TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
-----------------------------------
TRẦN THỊ KÊ
GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRUYỆN ĐỒNG THOẠI CỦA TÔ HOÀI
(Khảo sát qua Tuyển tập Văn học thiếu nhi, Nxb Hà Nội, 2001)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, em đã nhận được sự hướng dẫn
nhiệt tình của cô giáo – TS. Nguyễn Thị Nhàn, các thầy cô giảng dạy bộ môn
Văn học thiếu nhi, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học – Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Tác giả khóa luận xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng nhất tới các thầy
cô, đặc biệt là cô giáo Nguyễn Thị Nhàn – người đã trực tiếp hướng dẫn, chi
bảo tận tình để em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
Sinh viên
1
2. Lịch
sử
2
3. Mục
đích
5
4. Đối
tượng
và
5
5. Nhiệm
vụ
6
6. Phương
pháp
6
7. Cấu
7
NỘI DUNG
Chương 1. Tác giả Tô Hoài và truyện đồng thoại
...................................................................................................................
8
1.1.
Tác
giả
Tô
8
1.1.1. Tiểu
sử
8
1.1.2. Sự
9
1.1.2.1.
nghiệp
Quan
9
Hoài
1.1.2.4.
Quá
12
1.1.3. Sáng
trình
tác
sáng
cho
tác
thiếu
và
thành
nhi
tựu
của
nổi
Tô
bật
đồng
thoại
thể
loại
của
thoại
thoại
trong
sáng
tác
niệm
ở
Việt
đồng
của
Nam
thoại
Chương 3. Truyện đồng thoại của Tô Hoài nhìn từ phương diện
nghệ
thuật
...................................................................................................................
39
3.1.
Nghệ
thuật
hư
cấu,
tưởng
tượng
...................................................................................................................
39
3.2.
Nghệ
thuật
nhân
cách
hóa
...................................................................................................................
43
3.3.
Nghệ
thuật
kể
chuyện,
58
TÀI
LIỆU
THAM
KHẢO
...................................................................................................................
60
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Tô Hoài là một nhà văn tài năng và là tấm gương sáng về lao động
nghệ thuật. Ông là nhà văn hiện đại có nhiều đóng góp xuất sắc cho nền văn
học Việt Nam thế kỷ XX. Ông sáng tác trên nhiều thể loại: Truyện ngắn,
truyện dài, hồi ký, bút ký, tiểu thuyết, truyện viết cho thiếu nhi, truyện viết
cho người lớn. Dường như ở thể loại nào, Tô Hoài cũng có đóng góp nổi bật
mang giá trị văn chương đích thực cả về nội dung lẫn hình thức cho nền văn
xuôi cách mạng nước ta.
Văn học thiếu nhi là một bộ phận của văn học Việt Nam hiện đại, qua
nhiều năm phát triển, trưởng thành đã đạt được thành tựu to lớn. Tô Hoài là
cây bút quen thuộc của bạn đọc nhỏ tuổi, được xem như người tiên phong cho
bộ phận văn học này với nhiều sáng tác cho thiếu nhi. Ông viết nhiều thể loại
nhưng đặc biệt nổi tiếng ở mảng truyện đồng thoại. Nói đến các sáng tác của
Tô Hoài không thể không nhắc tới Tuyển tập Văn học thiếu nhi (Nxb Hà Nội,
2001). Tập truyện gồm nhiều truyện đồng thoại hấp dẫn.
1.2. Truyện đồng thoại là một thể loại đã có quá trình phát triển lâu dài, đạt
được nhiều thành tựu, có một vị trí quan trọng trong văn học Việt Nam hiện
đại. Thường xuyên xuất hiện trong không gian gia đình và lớp học, truyện đồng
thoại trở thành người bạn thân thiết của tuổi thơ, là nguồn dinh dưỡng tinh thần
không thể thiếu trong quá trình trưởng thành của mỗi con người.
trong Nhà văn Việt Nam hiện đại của Vũ Ngọc Phan. Từ năm 1945 đến nay,
truyện đồng thoại được đề cập tới trong một số chuyên luận, giáo trình, một
số tiểu luận, bài viết, lời bình. Đặc biệt, từ đầu những năm 60, khi sáng tác
của Tô Hoài được đưa vào chương trình giảng dạy và học tập thì những công
trình nghiên cứu về truyện của ông cũng xuất hiện nhiều hơn.
- Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại (quyển IV,
Nxb Tân Dân, H. 1944) nhận xét: “Truyện ngắn của Tô Hoài không những
đặc biệt về lời văn, cách quan sát, về lối kết cấu, mà còn đặc biệt cả về những
đầu đề do ông lựa chọn nữa”. “Truyện của ông có những tính chất nửa tâm lý,
nửa triết lý, mà các vai lại là loài vật. Mới nghe, tưởng như những truyện ngụ
ngôn, nhưng thật không có tính cách ngụ ngôn chút nào: ông không phải một
2
nhà luân lý, truyện của ông không để răn đời. Nó là những truyện tả chân về
loài vật, về cuộc sống của loài vật, tuy bề ngoài có vẻ lặng lẽ, nhưng bên
trong có lắm cái “ồn ào”, vui cũng có mà buồn cũng có” [Theo Phong Lê Vân Thanh, sđd, tr.59].
- Tác giả Phan Cự Đệ trong cuốn Nhà văn Việt Nam 1945-1975 (Nxb
Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H. 1975) nói về đặc điểm truyện đồng
thoại của Tô Hoài như sau: “Trong các truyện đồng thoại (Con mèo lười,
Chim chích lạc rừng, Cá đi ăn thê), Tô Hoài đã phát huy nhân tố tưởng tượng,
phần phong phú nhất trong tư duy các em nhỏ. Truyện đồng thoại của Tô
Hoài cũng là sự kết hợp giữa khả năng quan sát loài vật rất tinh tế với một bút
pháp miêu tả giàu chất trữ tình và chất thơ. Thiên nhiên ở đây màu sắc rực rỡ,
âm thanh náo nức và luôn chuyển động rộn ràng, tươi vui đúng như thị hiếu
hàng ngày của tuổi thơ” [Theo Phong Lê - Vân Thanh, sđd, tr.94].
- Tác giả Trần Hữu Tá trong Văn học Việt Nam 1945-1975, tập 2 (Nxb
Giáo dục, 1990) đã dành cho Tô Hoài những lời khen ngợi: “Tô Hoài có khả
năng quan sát tinh tế và nghệ thuật miêu tả linh động. Người, vật, thiên nhiên,
cảnh sinh hoạt,... tất cả đều hiện lên lung linh, sống động, nổi rõ cái thần của
cũng không phải là một tình cờ hay một sức óc chợt nghĩ” [Theo Vân Thanh,
Văn học thiếu nhi Việt Nam, tập 1, 2003, tr.289].
Có thể thấy, khi nghiên cứu truyện thiếu nhi, trong đó có mảng đồng
thoại của nhà văn Tô Hoài, các tác giả đã đề cập tới những khía cạnh khác
nhau, song vẫn còn những vấn đề khoa học cho khóa luận của chúng tôi
nghiên cứu. Đặc biệt, việc tìm hiểu truyện đồng thoại của Tô Hoài qua Tuyển
tập Văn học thiếu nhi (2001) cũng là việc làm có ý nghĩa. Dù khả năng còn rất
hạn chế, tác giả khóa luận đã cố gắng tìm hiểu các tài liệu có liên quan, kế
thừa những kết quả nghiên cứu trước đó để mở rộng và phát huy những vấn
đề về giá trị nội dung và nghệ thuật trong truyện đồng thoại của Tô Hoài. Hy
vọng đây sẽ là đề tài có ý nghĩa với những ai quan tâm tới truyện đồng thoại
nói chung và đồng thoại Tô Hoài nói riêng.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
4
1. Tìm hiểu những giá trị nội dung và nghệ thuật trong truyện đồng
thoại của Tô Hoài qua tài liệu khảo sát
2. Thông qua giá trị ấy thấy được tác dụng của truyện đồng thoại của
Tô Hoài đối với việc giáo dục nhân cách, giá trị thẩm mĩ cho trẻ
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Về mặt tài liệu
Khóa luận khảo sát Tuyển tập Văn học thiếu nhi của Tô Hoài (Nxb Hà
Nội, 2001)
Tập truyện có 42 truyện và 1 truyện mở đầu gồm mấy mẩu chuyện nhỏ,
trong đó có 25 truyện là đồng thoại gồm các truyện sau:
- Dế mèn, chim gáy, bồ nông (truyện mở đầu gồm 2 truyện nhỏ: Đàn
chim gáy, Chú bồ-nông ở Sa-mác-can)
- Cá đi ăn thê
của Tô Hoài (khảo sát qua các truyện đã nói ở trên).
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Khóa luận tìm hiểu những khái niệm cơ bản có liên quan đến luận
văn như: truyện đồng thoại, nhân hóa, ngôn ngữ, nhân vật,...
- Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài
- Những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của truyện đồng thoại Tô
Hoài
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thống kê
- Nghiên cứu tác phẩm theo thể loại
- Kết hợp các thao tác khoa học khác: phân tích, bình giảng,...
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, khóa luận được
cấu trúc thành ba chương:
Chương 1: Tác giả Tô Hoài và truyện đồng thoại
Chương 2: Truyện đồng thoại của Tô Hoài nhìn từ phương diện
nội dung
Chương 3: Truyện đồng thoại của Tô Hoài nhìn từ phương diện
nghệ thuật
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TÁC GIẢ TÔ HOÀI VÀ TRUYỆN ĐỒNG THOẠI
1.1. Tác giả Tô Hoài
1.1.1. Tiểu sư
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1920. Quê
nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai (Hà Tây) nhưng tác giả lại lớn lên ở
nền văn học nước nhà, Tô Hoài đã được nhận nhiều giải thưởng cao quý và
vinh dự được là một trong số 14 nhà văn được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh
về văn hóa – nghệ thuật (đợt 1 – năm 1996).
1.1.2. Sự nghiệp
1.1.2.1. Quan niệm nghệ thuật
Ngay từ những tác phẩm đầu tay, Tô Hoài đã hướng ngòi bút vào
những chuyện đời thường xung quanh mình. “Viết về cuộc đời của chính
mình, của nhiều người quanh mình đã là một định hướng nghệ thuật của Tô
Hoài” [12, tr.178]. Ông luôn quan niệm phải tìm thấy trong chính cuộc sống
và những con người bình dị chất liệu cho ngòi bút.
Cuộc sống sinh hoạt đời thường đã trở thành nguồn chất liệu không bao
giờ vơi cạn trong sáng tác của Tô Hoài. Những sự việc, tình huống bình dị
trong đời sống đã đi vào các trang viết của ông: Đó là nạn tảo hôn ( Vợ chồng
trẻ con), nạn ma chay, cưới xin (Quê người), tục đấu vật, bắn nỏ, thổi kèn, tục
cướp vợ, trình ma, phạt vạ,...(Đảo hoang, Nỏ thần, Vợ chồng A Phủ, Cứu đất
cứu mường, Miên Tây,...).
Viết về cuộc đời của chính mình, của nhiều người quanh mình chính là
một định hướng nghệ thuật của Tô Hoài. Việc phát hiện những sự việc trong
đời sống và đưa vào trang văn là cái tài của Tô Hoài mà không phải nhà văn
nào cũng làm được.
1.1.2.2. Phong cách nghệ thuật
• Không gian nghệ thuật và đối tượng khám phá được thể hiện tập trung
8
Các tác phẩm của Tô Hoài tập trung khai thác các đề tài về cuộc sống
người lao động nghèo ở ngoại thành Hà Nội và vùng núi cao Tây Bắc. Việc
thâm nhập vào cuộc sống của người dân ở mỗi vùng miền giúp Tô Hoài am
hiểu nhanh chóng và sâu sắc phong cách sinh hoạt, những phong tục của các
khác biệt trong văn hóa các dân tộc mà còn lôi cuốn độc giả bởi những hình
ảnh, chi tiết đặc sắc có được từ sự quan sát ti mi, tinh tế. Đó là bức tranh thiên
nhiên khi dữ dội, khắc nghiệt, khi thơ mộng. Khi miêu tả ngoại hình và diễn
biến tâm lý các nhân vật, Tô Hoài đã lựa chọn những chi tiết độc đáo, giàu
sức gợi để tác động mạnh đến nhận thức và tình cảm của người đọc: Hình ảnh
kiêu căng của chú Dế Mèn, hình ảnh chim Bói Cá kệch cỡm, phô trương (Dế
Mèn phiêu lưu ky). Chính sự quan sát tinh tế đã giúp tác giả lột tả được đặc
điểm các nhân vật một cách sâu sắc, nổi bật.
• Đặc sắc trong sư dụng ngôn ngữ
Trong các sáng tác của mình, Tô Hoài luôn có ý thức sử dụng lời ăn
tiếng nói hằng ngày của quần chúng lao động. Tuy nhiên, ông không mang
nguyên văn những lời nói của nhân dân vào trang viết mà lựa chọn, trau chuốt
ngôn ngữ mỗi khi đặt bút. Tô Hoài luôn tích cực trau dồi học hỏi ngôn ngữ
trong cuộc sống đời thường của nhân dân các vùng miền để có cách sử dụng
ngôn ngữ thích hợp khi viết về mỗi vùng đất, mỗi đối tượng, mỗi loại nhân
vật khác nhau. Mặt khác, ông còn sử dụng thành công những từ ngữ giàu hình
ảnh, từ địa phương,...
Hệ thống từ ngữ thông tục, thành ngữ, quán ngữ,... được sử dụng khéo
léo, giọng điệu suồng sã, dí dỏm, tự nhiên,... Tất cả đã giúp sáng tác của Tô
Hoài vừa gần gũi, mang hơi thở cuộc sống bình dị, vừa sinh động, kỳ thú.
1.1.2.3. Các tác phẩm chính
Trước cách mạng:
Dế Mèn phiêu lưu kí (truyện – 1941), Quê người (truyện dài – 1941), O
chuột (tập truyện ngắn – 1942), Nhà nghèo (tập truyện ngắn – 1942), Cỏ dại
(hồi kí – 1944).
Sau cách mạng:
Núi cứu quốc (tập truyện – 1948), Ngược sông Thao (phóng sự – 1949),
Xuống làng (tập truyện – 1950), Truyện Tây Bắc (tập truyện – 1953), Khác
trước (tập truyện – 1957), Mười năm (tiểu thuyết – 1958), Thành phố Lê-nin
tả chân thật và sinh động. Đó là cuộc sống cùng quẫn bế tắc của những kiếp
người nghèo khổ, lang thang, phiêu bạt nơi đất khách quê người, những người
thợ thủ công bị phá sản,... Tô Hoài đã bày tỏ khát vọng thoát khỏi cảnh bế tắc
và tin tưởng vào tương lai tốt đẹp.
11
Sau cách mạng
Tô Hoài có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng và sáng tác, thể hiện
rõ ở cả chủ đề và đề tài. Ông đã hướng đến một không gian rộng lớn hơn, đến
với cuộc sống của nhiều lớp người, nhiều vùng đất khác nhau, nổi bật nhất là
miền núi Tây Bắc.
Bên cạnh những thành công ở các mảng truyện ngắn, tiểu thuyết,
ký,...Tô Hoài còn tiếp tục viết khá nhiều tác phẩm cho thiếu nhi như : Con
mèo lười, Vừ A Dính, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chư,… Ở mảng sáng
tác này, ngay cả khi tuổi tác không còn trẻ Tô Hoài vẫn có được cách cảm
nhận và thể hiện đời sống qua trang văn phù hợp với tâm hồn, nhận thức của
tuổi thơ, để cùng các em đến với một thế giới biết bao kỳ thú.
1.1.3. Sáng tác cho thiếu nhi của Tô Hoài
Tô Hoài là một trong số ít nhà văn dành sự ưu ái đặc biệt đến đọc giả
thiếu nhi. Ông viết nhiều loại truyện, nhiều đề tài, cho nhiều lứa tuổi. Sáng tác
cho thiếu nhi của Tô Hoài trải dài theo sự nghiệp văn chương của ông. Nhân
vật của tác phẩm chủ yếu xoay quanh ba đối tượng: Loài vật, những tấm
gương thiếu nhi yêu nước và từ những câu chuyện trong truyền thuyết, dã sử.
Truyện loài vật của Tô Hoài dành cho thiếu nhi chủ yếu được viết dưới
hình thức đồng thoại, mang một sắc thái riêng, phù hợp với tâm lý, nhận thức
của trẻ. Những bài học tình cảm, nhận thức được các em đón nhận một cách
nhẹ nhàng.
Trước cách mạng, truyện viết về loài vật của Tô Hoài thực chất là
hoạt của con người. Truyện đồng thoại thường gắn gọn, vui tươi, dí dỏm, có
nhiều yếu tố bất ngờ, thú vị.
1.2.1. Nguồn gốc khái niệm
Theo Hoàng Vân Sinh, “từ đồng thoại ở Trung văn được du nhập từ
Nhật Bản, xuất hiện ở Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh” [17, tr.1].
Ở Nhật, những truyện kể cho trẻ em được gọi là Dowa, dịch sang Hán
ngữ là “đồng thoại”.
Ban đầu, đồng thoại được hiểu theo nghĩa rộng, gồm tất cả mọi tác
phẩm có tính kể chuyện cho trẻ em. Về sau, đồng thoại được hiểu “là văn học
huyễn tưởng có tính đặc thù, trở thành một thể loại độc lập” [Hoàng Vân
13
Sinh, 2001, Nhi đồng văn học khái luận, tr.1], có địa vị quan trọng trong văn
học nhi đồng.
Theo lí thuyết Trung Hoa, đồng thoại nảy sinh từ trong dân gian
và được tiếp nối trong thời hiện đại. Do vậy, kho tàng đồng thoại Trung Hoa
gồm có đồng thoại dân gian và đồng thoại hiện đại. Đồng thoại dân gian là
những sáng tác của quần chúng nhân dân, phản ánh những yêu cầu bức thiết
của nhân dân muốn thoát khỏi ách bóc lột, mong ước về tự do, hạnh phúc.
Đồng thoại hiện đại là những sáng tác của các nhà văn dựa trên cơ sở của
đồng thoại dân gian, hoặc là chất liệu, hoặc là nguyên tắc nghệ thuật.
Có thể nhận thấy, trong cách hiểu của người Trung Hoa, đồng thoại
thực chất là truyện cổ tích.
1.2.2. Khái niệm truyện đồng thoại ở Việt Nam
Danh từ đồng thoại xuất hiện trong Việt ngữ được ghi nhận lần đầu
tiên bởi công trình Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh (Quan Hải tùng thư
xuất bản, 1932).
Theo kết quả khảo sát, hầu hết các bộ Từ điển Hán – Việt, Từ điển
em, sư dụng loài vật, đồ vật và các vật vô tri được nhân cách hóa làm nhân
vật chính, có quan hệ gần gũi với nhiêu thể loại, nhất là cổ tích và ngụ ngôn.
1.2.3. Đặc điểm thể loại của đồng thoại
Nói về đặc điểm của truyện đồng thoại không thể không nói tới các yếu
tố sau đây:
Thứ nhất, thế giới nhân vật của đồng thoại đa số được chọn lọc chủ yếu
từ thế giới loài vật. Nhìn lại kho tàng truyện đồng thoại, có thể dễ nhận thấy
trong đó nhân vật cũng có khi là con người nhưng chủ yếu vẫn là các loài vật
quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống được gán tính cách con người: Dế Mèn
phiêu lưu ky, Đám cưới chuột, Dê và Lợn, Trê và Cóc, Võ sĩ Bọ Ngựa,... (Tô
Hoài), Bài học tốt, Trong một hồ nước, Những chiếc áo ấm,... (Võ Quảng),
Cô Bê 20 (Văn Biển), Chuyện chú trống choai (Hải Hồ),...
Thứ hai, sự hư cấu, tưởng tượng bay bổng kỳ diệu là đặc trưng của
đồng thoại. Thế giới đồng thoại được dệt lên từ những tưởng tượng nhưng
15
tuyệt không xa rời thực tế. Chính những sự việc, tình huống có thực cuộc
sống là cái nền, là cơ sở hình thành những liên tưởng thú vị, độc đáo.
Thứ ba, nhân hóa là đặc điểm không thể thiếu của truyện đồng thoại.
Loài vật trong truyện đồng thoại được gán cho tính cách như con người phù
hợp đặc điểm thực của mỗi loài vật trong cuộc sống. Qua tấm gương các
nhân vật đó mà trẻ cảm nhận và phân biệt được điều gì đúng, điều gì sai, việc
nên làm và không nên làm. Nghệ thuật nhân hóa đã giúp truyện đồng thoại
mang đậm ý nghĩa nhân sinh.
1.2.4. Truyện đồng thoại trong sáng tác của Tô Hoài
Đồng thoại là mảng truyện vô cùng phong phú trong các sáng tác của
Tô Hoài.
chương trong ông chưa bao giờ vơi cạn. Ông đã sáng tác không ngừng nghi,
để lại cho kho tàng văn học dân tộc một khối lượng tác phẩm đồ sộ.
Tô Hoài là một trong những nhà văn tâm huyết với sáng tác văn học
nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng; là người mở đầu cho sự hình thành,
phát triển thể loại truyện đồng thoại ở Việt Nam. Và cho đến nay, ông vẫn
sáng tác bền bi, khó có nhà văn nào viết truyện đồng thoại thành công hơn Tô
Hoài. Với những cống hiến của mình, Tô Hoài xứng đáng nhận được lòng tin
yêu, ngưỡng mộ của thế hệ hôm nay và mai sau.
17
CHƯƠNG 2
TRUYỆN ĐỒNG THOẠI CỦA TÔ HOÀI
NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Nếu ở giai đoạn trước cách mạng, Tô Hoài đã sáng tác Dế mèn phiêu
lưu ky khiến cả trẻ em và người lớn đều say mê thì từ sau Cách mạng Tháng
Tám 1945, trong dòng phát triển chung rất mạnh mẽ của văn học thiếu nhi nói
chung và mảng truyện đồng thoại nói riêng, Tô Hoài tiếp nối thành tựu đã có
ở giai đoạn trước, cho ra đời hàng loạt tác phẩm đồng thoại đa dạng về đề tài.
Tô Hoài nói truyện loài vật nhưng “xét đến cùng lại vẫn là hình ảnh phản
chiếu thế giới loài người”.
Có thể thấy, nổi bật trong tập truyện là những truyện đồng thoại nói về
tình cảm bạn bè, tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, những truyện
có nội dung giải thích các hiện tượng tự nhiên, mở rộng nhận thức, giáo dục
trẻ những bài học vê đạo đức, lối sống,...
2.1. Tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước
Trước hết, đề tài này được thể hiện qua việc ca ngợi vẻ đẹp của quê
hương đất nước, vẻ đẹp con người trong thời kỳ đổi mới.
vào buổi tối được tác giả giải thích: Ánh sáng đèn điện của nhà máy đã làm gà
19