Chủ trương của Đảng trong vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam hiện nay - Pdf 34

Lê Thị Thảo K49C5 – Đại Học Thương Mại

1.
1.1.

Lý thuyết
Khái niệm vấn đề xã hội
Các vấn đề xã hội là một phạm trù to lớn bao gồm nhiều lĩnh vực như: việc làm,
thu nhập, bình đẳng xã hội, khuyến khích làm giàu, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc
sức khỏe, cung ứng dịch vụ công, an sinh xã hội, cứu trợ xã hội, chính sách dân số
và kế hoạch hóa gia đình,…

1.2.

Vấn đề việc làm
Theo bộ Luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc
hội thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994 thì việc làm được định nghĩa như sau:
"Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được
thừa nhận là việc làm ".
Việc làm có vai trò to lớn và hết sức quan trọng trong đời sống xã hội và nền kinh
tế.
Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân
mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân. Việc
làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân,
thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng
nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng,..), vào
những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn
hoá thấp,..). Việc không có việc làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi,
nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến
thức, trình độ vốn có.
Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã hội, vì

chế thị trường nhiều thành phần, tự do hoạt động và hạch toán nên đất nước cũng
có nhiều thay đổi. Sự thay đổi này đã mang lại cho đất nước nhiều thành tựu về
kinh tế cũng như xã hội. Nhưng xét đến tính hai mặt của vấn đề thì cơ chế thị
trường bên cạnh những mặt được thì cũng còn những mặt chưa được : Một trong
những mặt chưa được đó là những mặt đó là tình trạng sinh viên ra trường thất
nghiệp ngày càng tăng, vấn đề xã hội mà gần như không có trong nền kinh tế bao
cấp.
Đất nước muốn phát triển thì phải đi lên từ lao động, mà sinh viên là lực lượng lao
động trẻ, năng động, dồi dào và được đào tạo. Vì vậy đây là nguồn nhân lực rất
quan trọng cần được sử dụng một cách hợp lý hiệu quả. Tình trạng sinh viên thất
nghiệp sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
2


Lê Thị Thảo K49C5 – Đại Học Thương Mại

Vấn đề này là mối quan tâm sâu sắc đối với chúng em, những sinh viên đã sắp đi
hết nửa chặng đường của năm 3 đại học. Đó cũng chính là lí do khiến chúng em
chọn đề tài: “Chủ trương của Đảng trong vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam
hiện nay. Liên hệ với vấn đề việc làm của sinh viên Thương mại nói chung và sinh
viên khoa Marketing nói riêng sau khi ra trường.”
2.
2.1.

Nội dung chủ trương của Đảng trong giải quyết các vấn đề việc làm
Thời kỳ trước đổi mới .
2.1.1. Chủ trương của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội.
2.1.1.1. Giai đoạn 1945-1954
- Ngay sau Cách mạng Tháng Tám và trong năm thực hiện nhiệm vụ kháng
chiến , kiến quốc ,chính sách xã hội của Đảng nhằm thực hiện mục tiêu làm

Lê Thị Thảo K49C5 – Đại Học Thương Mại



2.1.2. Đánh giá việc thực hiên đường lối .
2.1.2.1. Thành tựu:
Chính sách xã hội trong 9 năm kháng chiến , kiến quốc , tiếp sau đó là thời
bao cấp suốt 30 năm đã bảo đảm được sự ổn định của xã hội và đạt được
nhiều thành tựu phát triển đáng tự hào trên một số lĩnh vực : văn hóa, giáo
dục , y tế, lối sống, đạo đức , kỉ cương và an ninh xã hội , hoàn thành nghĩa
vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.
2.1.2.2. Ý nghĩa
Những thành tựu đó nói lên bản chất tốt đẹp của chế độ mới và sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng trong giải quyết các vấn đề xã hội trong điều kiện chiến
tranh kéo dài, kinh tế chậm phát triển.
2.1.2.3. Hạn chế
- Trong xã hội đã hình thành tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể
trong cách giải quyết các vấn đề xã hội.
- Chế độ phân phối trên thực tế là bình quân cao bằng không khuyến khích
những đơn vị cá nhân làm tốt, làm giỏi...
- Đã hình thành một xã hội đóng, ổn định nhưng kém năng động, chậm phát
triển về nhiều mặt.
Trước đổi mới, việc thủ tiêu các hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất,
xác lập chế độ công hữu một cách nóng vội đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng
sản xuất, đẩy nền kinh tế vào khủng hoảng, từ đó không đủ các điều kiện để giải
quyết các vấn đề xã hội; Cơ chế “bao cấp” đã không huy động được các nguồn lực
trong xã hội (ngoài Nhà nước) để giải quyết các vấn đề xã hội; Việc thiết lập hệ
thống “Thị trường có tổ chức”, phân phối kết quả sản xuất theo biện pháp hành
chính, tạo sự bình đẳng về lợi ích của người lao động, tạo kẽ hở để tầng lớp đặc
quyền kiếm lợi bất chính; Việc thực hiện phương thức phân phối “bình quân chủ

Ngay trong khuôn khổ của hoạt động kinh tế , chính sách xã hội có ảnh hưởng trực
tiếp đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm.
Đây là sự đổi mới tư duy về giải quyết các vấn đề xã hội được đặt trong tổng thể
đường lối phát triển của đất nước, đặc biệt là giải quyết mối quan hệ giữa chính
sách kinh tế với chính sách xã hội. Do đó, cần có chính sách xã hội cơ bản, lâu dài,
phù hợp với yêu cầu khả năng trong chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ. Có
thể kể đến là :
Phấn đấu hạ tỷ lệ phát triển dân số.
Đảm bảo việc làm cho người lao động là nhiệm vụ kinh tế - xã hội hàng đầu. Nhà
nước cố gắng tạo thêm việc làm và có chính sách để người lao động tự tạo ra việc
làm.
Ban hành và thực hiện Luật lao động
Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của nhân dân. Từng bước xây dựng chính
sách bảo trợ xã hội XHCN đối với toàn dân, theo phương châm “nhà nước và nhân
dân cùng làm.
Xoá bỏ quan liêu bao cấp không chỉ với lĩnh vực đời sống mà còn với lĩnh vực sản
xuất, phân phối nguồn lực, trao quyền tự chủ cho xí nghiệp quốc doanh hạch toán
kinh doanh, khắc phục tình trạng “lãi giả - lỗ thật”.
Tại đại hội lần thứ VII (24-27/6/1991)
Đảng ta đã chính thức khẳng định một số quan điểm chỉ đạo việc phát triển hài
hòa giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Cụ thể là: Mục tiêu
của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế ở chỗ đều nhằm
phát huy sức mạnh của nhân tố con người. Phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để
thực hiện các chính sách xã hội, đồng thời thực hiện tốt các chính sách xã hội là
động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Có thể kể đến như: việc chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế mới, như: xác lập
nguyên tắc chi trả tiền lương, tiền công theo kết quả lao động là chủ yếu; xây dựng
quỹ bảo hiểm xã hội chung của người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế; xác
định giải quyết việc làm là trách nhiệm của mọi ngành, mọi cấp, mọi thành phần
kinh tế...

Thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất.
Tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội. Coi
trọng công bằng trong hưởng thụ các dịch vụ xã hội, đặc biệt là công bằng trong
thụ hưởng dịch vụ giáo dục và chăm sóc y tế.
Khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp, động viên toàn xã hội tham gia giải
quyết các vấn đề xã hội.
Đại hội lần thứ X của Đảng (4/2006): trong khi khẳng định những thành tựu đạt
được là cơ bản, đồng thời cũng chỉ rõ những hạn chế trong việc tổ chức thực hiện
một số chính sách xã hội như: Kết quả xoá đói giảm nghèo chưa thật vững chắc,
nguy cơ nghèo còn lớn; khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các
tầng lớp nhân dân, giữa các vùng có xu hướng doãng ra; nhu cầu về việc làm ở
thành thị và nông thôn chưa được đáp ứng tốt; tội phạm và tệ nạn xã hội có chiều
hướng tăng...
Để khắc phục tình trạng trên, Đại hội X đề ra chủ trương “Thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng buớc và từng chính sách phát triển”.
Những vấn đề xã hội đã được Đại hội Đảng lần thứ X nhận thức và giải quyết toàn
diện cả ở góc độ mục tiêu và hệ thống giải pháp trong tổng thể các chính sách phát
triển, mà ở đó con người thực sự là trung tâm, là động lực và mục tiêu của phát
triển xã hội bền vững.
Đại hội lần thứ XI (12-19/1/2011)
Đại hội nhận xét đánh giá những công tác thực hiện sau đại hội X và tiếp tục nhấn
mạnh quan điểm:” Mở rộng nhân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con
người là chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”

6


Lê Thị Thảo K49C5 – Đại Học Thương Mại

Đại hội đề ra mục tiêu: "Giải quyết việc làm cho 8 triệu lao động’’. Giải quyết vấn

trường dạy nghề trọng điểm quốc gia. Đối với tỉnh, thành phố cũng phải có trường
dạy nghề; các quận và huyện cũng cần có các trung tâm dạy nghề; cổ phần hóa các
cơ sở dạy nghề công lập, phát triển cơ sở dạy nghề ngoài công lập để giảm chi phí
ngân sách cho Nhà nước. Đa dạng hóa các kênh giao dịch trên thị trường lao động
bằng thông qua các hệ thống thông tin, quảng cáo, trang tin việc làm trên các báo,
đài và tổ chức các hội chợ việc làm để tạo điều kiện cho các quan hệ giao dịch trực
tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động ký kết các hợp đồng lao động
theo đúng quy định của pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin thị
trường lao động quốc gia và nối mạng trước hết ở các vùng kinh tế trọng điểm, các
thành phố lớn, các khu vực công nghiệp tập trung và cho cả xuất khẩu lao động để
giúp người lao động tìm kiếm việc làm thuận lợi nhất.


Nhìn tổng thể, kể từ năm 1986 đến nay, tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về
giải quyết các vấn đề xã hội đã có những bước phát triển mới: Từ chỗ không đặt
8


Lê Thị Thảo K49C5 – Đại Học Thương Mại

-

-

-

-

-


người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo, coi việc có một
bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát trển
Từ chỗ muốn nhanh chóng xây dựng một cơ cấu xã hội “thuần nhất” chỉ còn có
giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể và tầng lớp trí thức đã đi đên quan
niệm cần thiết xây dựng một cộng đòng xã hội đa dạng, trông đó có các giai cấp,
tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyền lợi chính đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần
xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh.
9


Lê Thị Thảo K49C5 – Đại Học Thương Mại


-


-

3.
3.1.

Qua hơn 20 năm đổi mới, lĩnh vực phát triển xã hội đã đạt nhiều thành tựu. Một xã
hội mở đang dần dần hình thành với những con người, dám nghĩ, dám làm, dám
chịu trách nhiệm, không chấp nhận đói nghèo, lạc hậu, biết làm giàu, biết cạnh
tranh và hành động vì cộng đồng, vì tổ quốc. Cách thức quản ý dân chủ cởi mở
hơn, đề cao pháp luật hơn.
Bên cạnh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, đã xuất hiện
ngày càng đông đảo các doanh nhân, tiểu chủ, chủ trang trại và các nhóm xã hội
khác phấn đấu vì sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh”.
Đã coi phát triển giáo dục và dạo tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách

thành trường đại học đa ngành tiên tiến trong các lĩnh vực kinh tế và thương mại
(bao gồm thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại các hoạt động
đầu tư và sở hữu trí tuệ) của Việt Nam có uy tín trong khu vực và trên thế giới; một
trung tâm giáo dục có chất lượng và không ngừng được cải tiến với phương pháp
đào tạo liên tục được đổi mới và hoàn thiện; một trung tâm đầu ngành trong nghiên
cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và cung ứng dịch vụ đào tạo có uy tín về
thương mại, du lịch, dịch vụ và hội nhập kinh tế quốc tế; một trung tâm văn hoá
nhằm cung cấp cho xã hội những cán bộ có trình độ đại học, sau đại học đủ phẩm
chất chính trị, đạo đức, văn hoá và năng lực nghề nghiệp thích ứng với điều kiện
môi trường đang thay đổi và đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
nhập quốc tế của đất nước.
3.1.2.

Vấn đề việc làm của sinh viên thương mại sau khi ra trường

Hiện nay, nhiều sinh viên dù đang ngồi trên ghế giảng đường nhưng hết sức lo lắng
về tình hình thất nghiệp. Theo báo cáo điều tra lao động, hiện nay, cả nước
có 857.000 người thất nghiệp và 1,3 triệu người thiếu việc làm. Con số này tăng
nhiều so với các thời điểm trước, và chắc chắn con số thực tế còn lớn hơn nhiều so
với thống kê. Hơn 60% sinh viên ra trường không có việc làm hoặc phải làm
những công việc tạm thời, không đúng với chuyên ngành. Thực trạng này tạo nên
những tâm lý tiêu cực cho nhiều sinh viên, thậm chí cả những học sinh chuẩn bị tốt
nghiệp đại học cũng mang tâm lý lo lắng luôn đặt câu hỏi: Kết quả học tập sẽ như
thế nào? Ra trường sẽ đi đâu về đâu?
Đi tìm hiểu về tỷ lệ sinh viên thất nghiệp 5 năm gần đây, tại phiên giải trình của
Chính phủ ngày 24/4/2015, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận đã nói :
Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, trong những năm gần đây, quy mô đào tạo trình độ
ĐH, CĐ gần như ổn định hoặc giảm nhẹ.
Thống kê thực tế cho thấy trong giai đoạn 2011 - 2014, chỉ tiêu tuyển sinh chính
quy của các trường ĐH, CĐ đã giảm bình quân 2,5%/năm, hệ vừa học vừa làm

Có thể thấy so với con số sinh viên thất nghiệp toàn quốc thì tỷ lệ sinh viên
Thương mại đã tốt nghiệp không có việc làm thấp hơn rất nhiều. Điều này phản
ánh chất lượng sinh viên cũng như chất lượng đào tạo của trường đại học Thương
mại rất cao so với mặt bằng chung của ngành.
3.2.

Thực trạng sinh viên ngành Marketing sau khi ra trường
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, trong bối cảnh kinh tế khó khăn, kinh doanh
đình trệ, các doanh nghiệp phải tìm đủ mọi cách để sản phẩm/dịch vụ của họ làm
ra phải có thương hiệu và chỗ đứng trong lòng khách hàng. Đây là cơ hội cho
ngành Marketing phát triển. Như nhu cầu năng lực của ngành này không chỉ đến từ
12


Lê Thị Thảo K49C5 – Đại Học Thương Mại

các công ty chuyên về truyền thông, tổ chức sự kiện, nghiên cứu thị trường, quảng
cáo…, mà còn đến từ tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam. Thực tế hiện nay, nhu
cầu tuyển nhân viên Marketing luôn ở mức "cung không đủ cầu", Marketing đang
thật sự là ngành “thời thượng”. Thống kê trực tuyến trên trang web về việc làm của
Vietnamworks.com cho thấy: Marketing là ngành có cầu nhân lực cao nhất hiện
nay. Cũng theo Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao
động TP.HCM, thì nhu cầu cần người làm Marketing là nóng nhất.
Hiện tại, thu nhập trung bình của nhân viên Marketing khoảng từ 10 triệu – 15
triệu đồng/tháng, Trưởng phòng/Giám đốc Marketing từ 25 triệu – 35 triệu/tháng,
thậm chí hơn thế nữa.
Việc áp dụng những kiến thức và kỹ năng marketing hiện đại vào hoạt động kinh
doanh, sẽ làm thay đổi bộ mặt của công ty, gia tăng niềm tin của khách hàng đối
với sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp. Do đó, nhu cầu nhân viên Marketing có
trình độ chuyên môn sâu, đủ khả năng làm việc trong mọi doanh nghiệp là đòi hỏi

trường có việc làm hay không và đúng chuyên ngành của mình hay không. Nhóm
chúng em đã tiến hành một cuộc điều tra nhỏ đối với sinh viên khoa Marketing các
khóa đã ra tốt nghiệp với mục đích tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến:




Tình trạng công việc hiện tại
Tính phù hợp giữa công việc với hoạt động đào tạo
Những vấn đề đặt ra mà sinh viên mới ra trường sẽ gặp phải
Kết quả điều tra có được 50 phản hồi từ các anh chị sinh viên đã tốt nghiệp ở các
khóa 45, 46 và 47. Nhóm thống kê số liệu như sau:
a, Tình trạng việc làm
Trong 50 sv:
-

45 sv có việc làm
2 sv không có việc làm
3 sv không đi làm do học tiếp, ở nhà phụ gia đình



Trong số 45 sinh viên (90%) có việc làm:
- 39 sv có việc sau 6 tháng
- 6 sv có việc sau 12 tháng


-

Xu hướng làm đúng ngành của sinh viên. Trong 45 người có việc làm:


d, Với chuyên ngành marketing, bạn có thể làm việc ở bất cứ tổ chức hay doanh
nghiệp nào. Ví dụ: Trong các doanh nghiệp sản xuất, bạn có thể làm việc tại bộ
phận Nghiên cứu và phát triển, trong phòng thị trường (hay phòng kinh doanh,
phòng tiêu thụ), phòng tài chính kế toán; Trong mọi doanh nghiệp thương mại dịch
vụ như các công ty thương mại, các khách sạn, ngân hàng, công ty bảo hiểm, công
ty vận tải hàng không ... ; Trong các cơ quan, tổ chức “phi lợi nhuận” là các đơn vị
hành chính sự nghiệp, các tổ chức văn hoá - xã hội, các cơ quan chính quyền các
cấp ( marketing còn là công cụ hữu hiệu giúp các địa phương thu hút đầu tư, đặc
biệt là đầu tư nước ngoài,...)
15


Lê Thị Thảo K49C5 – Đại Học Thương Mại

Hiện tại, do sự phát triển của môi trường kinh tế xã hội, tất cả các ngành, các
doanh nghiệp hay tổ chức đều có chỗ cho ứng cử viên chuyên ngành marketing.
Từ kết quả của cuộc điều tra nhỏ này, có thể thấy lượng sinh siên Marketing trường
Đại học Thương mại ra trường có việc làm là cao, nhưng tỷ lệ sinh viên làm đúng
ngành học của mình chưa nhiều dù cho ngành marketing có rất nhiều sự lựa chọn
nghề nghiệp. Phần đông sinh viên sau khi đi làm mới đánh giá cao và thấy được
tầm quan trọng của những kiến thức đại cương và đặc biệt là kiến thức chuyên môn
trong công việc.
Đây là một vấn đề hết sức quan trọng mà theo nhóm, việc tìm hiểu nguyên nhân và
rút ra kinh nghiệm cho sinh viên năm 3 là rất cần thiết. Sau đây nhóm xin trình bày
một số hiểu biết của mình về vấn đề này.
3.3.




Đi học mang tính chất có mặt để điểm danh.
16


Lê Thị Thảo K49C5 – Đại Học Thương Mại


Và cuối cùng có lẽ chính là do sự thụ động, nhút nhát trong một bộ phận lớn sinh
viên hiện nay.
3.3.2. Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân từ gia đình: quan hệ cha mẹ với con cái lỏng lẻo,cha mẹ không có
nhiều thời gian cho con cái. Ở phương Tây, 18 tuổi tự lập. Ở Việt Nam, đa số sinh
viên vẫn phụ thuộc cha mẹ nhưng lại không muốn chịu sự quản lý của cha mẹ;
đồng thời cha mẹ quá chiều con, để cho con cái sống quá đầy đủ về mặt vật chất,
muốn gì cũng có rạo nên thói quen xấu. Cha mẹ có quan niệm sai lầm là con mình
đã lớn không cần phải quản.
Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài: là những sinh viên xa nhà không ai quản,
thiếu sự quan tâm chăm sóc cua bố mẹ, bước vào môi trường có nhiều cám dỗ
không lường trước được, dễ sa ngã học đòi bạn bè xấu. Một số sinh có cách sống
đơn độc, nhút nhát, khó gần…tuy nhiên lối sống nhút nhát này xảy ra rất ít đối với
sinh viên trường ĐHTM và đặc biệt là khoa Marketing.
Nguyên nhân ở khâu đào tạo: Công tác tổ chức hướng nghiệp cho sinh viên còn
quá sơ sài dẫn đến tình trạng nhiều sinh viên đăng ký theo học ngành mình không
yêu thích và đam mê. Họ học cho có lệ, chẳng mấy mặn mà và chỉ dành một ít thời
gian cho các môn học. Điều dĩ nhiên là khi ra trường họ không có đủ kiến thức,
cũng chẳng có đủ kinh nghiệm và càng không thể phát huy năng lực của chính bản
thân mình. Do đó, sinh viên ra trường thất nghiệp hoặc làm công việc trái ngành,
làm các công việc chân tay cũng là hệ quả tất yếu.
Một nguyên nhân khác là do các trường đại học, cao đẳng còn xem nhẹ phần thực
hành mà quá đặt nặng lý thuyết. Ngoài ra còn do chương trình đào tạo ở các trường

người được phỏng vấn nói họ tìm được công việc hiện tại là nhờ vào các mối quan
hệ. “Có hàng ngàn ứng viên nộp hồ sơ trên mạng vào cùng một vị trị ứng tuyển,
nếu bạn muốn có cơ hội lọt vào danh sách phỏng vấn của nhà tuyển dụng, điều
quan trọng là bạn phải bằng cách nào đó tạo được ấn tượng riêng cho bản CV của
mình hoặc có một vài kết nối với công ty”, bà Brand Karsh, chủ tịch công ty
JobBound, gợi ý.
Không thiết lập mối quan hệ
Như đã nói, các mối quan hệ là một trong những nguồn tiềm năng giúp bạn tìm
được công việc như mong muốn. Đó có thể là mối quan hệ của bố mẹ, anh chị em,
thầy cô, bạn bè, người quen… Hãy tận dụng tối đa những quan hệ này, đồng thời
xây dựng, tạo thêm những mối quan hệ mới, bạn sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn.
Sơ yếu lý lịch không ấn tượng
Bạn sẽ sớm bị loại nếu gửi đi bản sơ yếu lý lịch trong đó liệt kê một cách khô khan
bằng cấp, danh sách các khóa học, những công việc bạn đã từng làm, những kinh
nghiệm bạn đã tích lũy được… Thay vào đó, hãy cho nhà tuyển dụng biết những
18


Lê Thị Thảo K49C5 – Đại Học Thương Mại

khả năng nổi trội của bạn so với những ứng viên khác, bạn có thể mang lại lợi ích
gì cho họ nếu như bạn được tuyển dụng…
Lý tưởng hóa công việc
Khi mới ra trường, bạn là một người có kiến thức nhưng lại thiếu kinh nghiệm,
trong khi công việc ở những vị trí quan trọng với mức lương hấp dẫn đòi hỏi phải
có sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này. Vì vậy bạn đừng nên kỳ vọng quá cao và
lý tưởng hóa công việc, ví dụ như đừng đòi hỏi rằng bạn phải ngay lập tức được
làm trưởng phòng hoặc trưởng nhóm trong một công ty lớn, điều đó là rất hoang
đường. Hãy chấp nhận vị trí khởi nghiệp là một nhân viên bình thường, sau đó trải
qua quá trình làm việc thực tế, tích

việc, 42% thiếu kinh nghiệm và có tới 32% thiếu kiến thức chuyên môn.
Bài học kinh nghiệm
Là sinh viên năm 3 khoa Marketing Đại học Thương mại, bạn sẽ làm gì, định
hướng như thế nào để sau khi ra trường có được việc làm và làm đúng nghề?
3.4.1.

“Hãy sống và làm việc bằng cả trái tim và niềm đam mê của bản thân”

Bạn có thể làm hết mình vì một công việc mà bạn không hề thích thú?
Bạn có thể học tốt một chuyên ngành mà bạn không thích nó?
Chắc chắn là không!
Khi được học ngành nghề bạn yêu thích, làm công việc bạn đam mê, bạn luôn suy
nghĩ lạc quan và tích cực trong mọi tình huống. Chính thái độ tích cực sẽ giúp bạn
vượt qua mọi khó khăn thử thách để đạt được mục tiêu đề ra và có được kết quả
tốt. Tình yêu Marketing sẽ khiến bạn tự hào hơn bao giờ hết về công việc đang
làm, dù đó là bán hàng qua mạng hay thiết kế những dự án lớn, bạn cũng sẽ làm
việc chăm chỉ, tập trung hết mình cho công việc.
Với niềm đam mê, bạn không những làm tốt công việc hiện tại mà còn luôn nỗ lực
đưa ra những ý tưởng mới để cải tiến kết quả công việc. Chính tinh thần cầu tiến,
ham học hỏi này giúp bạn phát triển và thăng tiến nhanh hơn trên con đường đã
chọn. Thành công là được làm công việc mình yêu thích mỗi ngày và cảm thấy hài
lòng về kết quả mình đạt được. Nhưng trước hết, bạn phải chọn đúng được nghề
mà bạn thật sự yêu thích.
3.4.2.

Hãy chủ động

Có rất nhiều bạn có suy nghĩ ra trường rồi mới đi tìm việc. Thực ra các bạn hoàn
toàn đúng. Năm 3 tìm việc làm gì? Cũng đâu có đi làm được. Nhưng đó mới chính
là điểm khiến bạn khác biệt với những sinh viên khác. Từ năm 3 hãy lên các trang


Bạn đừng nghĩ do là sinh viên nên nhà tuyển dụng không cần bạn có chuyên môn,
thực ra cái họ cần là những thứ bạn đã học. Ở Thương Mại nếu bạn học kỹ các
môn chuyên ngành marketing như Truyền thông marketing, Chiến lược thương
hiệu, Quảng cáo và xúc tiến thương mại,... thì khi đi phỏng vấn và đi làm áp dụng
rất nhiều. Các bạn đừng chủ quan là học ở trường chỉ là lý thuyết, đi làm ít khi áp
dụng, đó là bạn chưa thật sự làm đúng vị trí chuyên về marketing. Nếu bạn muốn
làm chuyên về marketing thì phải thuộc hết các chiến lược và định nghĩa. Khi đi
làm sếp chỉ nói bạn là “với sản phẩm này dùng chiến lược A, cái này dùng B, cái
kia dùng C” đó là cái anh ấy chỉ bạn, còn ABC là gì thì bạn đã được học.
3.4.5.

Đi thực tập

Đi thực tập chính là bước bạn làm quen với công việc sau này. Có thể những công
việc bạn được làm chỉ là sai vặt rất nhàm chán nhưng đó là do bạn không tự chủ
động thôi. Đừng ngồi chờ ai phân công việc cho bạn, hãy hỏi và hỏi mỗi ngày. Bắt
họ đưa việc cho làm vậy bạn mới không phí thời gian đi thực tập.

21


Lê Thị Thảo K49C5 – Đại Học Thương Mại

Còn rất nhiều điều bạn cần phải học và trải nghiệm, nhưng cứ yên tâm đi. Nếu
bạn chuẩn bị đủ trước khi ra trường, bạn sẽ thành công!

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status