TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
ĐỖ THỊ THU HẰNG
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN
THỂ CHẤT CỦA TRẺ EM 5 6 TUỔI
TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ PHÚC YÊN VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Người hướng dẫn khoa học
TS. LÊ TRƯỜNG SƠN CHẤN HẢI
HÀ NỘI 2014
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương
1.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài
1.1.1. Vị trí, vai trò của GDMN trong hệ thống quốc dân
1.1.2. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về GDMN
1.1.3. Hệ thống giáo dục mầm non
1.2. Đặc điểm GDMN
1.3.2. Tổ chức GDTC cho trẻ em 5 6 tuổi trường mầm non trên địa bàn
Thị xã Phúc Yên Vĩnh Phúc
1.4. Lịch sử vấn đề nghiên cứu đề tài
Chương
2.
NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP, TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2. Các phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
2.3.1. Thời gian nghiên cứu
2.3.2. Đối tượng nghiên cứu
2.3.3. Địa điểm nghiên cứu
Chương
3.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đánh giá thực trạng năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 6 tuổi
trường mầm non Hoa Hồng Phúc Yên Vĩnh Phúc
3.1.1. Thực trạng tổ chức hoạt động GDTC của trường mầm non Hoa
Hồng Phúc Yên Vĩnh Phúc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Số bảng
TÊN BẢNG
biểu
Bảng 1.1
Tran
g
15
Bảng 1.6
Nội dung tập luyện các kỹ năng vận động cơ bản và phát
17
triển các tố chất trong vận động cho trẻ 5 6 tuổi
Bảng 3.1
Thực trạng đội ngũ GV trường mầm non Hoa Hồng Phúc
31
Yên Vĩnh Phúc
Bảng 3.2
Kết quả phỏng vấn GV về lựa chọn một số TCVĐ nhằm
38
nâng cao năng lực phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo lớn
(n =25)
Bảng 3.3
Kế hoạch giảng dạy TCVĐ nhằm nâng cao năng lực phát
triển thể chất cho trẻ 5 6 tuổi trường mầm non Hoa
Hồng
: Đại học Sư phạm.
GD&ĐT
: Giáo dục và đào tạo.
GDMN
: Giáo dục mầm non.
GDTC
: Giáo dục thể chất.
GV
: Giáo viên.
GVMN
: Giáo viên mầm non.
RLTT
: Rèn luyện thân thể.
TCVĐ
: Trò chơi vận động.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Một quốc gia có nền giáo dục phát triển là một quốc gia có nền kinh tế
phát triển hết sức hùng mạnh. Vì vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự
phát triển, đảm bảo xây dựng một thế hệ kế tiếp có đầy đủ những phẩm chất
về tri thức, năng lực, trình độ để phục vụ cho đất nước. Tại đại hội Đảng khóa
IX đã xác định:
“Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo
dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người”
[9]. Vì vậy hiện nay giáo dục đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã
hội đặc biệt là GDMN.
con người và của toàn xã hội. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân
dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp
xy dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu
của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện
bản chất tốt đẹp”
[11].
Do đó, GDTC cho trẻ em ở nước ta cần được tiến
hành một cách mạnh mẽ, toàn diện, cần được sự quan tâm của toàn xã hội, tạo
điều kiện cho trẻ được phát triển tốt nhất.
Đối với trẻ mầm non, khả năng tự nhận thức của trẻ còn hạn chế, do đó
cần hình thành ở trẻ những nhu cầu, thói quen đến việc thực hiện bài tập thể
chất hàng ngày, giáo dục lòng yêu thích rèn luyện thể dục sự hứng thú đến
việc luyện tập điều này sẽ giải quyết được những nhiệm vụ giáo dục trí tuệ,
đạo đức, thẩm mỹ và lao động cho trẻ mầm non sẽ tạo ra những điều kiện
thuận lợi cho sự hoạt động của hệ thần kinh, cơ xương, giúp cho các quá trình
tâm lý như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy như quan sát, so sánh, tổng hợp,
khái quát. Ngoài ra còn củng cố ở trẻ những kiến thức không chỉ liên quan
đến GDTC, mà còn thu nhận được những kiến thức về sự vật, hiện tượng
xung quanh, những hiện tượng thiên nhiên và xã hội.
Cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc, mất cân đối nên trẻ rất
dễ bị ảnh hưởng bởi những tác động của môi trường sống nếu không được
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài
1.1.1. Vị trí, vai trò của GDMN trong hệ thống quốc dân
1.1.1.1. Giáo dục mầm non
GDMN thực hiên việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba
tháng tuổi đến sáu tuổi.
GDMN gồm hai giai đoạn:
Trẻ ba tháng tuổi đến ba tuổi (nhà trẻ).
Trẻ từ ba tuổi đến sáu tuổi (trường mầm non).
1.1.1.2. Mục tiêu của GDMN
Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí
tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho
trẻ vào học lớp một.
tâm sinh lí của học sinh bậc học mầm non và bậc học phổ thông…” [8].
Tư tưởng của Đảng và của Nhà nước về GDMN cũng được thể hiện rõ
trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đó là “… Đổi mới mạnh
mẽ GDMN và giáo dục phổ thông. Khẩn trương điều chỉnh, khắc phục tình
trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa
phổ thông bảo đảm tính khoa học, cơ bản, phù hợp tâm lý lứa tuổi và điều
kiện cụ thể của Việt Nam…”, “… Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay
sang mô hình giáo dục mở mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt
đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học. Phát triển giáo
dục mầm non, giáo dục phổ thông và hệ thống hướng nghiệp, dạy nghề…”
[10].
Quan điểm chiến lược về GD&ĐT đến 2020 là thực hiện mục tiêu giáo
dục toàn diện ở tất cả các bậc học đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định: Ở mọi bậc
học, cấp học, ngành học nhất thiết không thể coi nhẹ việc chăm sóc, bảo vệ
sức khỏe cho học sinh, tạo mọi điều kiện cho các em được rèn luyện thông
qua các hoạt động, đặc biệt là hoạt động TDTT, để bản thân các em luôn có
trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội [3].
Nhà nước coi GDMN là một bậc học cần thiết và bắt buộc phải có
trong hệ thống giáo dục. Từ chỉ thị 53/CP của Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 12
tháng 8 năm 1966 đã xác định mục tiêu của GDMN “Giáo dục mầm non tốt
sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt”. Trong Nghị quyết số 14 NQ/TW ngày
Trường
2009201
20102011 20112012 2012201
0
3
11.629
12.190
12.357
12.980
13.172
13.548
Nhà trẻ
58
43
41
10.584
10.707
(cả nước)
Theo số liệu thống kê ở bảng 1.1 cho thấy số trường mầm non trong cả
nước tăng dần theo từng năm, năm học 2007 2008 cả nước có 8.732 trường
đến năm học 2012 2013 cả nước đã có 10.707 trường. Điều đó cho thấy
trong những năm gần đây việc đầu tư cho GDMN đang được Đảng và Nhà
nước ta hết sức quan tâm. Đặc biệt các hệ thống trường lớp mầm non đang
được xây dựng và sửa chữa. Các trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc
giáo dục trẻ cũng đang từng bước được bổ sung và hiện đại hóa cho phù hợp
với yêu cầu giáo dục.
Bảng 1.2: Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trẻ
trong những năm gần đây (Nguồn tổng cục thống kê).
Năm
Trẻ em
(cả nước)
Nhà trẻ
2007200
2008200
2009201
597.274
3.320.328
3.551.082
Quy mô của GDMN ngày càng tăng thu hút hầu hết các cháu trong độ
tuổi mầm non đến trường. Theo số liệu thống kê ở bảng 1.2 cho thấy số trẻ
mầm non trong cả nước tăng dần theo từng năm, năm học 2007 2008 ở nhà
trẻ cả nước có 508.694 trẻ đến năm học 2012 2013 cả nước đã có 597.274
trẻ. Đối với trẻ mẫu giáo năm học 2007 2008 cả nước có 2.687.037 trẻ đến
năm học 2012 2013 cả nước đã có 3. 551.082 trẻ.
Bảng 1.3: Bảng số liệu “Giáo giáo dục mầm non” thống kê về số
GVMN trong những năm gần đây (Nguồn tổng cục thống kê).
Năm
20072008 2008200
9
Giáo viên
2009201
56.302
Mẫu giáo
128.838
138.058
146.596
158.981
174.009
188.176
(cả nước)
Hệ thống các trường khoa sư phạm mầm non trong những năm gần đây
đang từng bước được kiện toàn cho phù hợp với yêu cầu của nền giáo dục hội
nhập. Các chính sách chế độ cho GVMN cũng đang có sự quan tâm thích
đáng của Đảng và Nhà nước. Theo số liệu thống kê ở bảng 1.3 cho thấy số
GVMN cả nước tăng dần theo từng năm học 2007 2008 ở nhà trẻ cả nước có
44.140 GV đến năm học 2012 2013 cả nước đã có 56.302 GV, ở mẫu giáo
năm học 2007 2008 cả nước có 128.838 GV đến năm học 2012 2013 cả
nước đã có 188.176 GV.
Người lớn phải thực hiện mẫu mực tất cả những yêu cầu văn hóa vệ
sinh trước trẻ và nhắc nhở trẻ làm như người lớn.
Phối hợp với gia đình để tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được vận
dụng, củng cố những kỹ năng đó ở gia đình để nhanh chóng hình thành nhu
cầu thói quen văn hóa vệ sinh.
1.2.2.
Tổ chức cho trẻ ăn
Ăn uống là một nhu cầu không thể thiếu được đối với mỗi con người.
Để giúp cơ thể phát triển tốt, đảm bảo sự phát triển bình thường của các cơ
quan và hệ cơ quan trong cơ thể cần tổ chức chế độ ăn uống hợp lý cho trẻ.
Hàng ngày, cần cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng và đặc biệt phải đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm cho trẻ.
Chế độ ăn uống hợp lí được xây dựng trên cơ sở mức năng lượng cần
thiết ở độ tuổi (quy ra calo) sự kết hợp các thành phần thức ăn theo cấu tạo
các thành phần hóa học (protit, lipit, glucid, muối khoáng và vitamin) sự đa
dạng của các loại thức ăn và cách nấu nướng.
Để tổ chức bữa ăn cho trẻ tốt cần thực hiện đầy đủ các yêu cầu sau:
Phòng ăn sạch sẽ, thoáng mát. Bàn ghế sắp xếp thuận tiện cho trẻ ngồi
xuống và đứng lên.
Bàn ăn, bát đĩa phù hợp với lứa tuổi và được xếp đặt có thẩm mỹ.
+ Do trẻ được nuông chiều ở nhà, khi ăn bao giờ cũng quen dỗ dành.
Từ các nguyên nhân trên mà các nhà giáo dục đưa ra biện pháp khắc phục tích
cực nhất cho trẻ.
1.2.3. Tổ chức cho trẻ ngủ
Giấc ngủ của trẻ có ý nghĩa to lớn trong việc phục hồi khả năng làm
việc của các tế bào thần kinh. Một giấc ngủ sâu, đủ độ dài là phương tiện cơ
bản để ngăn ngừa tình trạng quá mệt mỏi của hệ thần kinh và cơ thể. Trẻ nhỏ
thường ngủ nhiều hơn người lớn bởi hệ thần kinh của trẻ còn yếu, dễ mệt mỏi.
Chính vì vậy, chúng ta cần tổ chức cho trẻ ngủ thật tốt để giúp trẻ khôi phục
lại trạng thái bình thường của các tế bào thần kinh nhằm củng cố và tăng
cường sức khoẻ cho trẻ.
Một phương tiện cơ bản để tạo ra nhu cầu cần ngủ ở trẻ một cách đúng
đắn là việc tạo ra một chế độ ngày đêm thích hợp với lứa tuổi và những đặc
điểm cá nhân trẻ. Muốn vậy cần tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho trẻ
ngủ nhanh, ngủ sâu vào những giờ giấc đã quy định cho giấc ngủ. Cụ thể:
Cần tạo ra trạng thái yên tĩnh cần thiết trước giờ ngủ, không có những
hoạt động kích thích mạnh hưng phấn cho trẻ, không làm ồn, không để ánh
sáng chói chiếu vào phòng ngủ, phòng ngủ không khí phải thoáng.
Cho trẻ ngủ đúng giờ tạo ra phản xạ có điều kiện thuận lợi cho việc
tiết học thể dục, dạo chơi, lao động.
Trong các TCVĐ, trong các tiết học thể dục, vận động khi đi dạo trẻ
được giáo dục nhiều phẩm chất quý giá: sự định hướng trong không gian,
nhanh nhẹn chính xác, vận động khéo léo, mở rộng quan hệ trong tập thể.
Sự phát triển vận động gắn chặt với sự phát triển toàn bộ cơ thể và tâm
lí của trẻ. Bởi vậy khi lập chương trình GDTC nhằm phát triển vận động cần
dựa trên những cơ sở sau:
Ưu tiên lựa chọn các bài tập, trò chơi hoạt động lao động có tác dụng
chung đến cơ thể và động viên nhiều cơ bắp tham gia.
Chọn các bài tập, trò chơi gây hứng thú và đồng thời đặt ra trước trẻ
một nhiệm vụ vừa sức.
Tăng cường các nhóm cơ bắp còn non yếu về mặt sinh lí và giáo dục
tư thế đúng.
Giáo dục kĩ năng vận động và vận động trong tập thể.
Các TCVĐ, trò chơi thể thao là hình thức hoạt động hấp dấn trẻ em và
các tác động giáo dục nhiều vận động cơ bản và sự phối hợp các vận động ấy.
Các TCVĐ rất phong phú và đa dạng được lựa chọn trong chương trình phù
hợp với từng độ tuổi. Với trẻ nhỏ trò chơi bao gồm các vận động đơn giản với
các luật chơi đơn giản. Với các trẻ lớn thì nội dung vận động và luật chơi
phức tạp hơn đòi hỏi các em phải hiểu điều kiện chơi, vận động chính xác và
đúng luật chơi.
Bài tập thể dục có tác dụng tốt đến hoạt động sinh lí cơ thể. Cơ bắp
Việc thực hiện chế độ sinh hoạt không nên quá cứng nhắc, với mỗi trẻ
cần có sự linh hoạt thích đáng. Có thể xê dịch thời gian biểu ở mức độ cần
thiết. Chẳng hạn, khi trẻ đang quá ham chơi và mệt mỏi, thì có thể kéo dài giờ
chơi chút ít, một trẻ cần ngủ sớm hay dậy sớm cũng được khi chúng có yêu
cầu.
Chế độ sinh hoạt của trẻ được chương trình chăm sóc giáo dục trẻ do
Bộ GD&ĐT ban hành được trình bày tại bảng 1.4.
Bảng 1.4: Bảng chế độ sinh hoạt của trẻ
Thời gian
T
T
1
MG
Nội dung
bé
MG nhỡ MG lớn
1h15
1h15
1h
2
5
Vệ sinh ăn trưa
1h
50ph
40ph
6
Ngủ trưa
2h50
2h50
2h40ph
7
Vệ sinh, vận động nhẹ, ăn quà chiều
50ph
40ph
30ph