đổi mới hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp 5 trong môn học mĩ thuật tại trường tiểu học tiên dương đông anh hà nội - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ KHÁNH

ĐỔI MỚI HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC
NHẰM PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH LỚP 5
TRONG MÔN HỌC MĨ THUẬT TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC
TIÊN DƯƠNG - ĐÔNG ANH - HÀ NỘI

HÀ NỘI 2013

1


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Lê Long Giang đã tận tình hướng dẫn tôi
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên cùng các em học sinh trường tiểu
học Tiên Dương – Đông Anh – Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện để
tôi hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, ngày

tháng năm

Sinh viên

NGUYỄN THỊ KHÁNH

2



Hình thức tổ chức dạy học

HTTCDH

Công nghệ thông tin

CNTT

4


MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU

Trang

1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu…………………………………………
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài……………………………………………
5. Giả thuyết khoa học…………………………………………………………
6. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………...…….
7. Cấu trúc khóa luận………………………………………………..…………
Phần 2: NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài……………………………………………
1. Đặc điểm nhận thức của HS lớp 5……………………………………..
1.1 Đặc điểm chú ý……………………………………………………………
1.2 Đặc điểm tri giác………………………………………………………….
1.3 Đặc điểm trí nhớ…………………………………………………………..

đơn giản nó đi và tên một chương thì không nên viết tắt mặc dù có trong danh

6


mục viết tắt danh mục viết tắt và chú ý tên của các mục nhỏ phải kèm với số
chương và đứng sau số chương VD: CHƯƠNG 1
1.1
1.1.1
1.1.2
1.2
1.2.1
1.2.2
1. Các HTTCDH ……………………………………………….
1.1 Khái niệm về HTTCDH…………………………………………………….
1.2 Một số đặc điểm của HTTCDH ở tiểu học………………………………….
1.3 Các HTTCDH Mĩ thuật ở tiểu học…………………………………………..
1.3.1 HTTCDH theo địa điểm…………………………………………………..
1.3.1.1 Dạy học trong lớp……………………………………………………….
1.3.1.1.1 Tổ chức dạy học chung, HS làm việc theo cá nhân…………………..
1.3.1.1.2 Tổ chức dạy học theo nhóm, HS làm việc theo nhóm………….
1.3.1.2 Dạy học ngoài lớp học………………………………………………..
1.3.1.2.1 Dạy học ngoài thiên nhiên………………………………………….
1.3.1.2.2 Tham quan……………………………………………………………
1.3.2 HTTCDH tích hợp………………………………………………………..
1.3.2.1 HTTCDH tích hợp các môn học……………………………………….

7



3.4 Trong loại bài Tập nặn tạo dáng………………………………….
3.5 Trong loại bài Thường thức Mĩ thuật………………………………..

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG GIÁO ÁN GIẢNG DẠY THỬ NGHIỆM
THỂ HIỆN VIỆC ĐỔI MỚI HTTCDH NHẰM PHÁT HUY TÍNH
SÁNG TẠO CỦA HS LỚP 5 TRONG MÔN MĨ THUẬT
Giáo án thử nghiệm loại bài Vẽ tranh………………………………

9


PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Do
đó tất cả các ngành nghề hiện nay đều có sự đổi mới để phù hợp với yêu cầu của
sự phát triển xã hội. Trong đó, giáo dục với sản phẩm đặc biệt là con người thì
càng phải đổi mới để tạo ra những con người lao động có trình độ cao, học vấn
cao, có năng lực, có bản lĩnh, có tư duy và sáng tạo tốt, đáp ứng được mọi yêu
cầu của cuộc sống hiện đại. Đổi mới trong giáo dục phải được hiểu là đổi mới
toàn diện, đổi mới từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp và HTTCDH . Trong
xu thế đó, sự đổi mới về HTTCDH đang được coi là vấn đề nóng bỏng, mang
tính chất thời đại, thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà
quản lý giáo dục cũng như các giáo viên trực tiếp đứng lớp. Đổi mới HTTCDH
làm sao phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Đổi mới phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS phù hợp với
từng lứa tuổi, từng môn học. Cùng với các môn khoa học, xã hội khác, môn Mĩ
thuật là một môn học cung cấp nhiều các kiến thức, kĩ năng trong các lĩnh vực

10




3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Đổi mới các HTTCDH trong môn Mĩ thuật nhằm phát
huy tính sáng tạo cho HS.
+ Phạm vi nghiên cứu: HS lớp 5 trường tiểu học Tiên Dương- Đông Anh-Hà
Nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
+ Tìm hiểu cơ sở lý luận về đặc điểm nhận thức, tính sáng tạo và khả năng sáng
tạo của HS lớp 5
+ Nghiên cứu các HTTCDH nhằm phát huy tính sáng tạo của HS lớp 5 trong
môn Mĩ thuật tại trường tiểu học Tiên Dương- Đông Anh- Hà Nội
+ Thiết kế giáo án giảng dạy môn Mĩ thuật lớp 5 minh họa việc vận dụng đổi
mới các HTTCDH nhằm phát huy tính sáng tạo của HS.
5. Giả thuyết khoa học
HS lớp 5 trường Tiểu học Tiên Dương - Đông Anh - Hà Nội – lớp cuối của
bậc tiểu học, đã thể hiện nhiều sự sáng tạo trong các sản phẩm mĩ thuật của bản
thân. Song do đặc điểm tâm lý lứa tuổi, sáng tạo đó còn mang đậm tính bộc
phát, sự phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của bản thân còn chưa cao. Nếu có
những tác động sư phạm đúng mức sẽ giúp phát huy tích cực khả năng sáng tạo
của HS và đó cũng là điều quan trọng để các em có tâm thế hào hứng, say mê,
có những cảm nhận sâu sắc và tinh tế hơn trong việc phát huy và sử dụng khả
năng sáng tạo của mình trong môn Mĩ thuật ở bậc học tiếp theo. Góp phần tạo
dựng định hướng, con đường nghề nghiệp trong tương lai cho các em có tài
năng và niềm yêu thích đặc biệt trong lĩnh vực hội họa.
6.Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài chúng tôi thực hiện các phương pháp sau:

12


Phần 3: Kết luận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Đặc điểm nhận thức của HS lớp 5
1.1. Đặc điểm chú ý
Chú ý là một trạng thái tâm lý của HS giúp HS tập trung vào một hoặc một số
đối tượng để các đối tượng này được phản ánh tốt nhất. Chú ý không phải là
một quá trình nhận thức, không tồn tại độc lập mà nó đi kèm các quá trình nhận
thức.
Đối với HS lớp 5, chú ý mang những đặc điểm nổi bật:
- Chú ý không chủ định vẫn tiếp tục phát triển ở giai đoạn lớp 5: Những gì mới
lạ, hấp dẫn hoặc có kích thích mạnh vẫn dễ dàng xuất hiện chú ý không chủ
định ở HS.
- Đối với HS lớp 5 (lớp cuối cấp của bậc tiểu học), do yêu cầu của hoạt động
học tập, chú ý có chủ định bắt đầu bền vững ở giai đoạn này.
- Các thuộc tính chú ý được hình thành và phát triển mạnh: Khối lượng chú ý
của HS tăng lên, chú ý bắt đầu bền vững, hình thành kĩ năng phân phối chú ý và
biết chú ý vào nội dung cơ bản của bài học.

14


- Chú ý hướng ra bên ngoài chiếm ưu thế, chú ý hướng vào bên trong còn non
yếu.
1.2. Đặc điểm tri giác
Tri giác là một quá trình nhận thức phản ánh trọn vẹn thuộc tính bề ngoài của
đối tượng. Mức độ phát triển cao của quan sát là tri giác. Nhờ có tri giác mà HS

làm cho các em xúc cảm mạnh như ngạc nhiên, thích thú, tò mò hay sợ hãi.
- Trí nhớ có chủ định được phát triển mạnh: HS sử dụng phương pháp ghi nhớ
máy móc và ghi nhớ logic để ghi nhớ đối tượng và tri thức đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của quá trình học tập.
- Trí nhớ ngắn hạn tiếp tục phát triển; trí nhớ dài hạn bắt đầu bền vững.
- Trí nhớ trực quan – hình ảnh phát triển tốt hơn trí nhớ từ ngữ - trừu tượng: HS
ghi nhớ nội dung bài học kèm theo tranh ảnh sẽ tốt hơn là các tài liệu ngôn từ.
1.4. Đặc điểm tư duy
Tư duy là quá trình nhận thức giúp HS tiếp thu được, phản ánh được bản chất
của đối tượng học tập mà trước đó học được.
Giai đoạn lớp 5, một số thao tác tư duy đã tiến lên một bậc so với các lớp dưới:
- Tư duy cụ thể vẫn tiếp tục phát triển: HS tiếp thu khái niệm mới phải dựa vào
vật thật hoặc các hình ảnh trực quan.
- Tư duy trừu tượng đang dần chiếm ưu thế: HS sử dụng các khái niệm được
thay thế bằng kí hiệu quy ước để tiếp thu khái niệm mới.
- Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành cấu trúc tương đối hoàn chỉnh.

16


- Bước đầu biết khái quát hóa đối tượng, biết phán đoán và suy luận: HS biết
chấp nhận những giả thiết không thực, không chỉ xác lập được từ nguyên nhân
đến kết quả mà còn xác lập được từ kết quả ra nguyên nhân.
1.5. Đặc điểm tưởng tượng
Tưởng tượng là một quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa từng có trong
kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở
những biểu tượng đã có.
Tưởng tượng của các em lứa tuổi lớp 5 mang những đặc trưng rõ nét:
- Hình ảnh của tưởng tượng hoàn chỉnh hơn về logic và kết cấu: Nếu đối với HS
lớp dưới, hình ảnh tưởng tượng của các em còn nghèo nàn, tản mạn, thì đến giai

- Theo định nghĩa của tác giả Hoàng Phê (chủ biên) trong cuốn “Từ điển tiếng
Việt” có định nghĩa:
+“Sáng tạo” (động từ) có nghĩa là “tạo ra những giá trị mới về vật chất
hoặc tinh thần”. Ví dụ: Sáng tạo ra chữ viết, sáng tạo nghệ thuật.
+ “Sáng tạo” (tính từ) có nghĩa là “có cách giải quyết mới, không bị gò bó,
phụ thuộc vào cái đã có”. Ví dụ: Óc sáng tạo, vận dụng một cách sáng tạo.
- Theo giáo trình “Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật” của tác giả
Nguyễn Quốc Toản (chủ biên) thì “Sáng tạo được định nghĩa “là khả năng sản
sinh những ý thưởng mới, độc đáo, hữu ích, phù hợp với từng hoàn cảnh”
- “Tính sáng tạo” hay “Sáng tạo tính” hay “Óc sáng tạo” là khả năng được xem
là có tính chất sáng tạo trong mọi công trình của con người đã tạo tác nên những
gì “mới hơn” so với những cái “cũ” hoặc “mới mẻ” vì chưa có trước đấy. Đấy là
khuynh hướng, là khả năng của con người hướng về sáng tạo do thôi thúc phát
triển của trí tuệ trong mọi công trình khám phá thiên nhiên cùng khám phá con

18


người để mỗi hiểu biết, mỗi việc làm, mỗi hành động…..được nâng cao, được
mở rộng, được phong phú và tốt đẹp hơn. Và, trên vũ trụ này, chỉ riêng con
người mới có “Tính sáng tạo” hay “Óc sáng tạo”.
- Giản dị nhất, “Tính sáng tạo” được định nghĩa là một ý tưởng mới, phù hợp
với thời đại và không gian sinh ra nó, và ý tưởng đó mang lại giá trị.
2.2. Vai trò tính sáng tạo đối với con người trong cuộc sống nói chung
- Trong cuộc sống đang thay đổi từng ngày này, thành công không còn chỉ là
vấn đề chăm chỉ mà đòi hỏi kỹ năng tư duy sáng tạo để mang lại những cải tiến
tối đa về liên tục về chất lượng và hiệu quả bằng những giải pháp đột phá. Sức
sáng tạo là yếu tố quyết định nhất đối với sự thành công trong một thế giới đầy
thử thách và cạnh tranh ngày càng gay gắt. Sức sáng tạo sẽ tạo ra bước nhảy vọt
trong sự nghiệp cua con người. Đó là yếu tố định hình mỗi cá nhân.

tạo cũng như trí tưởng tượng một cách tự nhiên nhất. Trẻ thường có những phát
hiện rất lý thú mà nhiều khi làm cho người lớn chúng ta phải ngỡ ngàng. Trẻ có
thể biểu hiện sự “sáng tạo” của bản thân ở khắp mọi nơi, trên lớp học, khi ở nhà,
lúc đi chơi, khi nói chuyện với bạn bè, vv… Đôi khi, còn đưa ra những câu hỏi
“hóc búa”.
- Trẻ rất hay tò mò, muốn khám phá mọi thứ xung quanh mình. Cho nên trẻ
không ngừng đi tìm lời giải đáp cho những tò mò ấy, và trong quá trình đi tìm
câu trả lời cho vấn đề ban đầu, trẻ lại phát hiện, tìm tòi ra những điều mới lạ, lý
thú khác.
- Trẻ rất hay bắt chước người khác trong mọi lời nói và hành động. Bắt chước là
một con đường ngắn nhất để hướng tới kết quả. Tuy nhiên, sự bắt chước ở trẻ
nhỏ không đơn thuần là sao chép, là làm giống hệt, mà ở trẻ có sự “cách điệu”
riêng mang đậm “màu sắc trẻ thơ” tạo nên những điều mới mẻ thú vị không
ngờ.

20


- Trẻ luôn muốn mình là trung tâm chú ý của mọi người, chính vì vậy, trẻ luôn
nghĩ ra những điều gây sự chú ý. Chính suy nghĩ này là một trong các nhân tố
giúp cái “nụ” sáng tạo tiềm ẩn bên trong trẻ có cơ hội “trổ bông”.
- Hầu như tất cả mọi trẻ em đều có chung một “bản năng” – đó là hiếu động và
nghịch ngợm. Sự bướng bỉnh của trẻ, ở một góc độ nào đó, cần phải hạn chế
bằng những biện pháp sư phạm can thiệp kịp thời. Nhưng đôi khi, chính điều
mà người lớn chúng ta lo ngại lại là một nhân tố giúp “ngọn lửa sáng tạo” trong
trẻ có cơ hội được “bùng cháy”.
2.3.2. Tâm lý sáng tạo của trẻ em trong môn học Mĩ thuật
- Có thể nói, môn Mĩ thuật là môn học yêu cầu và đòi hỏi trẻ có sự sáng tạo cao
nhất trong các môn học cả về ý tưởng và cách trình bày ý tưởng. Sự sáng tạo
trong môn Mĩ thuật thể hiện bằng sản phẩm mĩ thuật của các em – đó là đường

Sáng tạo có vai trò rất lớn trong hoạt động học tập của HS tiểu học nói chung và
HS lớp 5 nói riêng trên con đường chinh phục tri thức, học tập và đúc rút kinh
nghiệm bản thân:
- HS có tính sáng tạo luôn có động lực muốn tìm tòi, hiểu biết mọi thứ xung
quanh, học tập và lao động một cách tích cực.
- Sáng tạo của các em đôi khi sẽ giúp các em tìm ra được những phương pháp
mới, con đường mới để tiếp cận tri thức một cách tối ưu và hiệu quả hơn.
- Sáng tạo đi cùng tưởng tượng phong phú của các em sẽ là nguồn sáng tác vô
cùng lớn để tạo ra những điều độc đáo, mới lạ, hấp dẫn và mang lợi ích.
3.1.2. Đối với HS lớp 5 trong môn Mĩ thuật
Cũng như đối với hoạt động học tập nói chúng, các môn khoa học tự nhiên và
khoa học xã hộ khác, tính sáng tạo có vai trò rất lớn đối với các em HS lớp 5
trong môn Mĩ thuật:
- Sáng tạo giúp các em suy nghĩ và có những ý tưởng mới lạ, độc đáo khi đứng
trước một đề tài nào đó.
- Các em có thể sử dụng sự sáng tạo của bản thân để tạo dựng, sắp xếp hình ảnh,
hình mảng, bố cục, màu sắc, đối tượng, vv… theo ý tưởng của riêng mình.

22


3.2. Khả năng sáng tạo của HS lớp 5
3.2.1. Khả năng sáng tạo của HS lớp 5 trong hoạt động học tập
Lớp 5 là giai đoạn cuối bậc tiểu học, so với HS ở các lớp đầu tiểu học như lớp 1,
2, 3 thì khả năng sáng tạo của các em trong học tập đã phong phú hơn, phát
triển hơn. Hoạt động nhận thức của HS ngày càng được nâng cao thể hiện ở
nhiều quá trình khác nhau như tri giác, cảm giác, tư duy, tưởng tượng, chú ý.
Đối với HS lớp 5 các quá trình cảm giác, tri giác, chú ý, tượng tượng, tư duy đã
phát triển. Trong học tập, các em đã mạnh dạn sáng tạo, tìm tòi ra các cách giải
khác nhau cho một bài toán hay sáng tạo ra câu truyện theo ý kể của mình trong

tạo của HS lớp 5 trong môn Mĩ thuật đã phát triển hơn. Về bố cục các em đã có
sự sáng tạo, sắp xếp bố cục chặt chẽ, có mảng chính, mảng phụ, hình vẽ to, nhỏ,
trước, sau che khuất nhau nhiều hơn chứ không dàn hàng ngang như lớp 1, 2, 3.
Ngoài các chi tiết chính mà giáo viên gợi ý, các em còn có nhiều chi tiết phụ
phù hợp với nội dung đề tài, sát với thực tế cuộc sống, nội dung tranh phong
phú đa dạng. Về hình mảng, hình vẽ trong tranh đã phức tạp dần, không còn
đơn điệu. Về màu sắc các em có nhiều sáng tạo trong việc phối hợp các màu,
màu sắc tranh tươi sáng, đặc biệt các em đã mạnh dạn sử dụng các màu đậm
như đen, nâu. Biết pha trộn màu, chồng màu làm cho bài vẽ sáng tạo hơn, sinh
động hơn. Nội dung tranh phong phú, các em vẽ bằng cảm xúc nhiều hơn trí
tuệ, mang tính hồn nhiên trong sáng, không gò bó về nội dung nhưng vẫn đảm
bảo đúng yêu cầu. Các em thường vẽ những gì chúng thấy, chúng tư duy và
tưởng tượng nên bài vẽ của các em rất sáng tạo, ngộ nghĩnh và hồn nhiên.
3.3. Những biểu hiện về tính sáng tạo của HS lớp 5 trong môn Mĩ thuật
Cho tới giai đoạn lớp 5, các em HS hầu như phát triển về mọi mặt, tạo điều kiện
thuận lợi cho các em học môn Mĩ thuật, thể hiện ở: Cầm bút vẽ đúng, dễ dàng
hơn, hoạt động của các khớp linh hoạt, thần kinh tương đối vững vàng, giúp cho
việc điều khiển nét vẽ, hình vẽ theo ý muốn. Các em đã quan sát có chủ định,

24


tập trung, có ý thức học tập hơn, nhận thức phong phú, tạo cơ sở cho các em
diễn tả được những gì mình thấy và thích thú. Nét vẽ đã mạch lạc hơn, rõ ràng
hơn. Hình vẽ nhiều về số lượng, có các chi tiết làm rõ đối tượng, nhiều dáng vẻ
và thực hơn – gần với mẫu, khác với cách diễn tả chung chung ở các độ tuổi
dưới. Màu sắc tươi sáng, đặc biệt là các em đã mạnh dạn dùng các màu đậm:
đen, nâu và biết pha màu, chồng màu làm cho bài vẽ đẹp hơn, khác với vẻ rực
rỡ có phần lòe loẹt của các lớp dưới. Bố cục bài vẽ chặt chẽ, hình vẽ to, nhỏ,
trước, sau che khuất nhau đã xuất hiện, có nhiều chi tiết phù hợp với đối tượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status