Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần mở đầu
Xây dựng và phát triển thị trờng chứng khoán (TTCK) là một trong
những mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia, TTCK là một thể chế tất yếu
không thể thiếu đợc của một nền kinh tế thị trờng đang hình thành và phát
triển ở nớc ta.
Sau hơn 2 năm hình thành và phát triển TTCK Việt Nam đã chứng tỏ rõ
vị trí của nó đối với nền kinh tế đất nớc .Tuy nhiên, trớc bối cảnh hội nhập
quốc tế, TTCK Việt Nam một mặt tiếp nhận đợc rất nhiều cơ hội, mặt khác
lại bị đặt trớc không ít những khó khăn ,thách thức. Chính lẽ đó đòi hỏi
chúng ta luôn phải có cácgiải pháp phù hợp để khắc phục hạn chế do những
thách thức mang lại.
Trong khuôn khổ nội dung của đề án, những vấn đề liên quan đợc đa
vào 3 chơng cụ thể :
+ Ch ơng 1 : Thực trạng TTCK Việt Nam.
+ Ch ơng 2 : Cơ hội và những thách thức đối với TTCK Việt Nam.
+ Ch ơng 3 : Giải pháp phát triển TTCK Việt Nam.
Do dung lợng thời gian và kiến thức có hạn , bài viết không thể tránh
khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong đợc sự giúp đỡ của Khoa Ngân
hàng- Tài chính nói chung và thầy giáo hớng dẫn nói riêng để bài viết hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Đỗ Ngọc Quyên
thị trờng chứng khoán Việt Nam
cơ hội và những thách thức
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng I: thực trạng ttck việt nam
I. Sự ra đời TTCK Việt Nam
1. Nguyên nhân và thời gian ra đời
nghị quyết đó là:
+Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996 của chính phủ
Về việc thành lập uỷ ban chứng khoán nhà nớc
Căn cứ của việc phát hành nghị định này đó là Luật Tổ chức Chính phủ
ngày 30/9/1992
Mục đích của nghị định này là thúc đẩy hình thành và phát triển thị tr-
ờng chứng khoán và quản lý hoạt động chứng khoán ở Việt Nam:
+Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của chính phủ
Về chứng khoán và thị trờng chứng khoán
Căn cứ Luật tổ chức chính phủ ngày 30/9/1992
Mục đích tạo môi trờng thuận lợi cho việc phát hành và kinh doanh
chứng khoán, nhằm khuyến khích huy động các nguồn vốn dài hạn trong n-
ớc và nớc ngoài, đảm bảo cho thị trờng chứng khoán hoạt động có tổ chức, an
toàn, công khai, công bằng và hiệu quả, bảo vệ quyền hợp pháp của ngời đầu
t: Thể theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban Chứng Khoán Nhà nớc.
+Nghị định số 17/2000 NĐ-CP ngày 26/5/2000 của chính phủ
Về tổ chức hoạt động của Thanh tra chứng khoán
+Nghị định số 22/2000 NĐ-CP ngày 10/2/2000 của chính phủ
Về xét phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trờng
chứng khoán
+Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 của thủ tớng chính
phủ
Về việc thành lập Trung tâm giao dịch chứng khoán
Căn cứ Nghị quyết số 75-CP ngày 28/11/1996 của chính phủ về việc thành
lập Uỷ ban Chứng khoán Nhà nớc. Thể theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban
Chứng Khoán Nhà nớc và Bộ trởng, Trởng ban Tổ chức- cán bộ Chính phủ.
+Quyết định số 139/1999/QĐ-TTg ngày 10/6/1999 của thủ tớng chính
phủ
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+Quyết định số 42/2000/QĐ - UBCK1ngày 12/6/2000 của chủ tịch uỷ
ban chứng khoán nhà nớc
Về việc sửa đổi, bổ xung một số điều trong Quy chế thành viên, niêm
yết, công bố thông tin và giao dịch chứng khoán ban hành theo quyết định số
04/1999/QĐ-UBCK1 ngày 27/3/1999 của Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà
nớc.
II. Quá trình tồn tại và phát triển TTCK Việt Nam
trong thời gian qua
1. TTCK Việt Nam hơn 3 tháng cuối năm 2000
1.1. Quá ít chủng loại hàng hoá trên thị trờng
Phiên giao dịch đầu tiên ngày 28/7/2000 chỉ có 2 loại cổ phiếu đợc niêm
yết trên TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh.Đó là công ty Cơ điện lạnh (REE) và
công ty cổ phần Cáp và Vật liệu viễn thông (SACOM).Đến phiện giao dịch
thứ 4, có thêm 3 loại chứng khoán nữa đó là: cổ phiếu của Công ty cổ phần
giấy Hải Phòng (HAPACO),Công ty cổ phần kho vận giao nhận ngoại thơng
(TRANSIMEX) và trái phiếu chính phủ CP1- 0100. Đến phiên giao dịch thứ
12 có thêm trái phiếu chính phủ CP1 0200,và đến phiên giao dịch thứ 34
lại đa tiếp trái phiếu chính phủ CP1A0100 vào giao dịch, nhng không có ngời
mua và ngời bán loại trái phiếu này. Riêng trái phiếu công ty cha thấy xuất
hiện niêm yết trên TTGDCK, kể cả trái phiếu Ngân hàng đầu t và phát triển
đã đợc cấp giấy niêm yết.
1.2. Khối lợng từng chủng loại hàng hoá giao dịch quá ít
Về cổ phiếu, tính đến đầu tháng 11/2000, tức sau hơn 3 tháng thực
hiện giao dịch, thị trờng chứng khoán Việt Nam đạt đợc tổng giá trị giao dịch
vào khoảng hơn 40 tỷ VND. Một con số rất khiêm tốn chỉ bằng1/10 của một
ngày giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán Jakarta. Điều này, có thể lý
giải là do hàng hoá giao dịch trên thị trờng chứng khoán Việt Nam đã ít về
chủng loại, lại còn ít về số lợng mỗi loại. Tình trạng này gây nên mất cân đối
11 31 198 520 340 544 777 160 2.290 160 4 638 4
12 48 927 574 59 868 614 120 1.611 120 3 375 3
13 46 1.110 273 33 968 600 50 1.165 50 2 78 2
14 47 1.753 752 1.192 668 879 80 1.158 80 6 285 6
Bảng 1: Qui mô chào bán với giá thấp nhất và đặt mua với giá cao nhất (trong 14 tuần).
Đơn vị: 100
Về trái phiếu, sau hơn 3 tháng đã có mặt 3 loại trái phiếu chính phủ đợc
niêm yết, nhng có 2 loại CP1A0100 và CP1- 0200 cha thực hiện đợc giao
dịch nào. Còn loại trái phiếu chính phủ CP1- 100 thì đợc giao dịch với khối l-
ợng rất thấp với tổng số 390 trái phiếu, đạt giá trị giao dịch khoảng
39.206.000 đồng .Trong khi đó, nếu xét về tổng giá trị niêm yết thì đây là
loại hàng hoá có số lợng lớn nhất trên thị trờng chứng khoán tính đến thời
điểm hiện nay ở Việt Nam, vào khoảng 1100 tỷ, gấp hơn 4 lần tổng lợng vốn
của 4 công ty đợc niêm yết giao dịch (ớc tính khoảng 200 tỷ đồng).
1.3. Diễn biến giá cổ phiếu không bình thờng
Ngay từ phiên giao dịch đầu tiên, khối lợng hàng hoá giao dịch quá ít
(4/11/2000), giá phiên giao dịch đầu tiên của cổ phiếu REE là 16.000đ/CP,
SAM là 17000đ/CP đã tăng đạt ỏi và sự chênh lệch giữa cung cầu quá lớn đã
làm cho gía liên tục tăng đạt mức trần do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nớc ấn
định(2%).Sau hơn 3 tháng giao dịch (tính đến ngày con số 22.000 đồng và
25200 đồng, và dự báo trong thời gian tới giá của các loại cổ phiếu còn tăng
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nữa. Tơng tự , giá cổ phiếu ở phiên giao dịch đầu tiên của cổ phiếu HAP và
TMS là 16.000đ và 14.000đ đến ngày 4/11/2000 đã đạt 29.500đ và 22.900đ
và con số này vẫn cha dừng lại ở các phiên sau đó.Chỉ số chứng khoán VN
index cũng tăng liên tục và đạt 145,83 điểm tại phiên giao dịch ngày
4/11/2000.(Bảng 2)
Bảng 2: Biến động giá cổ phiếu qua các tuần giao dịch (trong14 tuần).
Đơn vị: 1.000 đồng
đấu thầu và 2 đợt bảo lãnh trái phiếu chính phủ, đạt 1.656,633 tỷ đồng, lãi suất
bình quân là 7,3%.Nh vậy so với chỉ tiêu đặt ra cho năm 2001 là huy đọng đợc
2000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ qua TTCK thì vẫn cha đạt đợc kế hoạch.Sau
hơn một năm hoạt động , tổng giá trị trái phiếu niêm yết trên TTCK đạt 2.915
tỷ đồng.
2.2. Tình hình giao dịch chứng khoán niêm yết
2.2.1. Về giao dịch cổ phiếu
Có thể nói năm 2001 là một năm đầy biến động của giá các cổ phiếu
niêm yết.Đây là thời kỳ UBCKNN áp dụng chủ yếu các công cụ trực tiếp để
điều hành thị trờng .Ngay từ đầu,TTGDCK đã áp dụng biên độ giao động giá
chứng khoán là +_ 2%, sau đó đã cho nới rộng biên đọ này lên +-7% .Đến
ngày 10/10/2001, TTGDCK đã áp dụng trở lại biên độ giao động +-2%.Việc
điều chỉnh biên độ giao động giá đã góp phần điều tiết thị trờng ,ổn định tâm
lý nhà đầu t.
Trong 6 tháng đầu năm , do tâm lý nhà đầu t muốn nắm giữ cổ phiếu
chờ hởng lợi luận cao và việc lao vào mua cổ phiếu với kỳ vọng thu đợc lãi
lớn do việc tăng giácổ phiếu mà không quan tâm đến hoạt động kinh doanh,
khả năng và triển vọng của các công ty niêm yết , nên đã dẫn đến tình trạng
đẩy giá cố phiếu liên tục tăng đụng mức trần +- 2%qua từng phiên giao
dịch .Chỉ số VN-Index tăng đạt đỉnh điểm 571 điểm vào ngày 25/6/2001,sau
đó đảo chiều có xu hớng giảm liên tục .Chỉ số giảm mạnh nhất vào thời kỳ
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giao dịch cổ phiếu niêm yết áp dụng biên độ giao động giá +-7% (từ phiên
ngày 13/06/200 đến phiên ngày 08/10/2001) . Từ khi biên độ điều chỉnh +-
2% thì chỉ số tăng trở lại .Song vào tháng cuối năm 2001, chỉ số lại dịch
chuyển theo chiều xuống ,trung bình giảm ở mức 3,6 điểm /phiên.Đến ngày
31/12/2001, chỉ số đạt 235,40 điểm, tăng 135,4 điểm so voéi mức tăng 100
điểm của phiên giao dịch đầu tiên ngày 28/07/2000 và giảm trên 300 điểm
so với đỉnh 571 điểm ngày 25/6/2001 .
* Chỉ có cổ phiếu HAP sếu tính theo EPS là không vợt tỷ giá thực nhng ESP
này lại tính theo tỷ lệ lợi nhuận khác thờng, tới 83,49%, đang chứa đựng một
rủi ro rất cao do độc quyền về giấy đế may mắn kiếm đợc ở thị trờng Đài
Loan
Tổng khối lợng giao dịch trong năm 2001 là 19.028.200 cổ phiếu với tổng
giá trị là 964,5 tỷ đồng , chiếm 93,2% tổng giá trị thị trờng.
2.2.2 Về giao dịch trái phiếu
Tổng khối lợng trái phiếu niêm yết trên thị trờng khá lớn, chiếm 85%
tổng giá trị chứng khóan niêm yết (khoảng 3400 tỷ đồng).Tuy nhiên, chỉ có
trái phiếu ngân hàng Đầu t và phát triển có giao dịch cầm chừng trong mỗi
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phiên ,còn trái phiếu Chính phủ gần nh không có giao dịch .Bình quân mỗi
phiên có 4290 trái phiếu đợc giao dịch ,đạt 436,85 triệu đồng.
Tổng giao dịch trái phiếu trong năm 2001 là 693.730 trái phiếu đạt hơn
65,5 tỷ đồng chiếm 6,4% tổng giá trị giao dịch toàn thị trờng .
2.3. Hoạt động của công ty niêm yết
Tính đến ngày 31/12/2001, UBC KNN đã cấp giấy phép niêm yết cho
10 loại cổ phiếu. Nhìn chung hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết
diễn ra theo chiều hớng tốt , các công ty đều có lãi và trả cổ tức cao, hấp dẫn
ngời đầu t .Hoạt động của các công ty đeu diễn ra ,thuận lợi tốc độ tăng trởng
khá cao.Hầu hết các công ty đều phát triển mở rộng thị trờng, đa dạng hoá
sản phẩm ,cải tiến phơng thức và bộ máy quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn. Bên cạnh đó , do niêm yết trên thị trờng chứng khoán, các công ty đợc
hởng u đãi về thuế,tăng uy tín trên thị trờng nên hoạt động kinh doanh của
các công ty đợc hỗ trợ tích cực.
Sang năm 2002, theo một dự đoán, nền kinh tế Việt Nam vẫ có tốc độ
tăng trởng cao, ổn định,hầu hết các công ty đều huy động đợc vốn mở rộng
sản xuất hay đầu t vào lĩnh vực công nghệ cao, do vậy, môi trờng hoạt động
cũng nh cơ hội phát triển của các công ty trong thời gian tới là rất lớn.
trong hoạt động kinh doanh.Hầu hết các công ty đã hoạt động có lãi, sớm
hơn so với kế hoạch chịu lỗ trong vòng từ 3-5 năm đầu tiên hoạt động.Các
công ty đã tiến hành mỏ rộng sản xuất kinh doanh nh : tăng vốn điều lệ, mở
các chi nhánh và các đại lý nhận lệnh tại các tỉnh,thành phố (Hà Nội, Hải
Phòng, Đồng Nai, Đà nẵng ).
Tuy nhiên, hoạt động chính của các công ty CK trong thời gian qua chỉ
là làm môi giới chứng khoán, đại lý phát hành cho các công ty niêm yết, còn
hầu hết các nghiệp vụ khác nh : t vấn,bảo lãnh phát hành,tự doanh , quản lý
danh mục đầu t chứng khoán đợc triển khai một cách mạnh mẽ.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Một phần nhỏ nguồn vốn của các công ty đựơc sử dụng vào hoạt động
tự doanh với hình thức mua lô lẻ,còn lại đợc gửi ngân hàng hoặc mua trái
phiếu Chính phủ nên có thể nói tất cả các công ty cha gặp rủi ro về tài chính,
các chỉ số tài chính đáp ứng tiêu chuẩn do UBCK qui định.
2.5. Hoạt động lu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Hiện nay, trên thị trờng có 11 thành viên lu ký bao gồm 8 cty CK, 2
ngân hàng lu ký nớc ngoài và một ngân hàng chỉ định thanh toán. Hệ thống
thanh toán bù trừ đợc thực hiện nhanh chóng , thuận lợi.
Một số cổ phiếu có tỷ lệ lu ký cao nh HAP với 98,98%, CAN 94,14
thấp nhất là cổ phếu SAM với 39,08.Trong khi đó các trái phiếu Chính phủ
có tỷ lệ lu ký100%, trái phiếu ngân hàng đầu t và phát triển là 22,5%.
TTGDCK đã tổ chức tốt việc thanh toán tiền và bù trừ chứng khoán, hớng
dẫn cho các tổ chức phát hành các thủ tục về chi trả cổ tức, lãi trái phiếu,thực
hiện quyền đối với các cổ đông, lập danh sách phục vụ họp đại hội cổ đông
của công ty.
Để hỗ trợ các nhà đầu t trong việc mua bán chứng khoán, trong năm qua
TTGDCK đã nghiên cứu rút ngắn thời gian thực hiện thanh toán bù trừ xuống
còn T+3 và đã đợc áp dụng trong đầu tháng 1/2001. Đây là một cố gắng lớn
của TTGDCK nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trờng.
song thực tế tổ chức hoạt động thị trờng còn gặp nhiều khó khăn và còn cha
thực hiện đợc vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho
nền kinh tế.
Vì rất nhiều lý do khác nhau, trong năm qua thị trờng mới chỉ tạo tính
thanh khoản cho các chứng khoán mà cha là nơi thực hiện huy động vốn của
các công ty niêm yết. Chính vì vậy đã hạn chế việc muốn tham gia niêm yết
của các doanh nghiệp.
Trái phiếu Chính phủ đựơc đa vào niêm yết với khối lợng lớn, nhng có
giao dịch rất thấp. Nguyên nhân là lãi suất trái phiếu thấp hơn lãi suất Ngân
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hàng. Trái phiếu đợc nắm giữ bởi các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm và
họ hiện nay đang trong tình trạng thừa vốn nên không có nhu cầu bán lại.
Hầu hết các nhà đầu t tham gia htị trờng với ý định đầu cơ giá ngắn hạn
mà không có quan niệm đầu t theo giá trị, dẫn đến những hiện tợng mua bán
ồ ạt làm cho giá cổ phiếu lên quá cao hay xuống quá thấp, gây biến động lớn
cho thị trờng. Thị trờng thiếu những nhà đầu t tổ chức lớn, có khả năng tài
chính và có các chuyên gia chuyên sâu trong lĩnh vực này.
Việc tuyên truyền phổ cập kiến thức cho công chúng đầu t về chứng
khoán và thị trờng chứng khoán đã có sự quan tâm và thu đợc những thành
công nhất định, nhng công tác này cha thực hiện rộng rãi nhằm đáp ứng nhu
cầu của công chúng.
Có thể nói rằng năm 2001 là năm bản lề cho sự phát triển TTCK Việt
Nam trong giai đoạn tới. Số lợng chứng khoán tăng đáng kể, số nhà đầu t
tham gia thị trờng cũng tăng nhanh. Xu hớng thị trờng đã không còn diễn
biến một chiều nh trớc đây, ngời đầu t đã có những kinh nghiệm nhất định
sau hơn 1năm hoạt dộng của thị trờng, họ đã có những phân tích đánh giá và
bớc đầu hình thành chiến lợc đầu t cho mình. Việc tổ chức điều hành thị tr-
ờng của cơ quan quản lý đã giúp thị trờng hoạt động ổn định, đi đúng định h-
ớng đề ra. Thời gian tới UBCKNN sẽ phối hợp với các bộ ngành, địa phơng
đều đã cố gắng để đáp ứng các qui định do Uỷ ban Chứng khoánnhà nớc đề
ra.Tuy nhiên, do cha có thói quen trong nôi trờng hoạt động của thị trờng
chứng khoán, nên đa số các công ty niêm yết còn thụ động trong việc công
bố thông tin; hầu hết các công ty niêm yết chỉ chú trọng vào thông tin định kì
và thong tin phải cung cấp theo yêu cầu,cha chủ động cung cấp kịp thời
thông tin liên quan đến hoạt động của công ty.
Trong năm 2002, về thị trờng trái phiếu, đã thực hiện thành công 23 đợt
đấu thầu qua trung tâm giao dịch chứng khoán và bảo lãnh phát hành trái
phiếu chính phủ đạt tổng giá trị 1.362 tỷ đồng . Đến nay đã có 41 loại trái
phiếu niêm yết trên thị trờng giao dịch chứng khoán, trong đó 39 loại trái
phiếu chính phủ và 2 trái phiếu doanh nghiệp với tổng giá trị trái phiếu niêm
yết trên TTCK đạt 4.276,338 tỷ đồng.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.2. Về hoạt động của các công ty chứng khoán
Đến nay đã có 9 công ty chứng khoán hoạt động trên thị trờng, trong đó
có 3 công ty cổ phần và 6 công ty TNHH.Trong năm 2002 đã có 1 công ty cổ
phần chứng khoán xin tăng vốn điều lệ.
Tính đến ngày 31/12/2002, số tài khoản giao dịch chứng khoán của
khách hàng đợc mở tại các công ty chứng khoán là trên 13.000, trong đó có
tài khoản của 91 nhà đầu t có tổ chức và 33 nhà đầu t nớc ngoài. Các công ty
chứng khoán đang triển khai mở rộng phạm vi hoạt động, mở chi nhánh và
đại lý nhận lệnh tại 7 tỉnh, thành phố là Hà Nội , Tp. Hồ Chí Minh ,Đồng Nai
, Hải phòng, Đà Nẵng , Bình Dơng, Long An.
Trong năm 2002 kết quả kinh doanh của các công ty chứng khoán đều
có chiều hớng tốt, các chỉ tiêu báo cáo tài chính cho thấy các công ty chứng
khoán có tình hình tài chính lành mạnh, khả năng thanh toán đợc đẩm bảo.
Mặc dù năm 2002, các công ty chứng khoán có sự giảm sút về lợi nhuận, nh-
ng so với cùng kỳ năm trớc tình hình sử dụng vốn của các công ty đợc cải
thiện.Tài sản dới dạng tiền giảm, tỷ lệ tài sản cố định và đầu t dài hạn tăng
3.4. Hoạt động giao dịch chứng khoán
Với đặc điểm thị trờng qui mô nhỏ, hàng hoá còn ít, sự hiểu biết về
chứng khoán và thị trờng chứng khoán của đa số công chúng còn hạn chế,
yếu tố tâm lý chi phối thị trờng rất mạnh, vì vậy ngay sau khi bớc vào năm
2002, để đảm bảo hoạt động ổn định và phát triển của thị trờng , củng cố
lòng tin của công chúng đầu t , cơ quan quản lý và vận hành thị trờng chứng
khoán đã thực hiện một số biện pháp sau :
+ Tăng cờng công tác quản lý giám sát, đảm bảo cho thị trờng hoạt
động công khai minh bạch,bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu t. Thông qua
hoạt động giám sát đã kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những thiếu sót, vi
phạm của các công ty chứng khoán, công ty niêm yết và của các nhà đầu t.
+ Qua thực tế hoạt động của thị trờng, đã rà soát đợc và lấy ý kiến của
các đơn vị liên quan nh TTGDCK, công ty chứng khoán,công ty niêm yết và
18