Thời điểm thực hiện hợp đồng: Hợp đồng tương lai thường xác định thời

sung, tài khoản ký quỹ phải được bổ sung như cũ.
Hợp đồng giao sau rất giống với một danh mục các hợp đồng kỳ hạn. Tuy
nhiên, hợp đồng giao sau và một danh mục các hợp đồng ỳ hạn chỉ giống nhau
11


khi lãi suất là có thể xác định trước, tức là biết được một cách chắc chắn. Vào lúc
đóng cửa mỗi ngày, các hợp đồng giao sau mag tính kỳ hạn đang tồn tại sẽ được
thanh toán cũng như một hợp đồng mới được ký kết. Tính chất thanh toán hàng
ngày kết hợp với yêu cầu ký quỹ cho phép hợp đồng giao sau giảm thiểu đáng kể
rủi ro tín dụng vốn có của hợp đồng kỳ hạn.

2.2.3. Quyền chọn: Mua và Bán
Quyền chọn : là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó
cho người mua quyền nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản
nào đó vào ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay. Mặc dù
các quyền chọn được giao dịch trong một thị trường có tổ chức nhưng phần lớn
các giao dịch quyền chọn được quản lý riêng rẽ giữa hai bên. Những người này
tự tìm đến với nhau, loại thị trường này gọi là thị trường OTC – loại thị trường
quyền chọn xuất hiện đầu tiên. Hầu hết các quyền chọn chúng ta quan tâm là
mua bán các loại tài sản tài chính chẳng hạn như cổ phiếu, trái phiếu.... Mặc dù
vậy, cũng xuất hiện một hình thức khác của quyền chọn đó là loại thoả thuận tài
chính như hạn mức tín dụng, đảm bảo khoản vay, và bảo hiểm. Ngoài ra, bản
thân cổ phiếu cũng là quyền chọn trên tài sản công ty.
Quyền chọn cũng có những nét giống với một hợp đồng kỳ hạn nhưng
quyền chọn không bắt buộc phải thực hiện giao dịch còn người sở hữu hợp đồng
kỳ hạn bắt buộc bắt buộc phải thực hiện giao dịch. Hai bên trong hợp đồng kỳ
hạn có nghĩa vụ phải mua và bán hàng hoá, nhưng người nắm giữ quyền chọn có
thể quyết định mua hoặc bán tài sản với giá cố định nếu giá trị của nó thay đổi.
Có hai kiểu thực hiện quyền chọn:

13


nhà đầu tư có quyền không thực hiện việc mua của mình và chỉ chịu mất
20.000.000 đồng tiền phía quyền chọn mua.
Quyền chọn bán:
Người nắm giữ một lượng tài sản mua phí quyền chọn bán của nhà cung
cấp quyền chọn bán để đảm bảo rằng tài sản của mình sẽ chắc chắn được bán ở
một mức giá nhất định trong tương lai.
Ví dụ: Nhà đầu tư nắm giữ 1000 cổ phiếu của AB trên với mức giá thị trường
hiện tại là 100.000đ/ cổ phiếu. Nhà đầu tư lo lắng về giá cổ phiếu có thể giảm
xuống còn 70.000đ/cổ phiếu, vậy nhà đầu tư sẽ lỗ 30.000.000đ.
Nhà đầu tư sẽ mua quyền chọn bán với mức phí 20.000đ/cổ phiếu x 1000 cổ
phiếu = 20.000.000đ để đảm bảo cổ phiếu của mình lúc nào cũng có thể bán
được với giá 100.000đ/cổ phiếu. Nghĩa là nếu giá cổ phiếu giảm xuống dưới
100.000đ/cổ phiếu thì nhà đầu tư có thể sẽ có lợi vì được bán cổ phiếu ở mức cao
hơn mức giá cổ phiếu đó trên thị trường vào thời điểm đó.
2.2.4. Hợp đồng hoán đổi
Hoán đổi là một hợp đồng trong đó hai bên đồng ý hoán đổi dòng tiền,
một giao dịch mà cả hai bên đồng ý thanh toán cho bên còn lại một chuỗi các
dòng tiền trong một khoảng thời gian xác định.
Ví dụ một bên đối tác đang nhận được một dòng tiền từ một khoản đầu tư ,
nhưng lại thích một loại đầu tư khác với dòng tiền mà mình đang thị hưởng. Bên
đối tác này sẽ liên lạc với một môi giới hoán đổi, thường là một công ty hoạt
động trên OTC, và họ sẽ thực hiện vị thế đối nghịch trong giao dịch. Tuỳ thuộc
vào lãi suất hay giá sau đó như thế nào mà 1 bên sẽ thu được lợi nhuận hay là bị
lỗ. Lãi của bên này chính là lỗ của bên kia.
Thông thường giao dịch hoán đổi bao gồm các thanh toán lãi, trong một số
trường hợp là thanh toán nợ gốc.
14


• Các điều khoản xử lý các vấn đề phát sinh trong thời gian thực hiện repo.
Việc thực hiện nghiệp vụ repo góp phần làm tăng tính thanh khoản cho thị
trường, tăng hiệu quả đồng vốn kinh doanh cho nhà đầu tư và đem lại cho nhà
đầu tư một số lợi ích như: vẫn có quyền sở hữu cổ phiếu khi mua lại cổ phiếu đã
bán sau kỳ hạn nhất định, vẫn được hưởng cổ tức trong thời hạn chuyển
nhượng...
II. ỨNG DỤNG CỦA CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI SINH
1. Quản trị rủi ro
Thị trường sản phẩm phái sinh cho phép những người muốn làm giảm rủi
ro của mình chuyển giao rủi ro cho những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó là
những nhà đầu cơ. Thị trường này rất có hiệu quả trong việc phân phối lại rủi ro
giữa các nhà đầu tư, không ai cần phải chấp nhận một mức rủi ro không phù hợp
với bản thân mình. Vì thế họ sẵn sàng cung cấp nhiều vốn hơn cho thị trường tài
chính, điều này tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, phát huy khả năng huy
động vốn và giảm chi phí sử dụng vốn.
Thị trường các sản phẩm phái sinh còn là một công cụ hiệu quả cho hoạt
động đầu cơ, người muốn phòng ngừa rủi ro phải tìm được một người có nhu cầu
hoàn toàn đối lập với mình, tức là rủi ro của người muốn phòng ngừa rủi ro phải
được hấp thụ bởi các nhà đầu cơ.
Thực tế của thị trường các sản phẩm phái sinh sẽ làm một bên được lợi và
tất yếu bên kia không tránh khỏi những thiệt hại nhưng những giao dịch này vẫn
rất phát triển trên thị trường bởi mỗi nhà đầu tư có một “khẩu vị rủi ro” khác
nhau, khả năng chấp nhận rủi ro khác nhau. Tuy nhiên, ai cũng mong muốn giữ
cho các khoản đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được và vì thế

16


các nhà đầu cơ gặp nhau và tiến hành việc chuyển giao một phần rủi ro của mình

3.1. Lợi thế
Thứ 1, chi phí giao dịch thấp hơn. Điều này làm cho việc chuyển hướng từ
các giao dịch giao ngay sang phái sinh ngày càng dễ dàng và hấp dẫn hơn.
Thứ 2, tính thanh khoản cao hơn hẳn so với thị trường giao ngay. Trước
hết đó là yêu cầu một mức vốn để tham gia thị trường là tương đối thấp. Hơn
nữa, tỷ suất sinh lời và rủi ro có thể được điều chỉnh ở bất cứ mức độ nào như
mong muốn.
Thứ 3, các giao dịch bán khống được thực hiện dễ dàng hơn. Ngoài ra, các
nhà đầu tư có thể tìm kiếm được những khoản lợi nhuận đáng kể từ chênh lệch
giá, chênh lệch lãi suất. Tất cả các chủ thể tham gia thị trường đều có thể tìm
thấy lợi nhuận.
Thị trường phái sinh giúp các tín hiệu thị trường khó bị bóp méo. Vì thế,
các nhà đầu cơ với ý định thao túng thị trường cũng có những khó khăn nhất
định. Chính vì thế, đặt bên cạnh thị trường giao ngay, sự hiệu quả của thị trường
phái sinh giúp nâng cao tính lành mạnh cho thị trường đó.
3.2. Hiệu quả
Xét ở góc độ tổng thể của nền kinh tế: thị trường công cụ tài chính phái
sinh đóng góp cho tăng trưởng kinh tế thông qua việc phát huy tốt các chức năng
của hệ thống tài chính:
• Là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư.
• Sàng lọc, chuyển giao và phân tán rủi ro trên thị trường
• Giám sát doanh nghiệp
18


• Tăng tính thanh khoản của các công cụ tài chính (cổ phiếu, trái phiếu...)
Xét ở góc độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: doanh nghiệp có
thể mua hoặc bán công cụ phái sinh với 2 mục đích: mục đích phòng ngừa rủi ro
tài chính, mục đích đầu cơ, tạo lợi nhuận từ ứng dụng công cụ phái sinh, trên cơ
sở tạo trạng thái mở về lãi suất, ngoại tệ, hàng hoá, chứng khoán... Ngoài ra, khi

kỹ thuật nhằm đưa những người mua và những người bán lại với nhau. Nhà đầu
tư muốn mua Quyền chọn liên hệ với một công ty thành viên, công ty này sẽ cố
gắng tìm người bán quyền chọn từ những khách hàng của họ hoặc của công ty
thành viên khác, nếu không có người bán, công ty sẽ tự phát hành quyền chọn
với giá cả thích hợp. Thị trường hoạt động theo cách này gọi là thị trường OTC,
các nhà kinh doanh không gặp nhau trên sàn giao dịch của thị trường.
Thị trường quyền chọn của các nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn
chịu áp lực của 2 yếu tố: thứ nhất, khi không có thị trường thứ cấp, người mua
quyền chọn không có quyền bán cho bên khác trước ngày đáo hạn. Thứ hai,
không có kỹ thuật nào đảm bảo rằng người bán quyền chọn sẽ thực hiện hợp
đồng, nếu người bán không thực hiện hợp đồng thì người mua phải tốn chi phí
kiện tụng.
Tháng 4 năm 1973, Sàn giao dịch quyền chọn Chicago ra đời đặc biệt
dành cho trao đổi quyền chọn về cổ phiếu. Từ đó, thị trường quyền chọn trở nên
phổ biến với nhà đầu tư. Thị trường chứng khoán Mỹ (AMEX) và thị trường
chứng khoán Philadelphia (PHLX) bắt đầu thực hiện giao dịch quyền chọn vào
năm 1975. Năm 1976, thị trường chứng khoán Pacific ra đời. Khoảng đầu thập
niên 80, khối lượng giao dịch tăng lên nhanh chóng đến mức mà số lượng cổ
20


phiếu theo hợp đồng quyền chọn bán hàng ngày vượt quá khối lượng giao dịch
cổ phiếu trên thị trường chứng khoán NewYork.
Trong thập niên 80, thị trường quyền chọn đối với ngoại tệ, chỉ số chứng
khoán và hợp đồng tương lai đã phát triển ở Mỹ. TTCK Philadelphia là nơi trao
đổi ngoại tệ đầu tiên. Thị trường giao dịch quyền chọn Chicago trao đổi quyền
chọn chỉ số chứng khoán của S&P 100 và S&P 500. TTCK Mỹ giao dịch quyền
chọn về chỉ số chứng khoán của một số thị trường chính, TTCK NewYork giao
dịch chỉ số NYSE. Hầu hết các thị trường đều giao dịch quyền chọn đối với
những hợp đồng tương lai.

Tuy nhiên, sự phát minh phổ biến nhất của thập kỉ 20 là việc Sàn giao dịch
chứng khoán Philadelphia cho ra đời quyền chọn tiền tệ năm 1982. Đến năm
1988, giao dịch quyền chọn tiền tệ lên tới 4tỉ USD/ngày. Quyền chọn bán ở sở
giao dịch trên bản đồ quốc tế đã thu hút sự chú ý của châu Âu, Pacific và vùng
Viễn Đông, cũng từ đó những văn phòng đại diện sở giao dịch chứng khoán đầu
tiên đựơc hình thành ở khắp mọi nơi. Sự thành công của việc giao dịch quyền
chọn tiền tệ trên Sở giao dịch Philadelphia đã cho ra đời giao dịch tương lai và
giao dịch các sản phẩm tương lai khác.
Nhu cầu ở vùng Viễn Đông ngày càng tăng cao nên năm 1987,
Philadelphia đã cho ra đời thêm một phiên họp giao dịch vào buổi chiều và tháng
1 năm 1989 thêm một phiên họp vào buổi sáng sớm để đáp ứng nhu cầu của sự
gia tăng nhu cầu ở Châu Âu. Tiếp đó là sự ra đời của “mục lục quyền chọn” đã
đánh dấu sự thành công về quyền chọn đáng chú ý nhất vào những năm 1990.
Từ năm 1991 đến nay, số lượng giao dịch quyền chọn trên thị trường này
không ngừng tăng cao. Năm 1991 đến năm 1995 tăng từ 11.470$ lên 17.540$ và
22


con số này năm 2000 là 75.999$. Đến năm 2006 tăng tới 70% đối với giao dịch
quyền chọn tiền tệ.
Tóm lại, có thể thấy sự phát triển mạnh mẽ của thị trường quyền chọn từ khi nó
ra đời đến bây giờ và tiêu biểu là trên sàn giao dịch chứng khoán và quyền chọn
Philadelphia.

23


CHƯƠNG II

ĐÁNH GIÁ VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG

1993
Ngân hàng quốc doanh
4
4
Ngân hàng cổ phần
4
41
Ngân hàng liên doanh
1
3
Chi nhánh NHNN
0
8
Tổng cộng
9
56
Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước

1995
4
48
4
18
74

1997
5
51
4
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status